Sân bay quốc tế München Franz Josef Strauss

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Franz Josef Strauß
Flughafen München Franz Josef Strauß
Vorfeld Terminal 1 I.JPG
IATA: MUC - ICAO: EDDM
Tóm tắt
Kiểu sân bay Công cộng
Cơ quan điều hành Flughafen München GmbH
Phục vụ München
Độ cao AMSL 1.487 ft (453 m)
Tọa độ 48°21′14″B 11°47′10″Đ / 48,35389°B 11,78611°Đ / 48.35389; 11.78611
Đường băng
Hướng Chiều dài Bề mặt
ft m
08R/26L 13.123 4.000 Bê tông
08L/26R 13.123 4.000 Bê tông

Sân bay quốc tế München (IATA: MUCICAO: EDDM), tên gọi chính thức Sân bay quốc tế Franz Josef Strauss (tiếng Đức: Flughafen München Franz Josef Strauß) là một sân bay nằm cách München, Đức 28 km (17 mi) về phía đông bắc đông bắc và là một trung tâm hoạt động của hãng Lufthansa và các hãng hàng không thuộc Liên minh Star Alliance. Sân bay nằm ở vùng Erdinger Moos bên cạnh thành phố Freising. Sân bay được đặt tên để tưởng nhớ nhà chính trị Franz Josef Strauß.

Năm 2012, sân bay này đã phục vụ trên 38 triệu khách, xếp thứ hai ở Đức về lượng khách thông qua và xếp thứ 6 tại Âu châu, và thứ 26 thế giới về chỉ tiêu này.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Sân bay này bắt đầu hoạt động năm 1992, thay thế sân bay quốc tế cũ ở München-Riem. Khi bắt đầu xây dựng nó vào năm 1980, một ngôi làng có tên là Franzheim đã phải bị phá hủy, 500 dân của làng này được tái định cư ở những nơi khác trong khu vực.

Do cơ sở nhà của hãng Lufthansa ở Sân bay Frankfurt quá tải về lưu lượng hàng không và có công suất phục vụ hạn chế, các thành phố có lưu lượng khách đi lại bằng đường hàng không đã được phục vụ thông qua Sân bay München Franz Josef Strauss cũng như Frankfurt International. Sân bay này được đặt tên theo Franz Josef Strauß, người có một vai trò quan trọng trong chính trị Đức. Strauß đã làm thủ hiến bang Bayern (Sân bay München nằm ở bang này). Dưới thời ông cầm quyền, sân bay này đã được quy hoạch. Bản thân Strauß là một phi công, ông là người đặc biệt quan tâm ngành hàng không và hạ tầng cơ sở.

Đặt tên sân bay bằng tên đầy đủ thường là không phổ biến lắm, thậm chí cục cảng hàng không chỉ đặt tên là "Flughafen München Gesellschaft". Trong khu vực München, phần lớn người dân thường gọi bằng tên "Flughafen München" (Sân bay Munich), đôi khi là "Flughafen München II" hoặc đơn giản là MUC. Công ty vận hành sân bay này gọi tên mình là "M - Flughafen München".

Tháng 6 năm 2003, nhà ga hành khách số 2 được hoàn tất, là nơi dành riêng cho cơ sở dịch vụ của các hãng hàng không thuộc Liên minh Star Alliance.

Do lưu lượng vận chuyển tăng nhanh, một đường băng thứ 3 đang được quy hoạch. Đã có hiện tượng dân trong khu vực quy hoạch đệ đơn kiện phản đối việc xây đường băng mới này.

Địa điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Sân bay quốc tế Munich

Từ sân bay này có thể đến trung tâm thành phố Munich bằng tuyến tàu điện S1 và S8 Munich S-Bahn mất khoảng 45 phút và tốn 8,8 EUR một chiều đi. Đi taxi thì tống khoảng 50 EUR và có thể bị nạn kẹt xe. Đang có kế hoạch xây đường tàu điện đệm từ (Transrapid) nối sân bay này với trung tâm thành phố.

Các thành phố gần đó là FreisingErding thì có thể đến sân bay này bằng taxi (15 phút, €18) hay bằng xe buýt.

Trung tâm sân bay Munich nằm ở giữa Nhà ga số 1 và Nhà ga số 2. Đây là khu mua sắm và hội nghị, kinh doanh.

