Pablo Neruda

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Pablo Neruda
Sinh 12 tháng 7 năm 1904
Parral, Chile
Mất 23 tháng 9, 1973 (69 tuổi)
Santiago, Chile
Công việc Nhà thơ, Nhà ngoại giao

Pablo Neruda (12 tháng 7 năm 1904 - 23 tháng 9 năm 1973) là bút danh của Neftali Ricardo Reyes y Basoalto, nhà thơ Chile đoạt giải Nobel Văn học năm 1971.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Pablo Neruda sinh tại thị trấn Parral, miền trung Chile. Ông học tiếng Pháp và giáo dục học, rồi dạy tiếng Pháp, làm nhà ngoại giao, đi rất nhiều nơi trên thế giới; là một trong những nhân vật quan trọng trong chính quyền Chile và là đảng viên Đảng Cộng Sản Chile[1]. Năm 1927 ông làm lãnh sự Chile ở Burma (nay là Myanma), năm 1932 ở Argentina, năm 1934 ở Tây Ban Nha. Năm 1945 được bầu vào Thượng nghị viện, nhưng mấy năm sau bị buộc tội phản quốc và phải trốn sang Mexico vì đã công khai phê phán chính phủ đương nhiệm. Năm 1970 ông về nước ra tranh cử tổng thống, là bạn và người ủng hộ nhiệt thành của tổng thống Salvador Allende.

Pablo Neruda bắt đầu sự nghiệp văn chương từ rất sớm; hai mươi tuổi ông xuất bản tập thơ Viente poemas de amor y una canciún desesperada (Hai mươi bài thơ tình và một bài thơ tuyệt vọng), tập thơ bán chạy nhất ở Chile, làm cho ông trở thành một trong những nhà thơ trẻ nổi danh nhất ở Mỹ Latinh. Tập thơ Canto general (Bài ca chung), gồm 340 bài thơ, được coi là kiệt tác đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tác của ông. Neruda đã đi từ trường phái biểu tượng sang siêu thực và cuối cùng trở thành hiện thực. Là một nhà thơ nhập cuộc, nhà thơ chiến đấu, ảnh hưởng của thơ ông đối với các dân tộc nói tiếng Tây Ban Nha là rất lớn. Năm 1971 ông được trao giải Nobel vì những lời thơ phản kháng vang khắp thế giới, có một trí tưởng tượng mãnh liệt và chất trữ tình tế nhị. Neruda là nhà nghệ sĩ cách mạng đấu tranh cho phong trào giải phóng dân tộc ở Mỹ Latinh và hòa bình thế giới, là tác giả của những kiệt tác thơ tình cuồng nhiệt, những áng thơ triết lý sâu sắc và của cả những bản tụng ca những điều giản dị, đời thường. Ông được coi là một trong những nhà thơ hàng đầu của thế kỉ 20. Thơ ông được dịch nhiều và được yêu thích ở Việt Nam. Neruda mất tại thủ đô Santiago.

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

  • La cancion de la fiesta (Bài ca ngày hội, 1921), thơ
  • Crepusculario (Hoàng hôn, 1923), thơ
  • Viente poemas de amor y una canciún desesperada (Hai mươi bài thơ tình và một bài thơ tuyệt vọng, 1924), thơ
  • Tentativa del hombre in finito (Sự mạo hiểm của con người bất tử, 1926), thơ
  • Residencia en la tierra (Trú ngụ trên trái đất, tập 1, 1933, tập 2, 1935), thơ
  • Espana en el corazon (Tây Ban Nha trong tim, 1937), thơ
  • Canto Stalingrado (Bài ca Stalingrad, 1942), thơ
  • Canto general de Chile (Bài ca chung của Chile, 1939), chùm thơ sử thi
  • Canto general (Bài ca chung, 1950), thơ
  • La uvas y el viento (Chùm nho và những ngọn gió, 1954), thơ
  • Odas elementales (Bài ca khởi thủy, 1954_1959), thơ, 3 tập
  • Canción de gesta (Bài ca chiến công, 1960), thơ
  • Navegaciones y regresos (Đi biển và trở về, 1959), thơ
  • Cien sonetos de amur (Một trăm bài sonnnê tình yêu, 1960), thơ
  • Les piedras de Chile (Những viên ngọc Chile, 1960), thơ
  • Cantos ceremoniales (Những bài ca nghi lễ, 1961), thơ
  • Memorial de Isla Negra (Đài kỉ niệm Đảo Negra, 1964), thơ
  • El mar y las campanas (Biển cả và tiếng chuông, 1973), thơ
  • El corazon amarillo (Trái tim vàng, 1974), thơ

Một số bài thơ[sửa | sửa mã nguồn]

Ở Việt Nam
 
Ai đã gây nên chiến tranh?
Từ ngày hôm kia tôi đã nghe thấy nó.
 
