Lufthansa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hàng không Đức
Mã IATA
LH
Mã ICAO
DLH
Tên hiệu
Lufthansa
Thành lập 1923
Trạm trung chuyển chính Sân bay quốc tế Frankfurt
Sân bay quốc tế Franz Josef Strauß
Phòng khách Thượng nghị sĩ
Liên minh Star Alliance
Điểm đến 188
Trụ sở chính Flag of Germany.svg Köln, Đức
Trang web http://www.lufthansa.de

Deutsche Lufthansa AG (phiên âm quốc tế: ([dɔɪtʃə ˈlʊftˌhanza]) là hãng hàng không lớn nhất nước Đức và lớn thứ hai châu Âu sau hãng Air France-KLM, nhưng xếp trên British Airways. Tên của hãng lấy từ Luft (trong tiếng Đức có nghĩa là "không khí") và Hansa (theo Liên minh Hanse, nhóm buôn bán mạnh nhất thời trung cổ).

Lufthansa đặt hành dinh ở Köln. Trung tâm hoạt động tại Sân bay quốc tế FrankfurtFrankfurt am Main. Một trung tâm thứ hai của hãng đặt ở Sân bay quốc tế Munich. Sau khi hãng thôn tín Swiss International Air Lines, Sân bay Zürich trở thành trung tâm thứ 3.

Lufthansa là thành viên sáng lập của Liên minh Star Alliance, liên minh hàng không lớn nhất thế giới, vốn được thành lập vào năm 1997, hiện tại (2010) đang có 18 hãng thành viên. Lufthansa Group hoạt động hơn 400 máy bay và hơn 100.000 nhân viên trên khắp thế giới. Năm 2006, 53.4 triệu hành khách bay với Lufthansa. Đến năm 2008, phát triển lên 70.5 triệu hành khách bay với Lufthansa, không bao gồm Germanwings, BMI, Austrian Airlines và Brussels Airlines.

Hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Hãng được thành lập đầu tiên vào ngày 1 tháng 6 năm 1926 tại Berlin với tên ban đầu là Deutsche Luft Hansa Aktiengesellschaft, sau sự sát nhập giữa "Deutsche Aero Lloyd" và "Junkers Luftverkehr". Ngày 9 tháng 12 năm 1927, Deutsche Luft Hansa đã thay mặt cho chính phủ Đức lập nên một thỏa thuận với chính phủ Tây Ban Nha về việc thiết lập dịch vụ bay giữa hai nước. Thỏa thuận này bao gồm cả việc đầu tư vốn để thành lập một hãng hàng không, là tiền thân của hãng Iberia sau này. Năm 1933, hãng lần đầu tiên sử dụng tên giao dịch Lufthansa.

Máy bay Airbus A300-600 của Lufthansa, được hãng sử dụng từ 1976 đến 2009

Trước Thế chiến thứ hai, hãng đã từng thiết lập đường bay tới Đông Nam Á cũng như bay xuyên qua Đại Tây Dương sử dụng máy bay của Dornier, Junkers, Heinkel, Focke-Wulf và các máy bay khác của Đức. Hãng cũng có liên quan tới việc thành lập một số hãng hàng không Nam Mỹ thông qua công ty con là Condor Syndikat. Sau khi chiến tranh bùng nổ, Lufthansa chỉ duy trì đường bay tới các nước trung lập. Sau khi nước Đức bị chia cắt năm 1945, tất cả các đường bay của Lufthansa đều bị ngưng.

Tổng hành dinh cũ của Lufthansa tại Köln, Đức

Tái lập[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 6 tháng 1 năm 1953, Lufthansa được khôi phục lại dưới tên gọi Aktiengesellschaft für Luftverkehrsbedarf (Luftag) và được đổi thành Deutsche Lufthansa Aktiengesellschaft vào ngày 6 tháng 8 năm 1954. Ngày 1 tháng 4 năm 1955, Lufthansa khôi phục lại các đường bay trong phạm vi Tây Đức. Các đường bay quốc tế cũng nhanh chóng được lập lại với các chuyến bay trong châu Âu. Đường bay tới New York cũng được thành lập vào ngày 8 tháng 6 năm 1955, sử dụng máy bay của Lockheed Super Constellations. Các đường bay tới nam Đại Tây Dương cũng được thiết lập lại vào tháng 8 năm 1956.

Năm 1958, Lufthansa đặt hàng 4 chiếc Boeing 707 để phục vụ các chuyến bay từ Frankfurt đi New York vào tháng 3 năm 1960. Tháng 2 năm 1961, các đường bay tới Đông Nam Á được mở rộng tới Hong KongTokyo sau đường bay tới Bangkok. Năm 1962 hãng cũng triển khai các đường bay tới LagosJohannesburg.

