Vicente Aleixandre

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bước tới: menu, tìm kiếm
Vicente Aleixandre
Vicente Aleixandre
Huy chương giải Nobel

Vicente Aleixandre (tiếng Tây Ban Nha đầy đủ: Vicente Pablo Marcelino Cirilo Aleixandre y Merlo; 26 tháng 4 năm 1898 - 14 tháng 12 năm 1984) là một nhà thơ người Tây Ban Nha, đại diện của "thế hệ 27 tuổi", một hiện tượng của thơ ca Tây Ban Nha thế kỷ 20, đoạt giải Nobel Văn học năm 1977.

Mục lục

[sửa] Tiểu sử

Vicente Aleixandrelà con cả trong một gia đình kỹ sư xây dựng đường sắt; từ những năm còn nhỏ Aleixandre đã say mê đọc truyện cổ của Hans Christian Andersen, anh em nhà Grimm, Iliad của Homer, các tác phẩm của Arthur Conan Doyle, Fyodor Mikhailovich Dostoevsky, Friedrich Schiller... Ông học luật và kinh tế tại Đại học Madrid; sau làm phụ giảng tại trường thương mại rồi chuyển sang cục quản lí đường sắt. Năm 1925 Aleixandre bị ốm rất nặng, không còn khả năng tham gia vào các công việc khác mà dồn toàn bộ sức lực cho văn chương. Tuyển tập thơ đầu tiên của ông Ranh giới xuất hiện năm 1928. Năm 1933, ông nhận giải thưởng văn chương quốc gia cho tác phẩm La destrucción o el amor (Hủy diệt hay yêu thương) rồi năm 1944 xuất bản cuốn Sombra del parasio (Bóng Thiên đường), một bài ca viễn tưởng về hạnh phúc và cái đẹp của một con người trước ngưỡng cửa cái chết. Năm 1950, ông trở thành thành viên Viện Hàn lâm Tây Ban Nha.

Năm 1977 ông được trao giải Nobel "vì những tác phẩm thơ xuất sắc thể hiện vị trí của con người trong vũ trụ và trong xã hội hiện đại, đồng thời là chứng cứ thuyết phục về sự phục hồi của các truyền thống thơ ca Tây Ban Nha vào thời kì giữa hai cuộc chiến tranh". Thơ của Aleixandre quyến rũ và mong manh, nhưng không sầu não. Đó là nguồn sống tinh thần không cạn kiệt của đất nước Tây Ban Nha. Aleixandre sống độc thân cho đến cuối đời, ông mất tại Madrid.

[sửa] Tác phẩm

  • Ambito (Môi trường quanh ta, 1928), thơ
  • Espadas como labios (Lưỡi gươm như làn môi, 1932), thơ
  • La destruccion o el amor (Hủy diệt hay yêu thương, 1933), thơ
  • Pasion de la tierra (Niềm đam mê của đất, 1928-1929, in1935), thơ
  • Sombra del parasio (Bóng thiên đường,1944), thơ
  • Mundo a solas (Thế giới thống nhất, 1936, in 1950)
  • Historia del corazon (Truyện trái tim, 1954), thơ
  • Los encuentros (Gặp gỡ, 1958), hồi kí
  • Poemas amorosos (Thơ tình, 1960), thơ
  • En un vasto dominio (Trong quyền lực của sự phù du, 1962), thơ
  • Poemas de la consumacion (Thơ tiêu thụ, 1968), thơ
  • Dialogos del conocimiento (Đối thoại về sự nhận thức, 1974), thơ
  • Sonido de la guerra (Âm thanh cuộc chiến, 1978), thơ
  • Epistolario (Thư từ, 1986), thơ

[sửa] Một số bài thơ

Giấc mơ
Có những giây phút cô đơn
Khi con tim lặng im, bỗng nhiên hiểu rằng không yêu nữa.
Lấy sức đứng dậy: nhìn buổi sáng tối tăm.
Còn trên giường em, có ai đấy đang say sưa ngủ.
Có thể là em... nhưng mà không: em thơ thẩn trong phòng
Buồn bã, lặng im. Mưa rơi ngoài cửa sổ.
Bình minh sương mờ. Đến đó đã cô đơn!
Em ngó nhìn. Quần áo treo trong phòng
Bầu trời nặng nề, nước rơi, và căn phòng nhỏ
Giữa bình minh xám ngắt ngoài cửa sổ.
Em ngồi im, cúi đầu xuống bàn tay
Tay chống lên bàn. Ghế không kêu cót két.
Chỉ nghe ra đều đều hơi thở của ai
Của ai đó rất dịu dàng, xinh đẹp
Quên trên giường giấc mộng về em, tình yêu đã chết
Còn em – chỉ là giấc mộng của người.
Nhà thơ hồi tưởng cuộc đời mình
To die, to sleep; To sleep: perchance to dream (William Shakespeare - Hamlet)
Cả đời anh thấy những giấc mơ
Còn ngủ – là không sống. Cuộc đời cho thiên hạ
Sống – là không thở bằng những lời buồn bã
Những lời vẫn sống quanh ta.
Sống trong lời? Nhưng lời không muôn thuở
Tiếng động ngọt ngào nhưng sẽ mất đi
Như đêm trăng này. Như bình minh xa
Như ngày gom những tia nắng cuối
Đập vào mắt ta.
Hãy cứ để ngày hôn em khi khép bờ mi lại
Em hãy ngủ.
Đêm rất dài, nhưng đêm đã đi qua.
Bản dịch của Nguyễn Viết Thắng

[sửa] Liên kết ngoài


Công cụ cá nhân