Harold Pinter

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Harold Pinter
Harold Pinter, năm 2005
Sinh 10 tháng 10, 1930(1930-10-10)
Hackney, London
Mất 24 tháng 12, 2008 (78 tuổi)
London
Công việc Nhà viết kịch, Nhà thơ, Diễn viên, Đạo diễn
Quốc gia Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Anh
Vợ/chồng



www.haroldpinter.org

Harold Pinter (10 tháng 10 năm 1930 - 24 tháng 12 năm 2008) là một nhà viết kịchđạo diễn sân khấu người Anh, đã đoạt Giải quốc gia Áo cho Văn học châu Âu năm 1972, giải Franz Kafka năm 2005 và được tặng Giải Nobel Văn học năm 2005.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Harold Pinter từ nhỏ đã đóng kịch ở trường học. Năm 1948 vào học trường Kịch nghệ Hoàng gia (Royal Academy of Dramatic Art) nhưng không tốt nghiệp. Năm 1950 in những bài thơ đầu tiên (ông từng làm thơ, viết văn nhưng sau khi dựng vở kịch đầu tiên thì quyết định trở thành nhà viết kịch). Vở kịch một màn đầu tiên The Room (Căn phòng) được dàn dựng ở Đại học Bristol. Trong những năm này Harold Pinter diễn kịch lấy nghệ danh là David Baron. Năm 1960 viết vở kịch The Caretaker (Người trông nhà) cho cả nước Anh thấy rằng đã có một nhà viết kịch tài năng xuất hiện. Nửa đầu thập niên 1960 Pinter viết nhiều vở kịch nổi tiếng như: The Collection (Bộ sưu tập, 1961); The Lover (Người tình, 1962); Tea Party (Hội uống trà, 1964); The Homecoming (Đi về nhà, 1965)... Những vở kịch sau này được dàn dựng thường xuyên có thể kể đến: No Man's Land (Miền đất không của người nào, 1974); The Betrayal (Sự phản bội, 1978); Mountain Language (Ngôn ngữ của núi rừng, 1988)...

Pinter tiếp tục phân tích những góc bí ẩn trong lòng người không chỉ bằng kịch mà cả điện ảnh. Ông viết kịch bản cho các bộ phim: The Servant (Người đầy tớ, 1963); The Accident (Sự rủi ro, 1967); The Go-Between (Người môi giới, 1970)... Bảng kịch bản phim của ông dựa vào tiểu thuyết The Last Tycoon (Trùm tư bản cuối cùng) của nhà văn F. Scott Fitzgerald được quay thành bộ phim nổi tiếng. Tiểu thuyết The French Lieutenant's Woman (Người tình của viên trung uý Pháp) của nhà văn John Fowles cũng là bộ phim nổi tiếng với kịch bản của Pinter. Tiểu thuyết Der Prozess (Vụ án) của Franz Kafka cũng là một trường hợp tương tự... Nhiều vở kịch của mình được ông chuyển thành kịch bản phim và ông cũng là một diễn viên điện ảnh. Harold Pinter nhận được rất nhiều giải thưởng các loại, trong số đó có "Giải thưởng Shakespeare", "Giải thưởng châu Âu", "Giải thưởng Pirandello"... tất cả gần hai chục giải thưởng.