Các nhà ga[sửa | sửa mã nguồn]

Có 2 nhà ga hành khách ở sân bay này. Sân bay được chia ra làm 3 phần: Nhà ga 1, khu vực chung và Nhà ga 2.

Sân bay quốc tế Munich về đêm

Nhà ga 1[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà ga 1 là nơi dành cho các hãng không thuộc Liên minh Star Alliance, có 60 gian, 19 ống lồng dẫn khách và 14 trạm lên máy bay. Các sảnh được đánh thứ tự từ A-F (F gần Nhà ga 2 hơn). Nhà ga này được mở cửa ngày 17 tháng 5 năm 1992 và có năng lực phục vụ 20 triệu lượt hành khách mỗi năm. Hiện nhà ga này đang được nâng cấp để mở rộng không gian cho cửa hiệu và các cải tiến khác. Các sảnh đầu tiên đã được hoàn tất.

Sảnh A[sửa | sửa mã nguồn]

  • airberlin (Alicante, Antalya, Arrecife, Athens, Berlin-Tegel, Cologne/Bonn, Djerba, Düsseldorf, Fuerteventura, Funchal, Hamburg, Hanover, Hurghada, Lamezia Terme, Las Palmas, London-Stansted, Málaga, Monastir, Moscow-Domodedovo, Münster/Osnabrück, Nice, Palma de Mallorca, Paris-Orly, Pristina, Saarbrücken, Sharm el Sheikh, Tenerife-South, Thessaloniki, Westerland/Sylt)
  • Niki (Vienna)
  • LTU International (Aruba, Bangkok-Suvarnabhumi, Cancun, Cape Town, Colombo, Male, Mombasa, Phuket, Port Louis, Puerto Plata, Punta Cana, Varadero, Windhoek)

Sảnh B[sửa | sửa mã nguồn]

  • Air Mauritius (Port Louis)
  • British Airways (London-Heathrow)
  • Condor (Agadir, Antalya, Arrecife, Barcelona, Bourgas, Dalaman, Faro, Fuerteventura, Funchal, Hurghada, Ibiza, Jerez de la Frontera, Larnaca, Las Palmas, Málaga, Marsa Alam, Palma de Mallorca, Santa Cruz de la Palma, Sharm el Sheikh, Taba, Tangier, Tenerife-South)
  • Delta Air Lines (Atlanta)
  • Hamburg International (Ankara, Bodrum, Lourdes/Tarbes, Pristina, Sulaymaniyah)
  • Royal Jordanian (Amman)
  • Korean Air (Seoul-Incheon) (từ 01.06.08)
  • Tunisair (Djerba, Monastir, Tunis)

Sảnh C[sửa | sửa mã nguồn]

Sảnh D[sửa | sửa mã nguồn]

Sảnh E[sửa | sửa mã nguồn]

chỉ dành cho khách đến

Sảnh F[sửa | sửa mã nguồn]

Sảnh F là một nhà ga đảm bảo an toàn được các hãng hàng không Israel.

Khu vực trung tâm (Zentralbereich)[sửa | sửa mã nguồn]

  • TUIfly (Agadir, Antalya, Araxos, Arrecife, Bari, Cagliari, Cairo, Catania, Corfu, Dalaman, Dubrovnik, Faro, Fuerteventura, Funchal, Heraklion, Hurghada, Jerez de la Frontera, Kos, Las Palmas, Luxor, Mahon, Marrakesch, Marsa Alam, Naples, Olbia, Palermo, Palma de Mallorca, Rhodes, Rijeka, Rimini, Sal, Sharm el Sheikh, Tenerife-South, Thessaloniki)

Nhà ga 2[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà ga 2 là nơi dành riêng cho các hãng thuộc Liên minh Star Alliance cũng như các đối tác của Lufthansa. Nó có hai sảnh G và H, có 75 vị trí đỗ máy bay, 24 ống lồng dẫn khách, 4 cửa dành cho các máy bay khu vực như CRJ-700 và BAe 146, và 47 trạm lên máy bay. Nhà ga này được mở cửa ngày 29 tháng 6 năm 2003 và có công suất phục vụ 20-25 triệu khách mỗi năm. 26 hãng hàng không sử dụng Nhà ga 2.