Năm 1964, Lufthansa đưa máy bay Boeing 727 vào phục vụ và trong tháng 5 năm đó, hãng đã thực hiện tuyến bay qua Bắc cực (Polar route) từ Frankfurt đi Tokyo. Tháng 2 năm 1965, hãng đã đặt hàng 20 máy bay Boeing 737 tầm trung, các máy bay này được đưa vào khai thác năm 1968. Lufthansa là một trong 4 hãng đầu tiên trên thế giới đặt hàng máy bay Boeing 737 thân rộng và là hãng nước ngoài đầu tiên khai thác loại máy bay thương mại chở khách này.

Máy bay 737-300 của Lufthansa

Kỷ nguyên máy bay thân rộng của Lufthansa được bắt đầu vào ngày 26 tháng 4 năm 1970 với việc khai trương các chuyến bay bằng máy bay Boeing 747. Năm 1971, Lufthansa bắt đầu thực hiện các chuyến bay tới Nam Phi. Năm 1979 máy bay Airbus A310 được Lufthansa và Swissair khai thác với một đơn đặt hàng 25 chiếc.

Chương trình hiện đại hóa đội bay cho thập niên 90 được bắt đầu vào ngày 29 tháng 6 năm 1985 với một đơn đặt hàng gồm 15 chiếc Airbus 320, 7 chiếc Airbus A300-600. Một vài ngày sau đó, hãng cũng đặt hãng 10 chiếc Boeing 737-300. Các máy bay này được giao trong khoảng năm 1987 đến 1992. Lufthansa cũng mua thêm máy bay Airbus A321Boeing 747-400.

Từ hãng hàng không của nước Đức...[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 28 tháng 10 năm 1990, 25 ngày sau ngày nước Đức thống nhất, Berlin trở thành điểm đến của Lufthansa. Ngày 18 tháng 10 năm 1997 Lufthansa cùng với Air Canada, Scandinavian Airlines, Thai AirwaysUnited Airlines sáng lập ra liên minh hàng không đầu tiên trên thế giới Star Alliance.

Năm 2000, Air One trở thành đối tác của Lufthansa và hầu hết các chuyến bay của Air One được thỏa thuận chỗ với Lufthansa. Tháng 6 năm 2003, Lufthansa mở nhà ga số 2 tại sân bay quốc tế Franz Josef Strauß, Munich nhằm giảm bớt sự quá tải của sân bay quốc tế Frankfurt. Đây là một trong những nhà ga hành khách đầu tiên ở châu Âu do một hãng hàng không sở hữu.

...Trở thành tập đoàn hàng không quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 22 tháng 3 năm 2005, SWISS sát nhập với Lufthansa. Tuy nhiên cả hai hãng đều tiếp tục hoạt động độc lập.

Ngày 6 tháng 6 năm 2006 Lufthansa đặt hàng 20 chiếc Boeing 747-8, trở thành hãng vận chuyển lớn nhất của loại máy bay này. Hãng này cũng là hãng hàng không châu Âu thứ hai (sau Air France) khai thác máy bay Airbus A380, sau khi được bàn giao loại máy bay này vào ngày 19 tháng 5 năm 2010.

Ngày 14 tháng 12 năm 2006, Lufthansa và hãng hàng không giá rẻ của Mỹ Jetblue bắt đầu quá trình liên doanh thông qua việc Lufthansa mua lại 19% cổ phần của hãng này. Đây là lần đầu tiên một hãng hàng không của châu Âu đầu tư vào một hãng hàng không Hoa Kỳ sau khi thỏa thuận bầu trời mở giữa EU và Hoa Kỳ có hiệu lực vào năm 2008.

Ngày 15 tháng 9 năm 2008, Lufthansa nắm giữ 45% cổ phần của hãng Brussels Airlines và sẽ nắm giữ nốt 55% còn lại từ 2011. Theo thỏa thuận này, Brussels Airlines trở thành thành viên của Star Alliance vào tháng 12 năm 2009.

Ngày 28 tháng 10 năm 2008, Lufthansa thực hiện mua 60% cổ phần của hãng BMI. Với việc nắm giữ 20% cổ phần còn lại từ Scandinavian Airlines, Lufthansa đã sở hữu hoàn toàn BMI từ ngày 1 tháng 11 năm 2009

Tháng 11 năm 2008, Lufthansa và Austrian Airlines đạt được một thỏa thuận trong đó Lufthansa sẽ mua lại phần lớn cổ phần từ chính phủ Áo. Thỏa thuận này hoàn thành vào tháng 1 năm 2009. Cũng trong tháng này, Lufthansa công bố rằng hãng đang đàm phán với Scandinavian Airlines System về việc sát nhập giữa hai hãng.