Ngoài hoạt động nghệ thuật ông còn là một nhà hoạt động chính trị. Từ đầu thập niên 1970 Pinter đã tích cực tham gia vào phong trào nhân quyền. Năm 1985, theo sáng kiến của Hội văn bút Quốc tế (International PEN) Harold Pinter cùng nhà soạn kịch người Mỹ Arthur Miller (chồng cũ của nữ diễn viên điện ảnh huyền thoại Marilyn Monroe) sang Thổ Nhĩ Kỳ để tìm hiểu chuyện đàn áp các nhà văn ở nước này. Khi đại sứ Mỹ tại Thổ Nhĩ Kỳ giải thích rằng trong tình hình quốc tế hiện tại chính phủ Mỹ không thể không ủng hộ chính quyền ở đây, ngay cả việc đàn áp đối với một số nhà văn... thì Pinter và Miller đã lớn tiếng và chửi ông đại sứ[cần dẫn nguồn]. Cả hai nhà viết kịch đã tự ý rời khỏi đại sứ quán sau đó. Sau này Pinter viết rằng đấy là một sự kiện sâu sắc nhất trong tiểu sử của mình mà ông sẽ tự hào cho đến hết đời. Ông cũng là người mạnh mẽ tố cáo việc NATO ném bom Serbia và kiên quyết phản đối Anh-Mỹ trong chiến tranh ở AfghanistanIraq. Năm 2003 ông xuất bản tập thơ War (Chiến tranh) về Iraq được tặng giải thưởng Wilfred Owen.

Tháng 3 năm 2005 trong một cuộc phỏng vấn của hãng truyền hình BBC, Harold Pinter tuyên bố rằng từ nay ông thôi viết kịch để tập trung sức cho việc làm thơ và chính trị vì ông "cảm thấy không yên tâm với tình hình hiện nay". "Tôi đã viết 29 vở kịch. Các bạn cho rằng vậy đã đủ chưa? Tôi cho là đủ. Tôi đã tìm thấy cho mình những hình thức khác"[1].

Hội đồng Nobel đã quyết định trao Giải Nobel Văn học cho nhà viết kịch, nhà thơ Anh, Harold Pinter – tác giả của nhiều vở kịch nổi tiếng, đồng thời là người nổi tiếng với những quan điểm phản đối chiến tranh ở Nam Tư, Afghanistan, Iraq. Thông cáo báo chí của Viện Hàn lâm Thụy Điển nói rằng trong tác phẩm của mình, Pinter đã "mở ra những vực thẳm được che đậy sau những câu chuyện ba hoa, trống rỗng thường ngày và thâm nhập vào những không gian biệt lập của sự áp bức". Harold Pinter được coi là nhà viết kịch lớn nhất của nước Anh hiện tại, tên ông mang lại một khái niệm văn học "phong cách Pinter" (Pinteresque), thể hiện một phong cách kịch nghệ đặc thù.

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

  • The Room (Căn phòng, 1957), kịch
  • The Dumb Waiter (Người hầu bàn câm lặng, 1957), kịch
  • The Birthday Party (Tiệc sinh nhật, 1958), kịch
  • The Hothouse (Nhà kính, 1958), kịch
  • A Slight Ache (Nỗi đau nhẹ nhàng, 1959), kịch
  • The Caretaker (Người trông nhà, 1960), kịch
  • The Dwarfs (Những chú lùn, 1960), kịch
  • The Collection (Bộ sưu tập, 1962), kịch
  • The Lover (Người tình, 1963), kịch
  • Tea Party (Hội uống trà, 1964), kịch
  • The Homecoming' (Đi về nhà, 1965), kịch
  • Basement (Tầng hầm, 1966), kịch
  • Landscape (Phong cảnh, 1968), kịch
  • Silence (Im lặng, 1968), kịch
  • Night (Đêm, 1969), kịch
  • Monologue (Kịch một vai, 1972), kịch
  • Betrayal (Sự phản bội, 1978), kịch
  • Old Times (Thời xưa, 1971), kịch
  • No Man's Land (Miền đất không của người nào, 1975), kịch
  • Other Places (Những chỗ khác, 1982), kịch
  • The New World Order (Trật tự thế giới mới, 1991), kịch
  • ’’Ngôn ngữ của núi rừng (Mountain Language, 1988), kịch
  • ’’Ánh trăng (Moonlight, 1993), kịch
  • ’’Lễ kỉ niệm (Celebration, 1999), kịch
  • ’’Hoài niệm về quá khứ (Remembrance of Things Past, 2000), kịch
  • ’’Người đầy tớ (The Servant, 1963), kịch bản phim
  • ’’Người ăn bí ngô (The Pumpkin Eater, 1964), kịch bản phim
  • ’’Bản ghi nhớ Quiller (The Quiller Memorandum, 1965), kịch bản phim
  • ’’Sự rủi ro (Accident, 1967), kịch bản phim
  • ’’Người môi giới (The Go-Between, 1970), kịch bản phim
  • Người tình của viên trung uý Pháp (The French Lieutenant's Woman, 1981), kịch bản phim
  • ’’Trùm tư bản cuối cùng (The Last Tycoon, 1976), kịch bản phim
  • ’’Chiến thắng (Victory, 1982), kịch bản phim
  • ’’Câu chuyện của cô người hầu (The Handmaid’s Tale, 1987), kịch bản phim
  • ’’Đoàn viên (Reunion, 1988), kịch bản phim
  • The Trial (Vụ án, 1991), kịch bản phim
  • The Tragedy of King Lear (Bi kịch của vua Lear, 2000), kịch bản phim
  • ’’Thơ và văn xuôi (Poems and Prose 1949-1977, 1978), thơ, văn xuôi
  • ’’Những chú lùn (The Dwarfs: A Novel, 1990), tiểu thuyết
  • ’’Những tiếng nói khác nhau: Thơ, Văn, Chính trị 1948-1998 (Various Voices: Poetry, Prose, Politics, 1948-1998, 1998), thơ, văn xuôi
  • ’’Chiến tranh (War), thơ

