KLM

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
KLM Royal Dutch Airlines
Koninklijke Luchtvaart Maatschappij
KLM logo.svg
Mã IATA
KL
Mã ICAO
KLM
Tên hiệu
KLM
Thành lập 07-10-1919
Bắt đầu hoạt động 17-05-1920
Trạm trung chuyển chính Sân bay quốc tế Amsterdam Schiphol
Chương trình hành khách thường xuyên Flying Blue
Phòng khách
  • KLM Crown Lounge
  • SkyTeam Lounge
Liên minh SkyTeam
Công ty con
Số máy bay 112 (+18 orders) incl. cargo
excl. subsidiaries
Điểm đến 125 incl.subsidiaries
Khẩu hiệu "Een reis vol inspiratie" (A journey full of inspiration)
Công ty mẹ Air France-KLM
Trụ sở chính Amstelveen, Hà Lan
Nhân vật then chốt Albert Plesman (founder)
P. F. Hartman (CEO)
F. Gagey (CFO)
Trang web www.klm.com

KLM Royal Dutch Airlines (Tiếng Hà Lan: Koninklijke Luchtvaart Maatschappij, có nghĩa là Hãng hàng không hoàng gia), là hãng hàng không quốc gia của Hà Lan và là một phần trong liên minh Air France-KLM. KLM có tổng hành dinhAmstelveen, gần điểm trung truyển chính của hẵng tại sân bay quốc tế Amsterdam Schiphol. KLM khai thác các dịch vụ trở khách và hàng hóa tới hơn 90 điểm trên toàn thế giới. Đây cũng là hẵng hàng không lâu đời nhất trên thế giới và vẫn sử dụng tên gọi từ thuở sơ khai. Theo số liệu tháng 03-2007, hẵng có 33,000 nhân viên.

Sự sát nhập của KLM với Air France vào tháng 05-2004 đã tạo ra liên minh hàng không Air France-KLM theo luật của Pháp và có tổng hành dinh tại sân bay quốc tế Charles de Gaulle. Cả hai hãng Air France và KLM sẽ tiếp tục hoạt động với tên cũ. Air France-KLM là một thành viên của liên minh hàng không Skyteam cùng với Delta Airlines, Aeromexico, Korean Air, Czech Airlines, Alitalia, AeroflotChina Southern Airlines

Lịch sử hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

A Một quảng cáo của hãng năm 1919

KLM được hình thành vào ngày 07-07-1919 và là hẵng hàng không lâu đời nhất trên thế giới và vẫn còn đang hoạt động dưới tên gọi ban đầu cho dù hẵng đã phải ngưng hoạt động trong suốt chiến tranh thế giới lần thứ 2, ngoại trừ các chuyến bay tại Hà Lan thuộc địa trong vùng Caribbean. Chuyến bay đầu tiên của KLM được thực hiện vào ngày 17-05-1920 từ sân bay Croydon, London đi Amsterdam chở theo hai nhà báo của Anh và một số lượng báo chí. Chuyến bay được thực hiện bằng một chiếc máy bay Airco DH.16 được đặt tên là G-EALU, phi công của chuyến bay này là Jerry Shaw. Năm 1920 KLM đã chuyên chở được 440 hành khách và 22 tấn hàng hóa. Năm 1921 KLM bắt đầu dịch vụ chuyên chở.

Trước năm 1926, KLM có các chuyến bay tới Amsterdam, Rotterdam, Brussels, Paris, London, Bremen, CopenhagenMalmö sử dụng máy bay Fokker F2 và Fokker F.III. Tháng 06-1938 KLM bắt đầu có các chuyến bay tới Manchester ghé qua Doncaster và sử dụng máy bay DC-2

Các chuyến bay xuyên lục địa tới Đông Ấn Hà Lan (Indonesia ngày nay) được bắt đầu vào năm 1929 sử dụng máy bay Fokker F.VII. Trong một vài năm đầu, nó luôn là đường bay dài nhất thế giới. Năm 1930, KLM chuyên chở được 15,143 hành khách. Bốn năm sau đó, tháng 12-1934 chuyến bay vượt Đại Tây Dương đầu tiên của KLM được thực hiện và đó là hành trình nối AmsterdamCuraçao sử dụng máy bay Fokker F-XVIII Snip. Năm 1936 hẵng nhận máy bay Douglas DC-3 đầu tiên và máy bay này được dùng để thay thế cho máy bay DC-2s trong hành trình tới Sydney ghé qua Batavia. Trong những năm đầu thập niên 40, KLM là hãng hàng không duy nhất sử dụng máy bay Douglas DC-5.