Các công ty thành viên[sửa | sửa mã nguồn]

Các hãng hàng không:

Các đơn vị khác:

Điểm đến[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm thông tin: Điểm đến của Lufthansa
Lufthansa and partner Air Canada aircraft at Munich Airport

Lufthansa có mạng đường bay tới 18 điểm đến trong nước và 185 điểm đến quốc tế tại 78 nước tại châu Á, châu Âu, châu Phichâu Mỹ. Bao gồm cả các đường bay được khai thác bởi Lufthansa City Line, Lufthansa Regional, Cirrus AirlinesPrivatair

Đội bay[sửa | sửa mã nguồn]

Đội bay Lufthans
Loại máy bay Đang hoạt động Đang đạt hàng Số hành khách
(First/Business/Economy)
Airbus A319-100 27 9 126 (0/24/102)
Airbus A320-200 42 8 146 (0/32/114)
Airbus A321-100 20 0 186 (0/31/155)
Airbus A321-200 22 22 186 (0/31/155)
Airbus A330-300 15 0 221 (8/48/165)
Airbus A340-300 26 0 221 (8/48/165)
266 (0/44/222)
Airbus A340-600 24 0 306 (8/60/238)
345 (0/66/279)
Airbus A380-800 1 14 526 (8/98/420)
Boeing 737-300 33 0 124 (0/18/106)
Boeing 737-500 30 0 108 (0/18/90)
Boeing 747-400 30 0 330 (16/80/234)
Boeing 747-8I 0 20 TBA
Total 271 73

[edit]

Airbus A380[sửa | sửa mã nguồn]

A380 của Lufthansa.

Ngày 6 tháng 12 năm 2001, Lufthansa ra thông cáo cho đơn đạt hàng 15 chiếc Airbus A380 superjumbos và được xác nhận vào ngày 20 tháng 12 năm 2001. Chiếc đầu tiên được đặt tên là Frankfurt am Main. Chuyến bay đầu tiên được thực hiện vào ngày 11 tháng 6 năm 2010 trên hành trình Frankfurt-Tokyo. Sau đó sẽ được khai thác trên hành trình Frankfurt-Bắc KinhJohannesburg.

Thỏa thuận chia sẻ chỗ[sửa | sửa mã nguồn]

Lufthansa có thỏa thuận chia sẻ chỗ với các hãng hàng không sau:

*thành viênStar Alliance

Khoang hành khách[sửa | sửa mã nguồn]

Các chuyến bay chặng dài[sửa | sửa mã nguồn]

Khoang hạng nhất: Khoang hạng nhất của Lufthansa có trên máy bay Boeing 747, Airbus A330Airbus A340. Mỗi ghế ngồi đều có thể chuyển thành một giường nằm rộng 2m, có ổ cắm laptop và các công cụ giải trí khác. Bữa ăn được phục vụ theo yêu cầu. Lufthansa có quầy check-in dành cho khách hạng nhất tại hầu hết các sân bay cũng như phòng chờ hạng nhất tại sân bay FrankfurtMunich. Tại sân bay Frankfurt, khách hạng nhất sẽ sử dụng nhà ga dành riêng cho khách hạng nhất.

Lufthansa Boeing 747-400 Business Class

Khoang hạng thương gia: Dịch vụ hạng thương gia có trên tất cả các chuyến bay đường dài của Lufthansa. Mỗi ghế ngồi đều có thể duỗi ra thành một giường nằm dài 2m, có ổ cắm laptop và các công cụ giải trí khác. Lufthansa có quầy check-in dành cho khách hạng thương gia cũng như phòng chờ hạng thương gia tại tại tất cả các sân bay.

Hạng phổ thông: Khách hàng hạng phổ thông đễu được phục vụ suất ăn và đồ uống miễn phí. Năm 2007, Lufthansa bắt đầu cung cấp màn hình cá nhân trên mỗi ghế ngồi.

Lufthansa Airbus A340-600 Economy Class

Các chuyến bay trong châu Âu[sửa | sửa mã nguồn]

Hạng thương gia: Dịch vụ hạng thương gia trên các chuyến bay chặng ngắn của Lufthansa được phục vụ trên máy bay A319, A320, A321B737. Hành khách sẽ được phục vụ bữa ăn và đồ uống cũng như sử dụng quầy check-in và phòng chờ hạng thương gia. Trên tất cả các chuyến bay chặng ngắn, dịch vụ giải trí trên chuyến bay không được phục vụ.

Hạng phổ thông: Được phục vụ trên tất cả các chuyến bay chặng ngắn của Lufthansa. Hành khách được phục vụ đồ uống và bữa ăn nhẹ.

Miles & More[sửa | sửa mã nguồn]

Chương trình khách hàng thường xuyên của Lufthansa được gọi là Miles & More, và nó được chia sẻ với một số hãng hàng không châu Âu bao gồm Austrian Airlines, LOT Polish Airlines, Swiss International Air Lines, Luxair, Croatia Airlines, Adria Airways, and Brussels Airlines. Hội viên Miles & More có thế tích lũy điểm thưởng sau mỗi chuyến bay với Lufthansa hoặc các đối tác trong Star Alliance cũng như khi sử dụng thẻ tín dụng do Lufthansa phát hành.


liên kết ngoài