Một số bài thơ[sửa | sửa mã nguồn]

Poem
 
The lights glow.
What will happen next?
 
Night has fallen.
The rain stops.
What will happen next?
 
Night will deepen.
He does not know
What I will say to him.
 
When he has gone
I'll have a word in his ear
And say what I was about to say
At the meeting about to happen
Which has now taken place.
 
But he said nothing
At the meeting about to take place.
It is only now that he turns and smiles
And whispers:
'I do not know
What will happen next.'
 
Death
 
Where was the body found?
Who found the dead body?
Was the dead body dead when found?
How was the dead body found?
 
Who was the dead body?
 
Who was the father or daughter or brother
Or uncle or sister or mother or son
Of the dead and abandoned body?
 
Was the body dead when abandoned?
Was the body abandoned?
By whom had it been abandoned?
 
Was the dead body naked or dressed for a journey?
 
What made you declare the dead body dead?
Did you declare the dead body dead?
How well did you know the dead body?
How did you know the body was dead?
 
Did you wash the dead body
Did you close both its eyes
Did you bury the body
Did you leave it abandoned
Did you kiss the dead body
 
A Walk by Waiting
 
A walk by listening.
A walk by waiting.
 
Wait under the listening
Winter, walk by the glass.
 
Rest by the glass of waiting.
Walk by the season of voices.
 
Number the winter of flowers.
Walk by the season of voices.
 
Wait by the voiceless glass.
 
Ghost
 
I felt soft fingers at my throat
It seemed someone was strangling me
 
The lips were hard as they were sweet
It seemed someone was kissing me
 
My vital bones about to crack
I gaped into another's eyes
 
I saw it was a face I knew
A face as sweet as it was grim
 
It did not smile it did not week
Its eyes were wide and white its skin
 
I did not smile I did not weep
I raised my hand touched its cheek.
 
God
 
God looked into his secret heart
to find a word
To bless the living throng below.
 
But look and look as he might do
And begging ghosts to live again
But hearing no song in that room
He found with harshly burning pain
He had no blessing to bestow.
 
You in the Night
 
You in the night should hear
The thunder and the walking air.
You on that shore shall bear
Where mastering weathers are.
 
All that honoured hope
Shall fail upon the slate
And break the winter down
That clamours at your feet.
 
Though the enamouring altars burn,
And the deliberate sun
Make the eagle bark,
You’ll tread the tightrope.
Thơ
 
Đèn chiếu sáng
Điều gì sắp xảy ra đây?
 