Ngày 21-05-1946, KLM trở thành hãng hàng không đầu tiên ở Châu Âu lục địa bay tới New York. Hãng đã chuyên trở được 356,069 hành khách trong năm 1950. Ngày 01-11-1958, hãng giới thiệu đường bay xuyên bắc cực từ Amsterdam tới Tokyo ghé qua Anchorage bằng máy bay Douglas DC-7, đây cũng là máy bay sử dụng Pít-tông cuối cùng của hẵng. Mỗi thành viên phi hành đoàn của đường bay này đều được trang bị một bộ cứu hộ mùa đông, bao gồm một súng AR-10 nhằm đối phó với gấu Bắc cực trong trường hợp máy bay phải hạ cánh khẩn cấp trên băng.

Tháng 03-1960, KLM đưa máy bay Douglas DC-8 đầu tiên vào hoạt động và máy bay Douglas DC-9 được đưa vào hoạt động năm 1966 trên các đường bay nối châu ÂuTrung Đông. Nhà ga hành khách mới tại sân bay quốc tế Amsterdam Schiphol được khai trương vào tháng 04-1967. KLM cũng là hẵng hàng không đầu tiên đưa máy bay Boeing 747-200 vào khai thác, mở ra một kỷ nguyên mới cho máy bay thân rộng.

Năm 1980 hẵng chuyên trở được 9.715.069 hành khách. Cuối năm 1989, KLM nắm giữ 20% cổ phần của Northwest Airlines, và đó là sự khởi đầu cho một liên doanh giữa hai hẵng. Tháng 03-1994, KLM và Northwest Airlines giới thiệu dịch vụ hạng thương gia trên các đường bay xuyên lục địa.

Ngày 25-10-2003 hẵng nhận máy bay Boeing 777 đầu tiên, máy bay này được dùng để khai thác chuyến bay Amsterdam - Toronto. Ngày 25-08-2005 hẵng đưa máy bay Airbus A330-200 vào khai thác trên đường bay Amsterdam - Washington Dulles.

Tháng 03-2007 hãng đưa vào sử dụng hệ thống đặt chỗ Amadeus CRS cùng với đối tác Kenya Airways


Cơ cấu tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

PH-BXA, a Boeing 737-800 aircraft painted in a retro livery

Cổ phiếu của KLM được niêm yết trên thị trường chứng khoán Amsterdam, ParisNew York Các công ty con:

Các công ty con trước đây:

KLM Asia Boeing 747-400 Combi registration PH-BFC "City of Calgary"

KLM Asia KLM Asia (荷蘭亞洲航空公司 Hanyu Pinyin: Công ty hàng không Á Châu Hà Lan) là một công ty con trực thuộc KLM tại Đài Loan. Hẵng được thành lập năm 1995 nhằm thực hiện các chuyến bay tới Đài Bắc và không có quyền vận chuyển thay cho KLM trên các chuyến bay tới Trung Hoa đại lục. KLM Asia không còn tồn tại nhưng một vài máy bay vẫn còn logo của KLM Asia Các máy bay của KLM Asia không có biểu tượng quốc gia như cờ hoặc vương miện Hà Lan.

Sáp nhập[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 30-09-2003, Air France và KLM công bố rằng họ sẽ được biết đến trong tương lai dưới tên Air France-KLM. Điều này đã được thể hiện trên thị trường chứng khoán Amsterda vào ngày 05-05-2004. Sự mua lại này của Air France đã đánh dấu cho sự kết thúc của hẵng hàng không độc lập lâu đời nhất trên thế giới.