Và tôi sợ.
 
Chiến tranh vang rền
tựa như đá ném vào tường
như tiếng sấm cùng với máu
như đang chết dần cả núi non.
 
Thế giới này
tạo ra không phải tôi.
Và không phải bạn.
Thế giới có từ xưa rồi.
Ai đe dọa cuộc đời móng nhọn?
Ai kề dao bên cổ cuộc đời?
Thế giới này chỉ sinh ra, có phải?
Còn ai đi chém giết vì điều này?
người đi xe đạp vô cùng sợ hãi
và vị kiến trúc sư.
 
Người mẹ nuôi đứa con thơ
trong đất bùn ẩn giấu
người mẹ ngủ trong hang
còn chiến tranh lan tràn
bằng lửa cháy
và những người chết ở đấy
là người mẹ cùng với đứa con.
 
Họ đã chết trong bùn.
 
Ôi đau thương!
và kế từ dạo ấy
đến bây giờ họ vẫn sống trong bùn.
Họ bắn súng và hát lên. Lạy Chúa tôi
giá mà nói cho bạn biết điều này
trước khi sáng tạo ra thế giới
giá mà, dù chỉ là lời nói nhỏ bên tai
rằng những người thân yêu nhất của bạn trên đời
cần phải chết khổ đau như vậy
không bao giờ biết được tại vì đâu?!
Chính những kẻ giết người này
sẽ đến giết tôi và bạn
chính những kẻ giết người này
sẽ đến đây đốt bạn và tôi
những kẻ phiêu lưu mạo hiểm hay cười
những kẻ huyênh hoang, rối rắm
sẽ bay đến đây
hủy diệt thế giới này.
 
Chúng đã bỏ lại trên đồng
máu của mẹ, cha, của những đứa con
bạn hãy đi tìm trong đó
xương và máu của mình
lẫn trong bùn đất của Việt Nam.
Bạn hãy tìm giữa đống xương người lạ
bị thiêu cháy, bây giờ chẳng của riêng ai
của tất cả mọi người
của chúng ta – của tôi và bạn
bạn hãy đi tìm
trong cái chết này cái chết của mình
bởi những kẻ giết người rồi sẽ săn lùng bạn
mang đến cho bạn cái chết trong bùn.
Bản dịch của Nguyễn Viết Thắng
Bài thơ suông mừng đám cưới
 
Đôi mắt của em buồn vô hạn
tựa như hai thân thể rã rời.
Thế còn bao nỗi đau xót chưa nguôi
giấu trong bàn tay em đờ đẫn!
 
Ta gặp nhau. Anh cảm thấy nhiều hơn
trong cuộc đời của anh hơi ấm
từ đó mà em tin chắc chắn
rằng anh cũng buồn vô hạn, giống như em…
 
Chào!
 
Mỗi buổi sáng ta nói lời: Chào!
với mỗi người ta gặp
đấy là tấm danh thiếp
dù giả dối hay chân thật của ta
là tiếng chuông để tất cả nghe ra
ta ở đây – Chào! – nghĩa là ta có mặt
ta chào người này, kẻ khác
người có dao
kẻ cầm thuốc độc
Chào! - đấy là ta
ta như nhau nhưng không chịu đựng
ta yêu nhau, nhưng không giống
mỗi người có đam mê, công việc của mình
ta vui mừng được trở thành (hoặc không?)
cần biết bao nhiêu bàn tay xếp đặt
biết bao nhiêu bờ môi sắp xếp –
Chào!
thời gian còn quá ít
Chào!
có điều gì nhận biết –
Chào!
ta mải mê theo công việc
nếu có chút gì còn lại
chút gì còn lại sau ta
Chào!
 
Nữ hoàng
 
Anh gọi em là nữ hoàng
Thực ra là cao hơn em, cao hơn
Thực ra là thanh sạch hơn, sạch hơn
Thực ra là đẹp hơn em, đẹp hơn.
 
Nhưng nữ hoàng là em.
 
Khi em đi trên đường phố
Ai cũng ngước mắt nhìn
Không thấy vương miện pha lê trong
Và thảm bằng vàng tấm
Nhưng nơi em đặt bàn chân đến
Thảm ấy không cần.
 
Em cứ ngỡ rằng
Trong người anh
Mọi con sông trên đời đang hát
Và ở trên trời
Tiếng chuông gióng lên
Một bài ca bay trên mặt đất.
 
Nhưng chỉ em và anh
Chỉ anh và em, hai đứa
Có thể nghe ra bài hát này.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ http://tuoitre.vn/Van-hoa-Giai-tri/440825/Chile dieu-tra-lai-cai-chet-cua-nha-tho Pablo-Neruda.html