Màn đêm buông rồi.
Cơn mưa đã tạnh.
Điều gì sắp xảy ra đây?
 
Màn đêm càng dày
Hắn không biết được
Tôi sẽ nói gì với hắn đây.
 
Chỉ khi hắn đi rồi
Tôi mới tìm ra những lời
Và nói những gì tôi sắp nói
Trong cái lần gặp nhau sắp tới
Mà bây giờ đã diễn ra đây.
 
Nhưng hắn không nói một lời
Trong cái lần gặp nhau sắp tới
Chỉ bây giờ, mỉm cười khi ngoảnh lại
Và thầm thì:
"Tôi không biết
Điều gì sắp xảy ra".
 
Cái chết
 
Xác chết này được tìm thấy ở đâu?
Ai là người tìm thấy xác chết này?
Liệu có phải đã tìm ra xác chết?
Và người ta tìm thấy nó ra sao?
 
Xác chết này là của người nào?
 
Ai là cha, là anh trai, chị gái
Ai là mẹ, là con trai, con gái
Của xác chết này?
 
Liệu xác đã chết khi bị bỏ rơi
Mà chắc gì xác chết bị bỏ rơi?
Ai là người đã bỏ rơi xác chết?
 
Xác trần truồng hay xác mặc áo quan?
 
Điều gì buộc bạn nói xác lìa trần?
Bạn tuyên bố xác đã chết rồi chăng?
Liệu bạn có biết gì về xác chết?
Và làm sao bạn biết xác lìa trần?
 
Bạn có khâm liệm xác chết này không
Bạn có vuốt mắt cho nó hay không
Bạn có là người đã chôn xác chết
Bạn có là người bỏ rơi xác chết
Và bạn có hôn xác chết này không.
 
Vừa đi vừa đợi
 
Vừa đi vừa nghe
Vừa đi vừa đợi.
 
Đợi, nghe đông tới
Bước đi trên gương.
 
Đợi, nghỉ dưới gương
Bước theo giọng nói.
 
Đếm đông bằng hoa
Bước theo giọng nói.
 
Đợi dưới gương câm.
 
Ma
 
Tôi cảm thấy những ngón tay mềm nơi họng
Dường như có ai đang bóp nghẹt cổ tôi
 
Đôi môi ngọt ngào và khô cứng
Dường như có ai đó đã hôn tôi
 
Xương của tôi kêu răng rắc
Tôi rơi vào những con mắt của ai
 
Tôi nhìn ra gương mặt quen biết này
Gương mặt đẹp và lạ lùng đáng sợ
 
Nó không cười, cũng không rơi lệ
Đôi mắt to, làn da trắng rợn người
 
Tôi không khóc mà cũng chẳng cười
Tôi giơ tay chạm vào đôi má ấy.
 
Chúa Trời
 
Chúa Trời nhìn vào trái tim mình bí mật
Để tìm một lời ban ơn
Cho những con người sống trên mặt đất.
 
Nhưng Ngài nhìn sau nhìn trước
Ngài có thể làm sống lại những hồn ma
Nhưng trong phòng đã chẳng có bài ca
Ngài nhận ra với nỗi đau oan nghiệt
Ngài đã không có phước để mà ban.
 
Trong đêm em hãy nghe
 
Trong đêm em hãy nghe
Gió rầm rì và sấm.
Em ở nơi bờ bến
Nơi ngọn gió sinh ra.
 
Mọi hy vọng, ước mơ
Tan tành trên đá phiến
Và mùa đông đang xuống
Dưới bàn chân em kìa.
 
Những án thờ cháy như
Ông mặt trời đang bắt
Chim đại bàng gào to
Còn em – đi trên cáp.
Bản dịch của Hồ Thượng Tuy.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếng Việt
Tiếng Anh

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ See Lawson, "Pinter to 'give up writing plays'", BBC News 28 tháng 2 năm 2005, truy cập 19 tháng 6 năm 2007.