Các CEO[sửa | sửa mã nguồn]

KLM Airbus A330-200 at Amsterdam Schiphol Airport

Điểm đến[sửa | sửa mã nguồn]

Trụ sở KLM, Amstelveen
Bài chi tiết: KLM destinations

KLM không có đối thủ cạnh tranh trên 61 đường bay trong tổng số các đường bay của hẵng. 14 đường bay (khoảng 10% trên tổng số) có hai đối thủ cạnh tranh gồm các đường bay từ Amsterdam tới Barcelona, Copenhagen. London Heathrow, Milan Malpenca, Oslo Gardermoen, Prague, Stockholm Arlanda, Vienna, Aruba, Bangkok, Curaçao, Đài Bắc, Toronto,Tripoli và Hồ Chí Minh

Đội bay[sửa | sửa mã nguồn]

Đội bay hiện tại của KLM bao gồm 112 máy bay (tính tới ngày 14-02-2010):

A Boeing 767-300ER tại sân bay Schiphol (2005)
A Boeing 737-400 tại sân bayTegel Airport Berlin (2009)
KLM
Loại máy bay Đang khai thác Đặt hàng Số hành khách
(Thương gia/Phổ thông linh hoạt/Phổ thông)
Airbus A330-200 10 7 243 (30/35/178)
Boeing 737-300 7 0 127 (39/0/88)
Boeing 737-400 9 0 147 (39/0/108)
Boeing 737-700 5 7 129 (45/0/84)
Boeing 737-800 21 0 171 (57/0/114)
Boeing 737-900 5 0 189 (51/0/138)
Boeing 747-400 5 0 415 (42/38/335)
Boeing 747-400M 17 0 275 (42/38/195)
Boeing 777-200ER 15 0 318 (35/34/249)
Boeing 777-300ER 4 4 425 (35/40/350)
McDonnell Douglas MD-11 10 0 285 (24/34/227)
KLM Cargo
Boeing 747-400ERF 4 0 All leased to Martinair
Total 112 18

Lịch sử đội bay[sửa | sửa mã nguồn]

KLM đã từng sử dụng các loại máy bay sau

KLM Convair
Đội bay KLM (1953–2008)
Loại máy bay Năm bắt đầu khai thác Năm kết thúc
Boeing 737-700 2008
Boeing 777-300ER 2008
Airbus A330-200 2005
Boeing 777-200ER 2003
Boeing 737-900 2001
Boeing 737-800 1999
Boeing 767-300 1995 2007
McDonnell Douglas MD-11 1993
Boeing 747-400 1989
Boeing 737-400 1989
Boeing 737-300 1986
Airbus A310 1983 1997
Boeing 747-300 1983 2004
McDonnell Douglas DC-10 1972 1995
Boeing 747-200 1971 2004
Douglas DC-9 1966 1989
Douglas DC-8 1960 1985
Lockheed L-188 Electra 1959 1969
Vickers Viscount 1957 1966
Douglas DC-7 1953 1966
Lockheed Super Constellation L-1049 1953 1966
Convair 340 1953 1964
Đội bay KLM (1920–1948)
Loại máy bay Năm bắt đầu khai thác Năm kết thúc
Convair 240 1948 1959
Douglas DC-6 1948 1963
Douglas DC-4 1946 1958
Douglas Skymaster C-54 1945 1959
Douglas DC-5 1940 1941
Lockheed Super Electra-14 1938 1948
Douglas DC-3 1936 1964
Fokker F.XXXVI 1935 1939
Fokker F.XXII 1935 1939
Douglas DC-2 1934 1946
Fokker F.XX 1933 1936
Fokker F.XVIII 1932 1946
Fokker F.XII 1931 1936
Fokker F.IX 1930 1936
Fokker F.VIII 1927 1940
Fokker F.VII 1925 1936
Fokker F.III 1921 1930
Fokker F.II 1920 1924
De Havilland DH.16 1920 1924

Chia sẻ mã bay[sửa | sửa mã nguồn]

KLM chia sẻ mã bay với các thành viên của liên minh SkyTeam và các công ty sau:

Các hạng ghế ngồi[sửa | sửa mã nguồn]

KLM phục vụ các dịch vụ hạng Thương giahạng Phổ thông trên tất cả các chuyến bay. Trên các chuyến bay dài, hẵng có thêm dịch vũ Phổ thông linh hoạt. Hạng thương gia được gọi là Europe Select trên các đường bay ngắn và World Business Class trên các đường bay dài.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]