Ebene/Tầng 3[sửa | sửa mã nguồn]

Ebene/Tầng 4[sửa | sửa mã nguồn]

  • Adria Airways (Ljubljana)
  • Air Canada (Toronto-Pearson)
  • Austrian Airlines (Vienna)
  • Carpatair (Timişoara)
  • Cimber Air (Billund, Norrkoping)
  • Cirrus Airlines (Erfurt, Mannheim)
  • Croatia Airlines (Split, Zagreb)
  • Jat Airways (Belgrade)
  • LOT Polish Airlines (Katowice, Gdansk, Warsaw)
  • Lufthansa (Ankara, Athens, Barcelona, Beijing, Belgrade, Berlin-Tegel, Bilbao, Birmingham, Boston Bremen, Brussels, Bucharest-Otopeni, Budapest, Busan, Catania, Charlotte, Chicago-O'Hare, Cologne/Bonn, Delhi, Denver, Dubai, Dublin (mở lại từ 19.7 - 30.8), Düsseldorf, Faro (mở lại từ 19.7 - 31.8), Frankfurt, Hamburg, Hanover, Helsinki, Hong Kong, Istanbul-Atatürk, Izmir, Kiev-Boryspil, Larnaca, Lisbon, London-Heathrow, Los Angeles, Madrid, Malaga, Manchester, Moscow-Domodedovo, Mumbai (từ 03.05.08), Münster/Osnabrück, Naples, New York-JFK, Newark, Nice, Oslo, Palma de Mallorca, Paris-Charles de Gaulle, Rome-Fiumicino, St. Petersburg, San Francisco, São Paulo-Guarulhos, Seoul-Incheon, Shanghai-Pudong, Shenyang (từ 08.07.2008), Singapore (từ 08.07.2008), Sofia, Stockholm-Arlanda, Tbilisi, Tel Aviv,Tokyo-Narita, Vienna, Warsaw, Washington-Dulles, Yerevan, Zürich)
Lufthansa Regional Embraer E195
    • Air Dolomiti (Ancona, Bologna, Florence, Genoa, Milan-Malpensa, Naples, Pisa, Trieste, Turin, Venice, Wroclaw)
    • Augsburg Airways (Dortmund, Florence, Graz, Krakow, Linz, Olbia, Paderborn, Poznan, Sibiu, Stuttgart, Wroclaw, Zagreb)
    • Contact Air (Nuremberg, Stuttgart, Klagenfurt)
    • Eurowings (Münster/Osnabrück, Naples, Nice)
    • Lufthansa CityLine (Amsterdam, Basel/Mulhouse, Belgrade, Bilbao, Birmingham, Bologna, Bratislava, Bremen, Bucharest-Otopeni, Budapest, Cluj-Napoca, Cologne/Bonn, Copenhagen, Donetsk, Dortmund, Dresden, Dubrovnik (mở lại từ 19.7 - 23.8), Düsseldorf, Florence, Gdansk, Geneva, Gothenburg-Landvetter, Hanover, Krakow, Leipzig/Halle, London-City, Lyon, Manchester, Marseille, Milan-Malpensa, Münster/Osnabrück, Naples, Nice, Oslo, Paris-Charles de Gaulle, Sarajevo, Sofia, Stockholm-Arlanda, Timişoara, Tirana, Toulouse, Vienna, Warsaw, Westerland/Sylt, Yerevan, Zagreb, Zürich)
  • Luxair (Luxembourg, Saarbrücken)
  • Scandinavian Airlines System (Copenhagen, Stockholm-Arlanda)
  • South African Airways (Johannesburg)
  • Spanair (Barcelona, Bilbao, Valencia, Madrid)
  • Swiss International Air Lines (Zürich)
  • TAP Portugal (Lisbon)
  • United Airlines (Chicago-O'Hare, Washington-Dulles)

Khu vực trung tâm[sửa | sửa mã nguồn]

Một phần Sân bay quốc tế Franz Josef Strauss Đây là khu vực mua sắm, kinh doanh, giải trí nối hai nhà ga 1 và 2. Phần cũ hơn thuộc về Nhà ga 2 là một khu vực trong nhà, phần mới hơn được xây cùng lúc với Nhà ga 2 là một khu ngoài trời rộng giống như túp lều khổng lồ, một phần mái trong suốt. Ở đây có một khách sạn do Kempinski quản lý.

Khu vực hàng hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Sân bay có một trung tâm vận chuyển hàng hóa do các hãng sau sử dụng:

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]