Boeing 777

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Boeing 777
Boeing 777-219ER ZK-OKA Air New Zealand (7031891827).jpg
Một chiếc Boeing 777 của Air New Zealand
Kiểu Máy bay hành khách
Hãng sản xuất Boeing Commercial Airplanes
Chuyến bay đầu tiên 12 tháng 6, 1994
Được giới thiệu 7 tháng 6, 1995 với hãng United Airlines
Tình trạng Được chứng nhận
Hãng sử dụng đầu tiên Singapore Airlines (67)
Số lượng được sản xuất 672 (6.2007)
Chi phí máy bay 777-200: US$187,5-205,5 triệu [1]
777-200ER: US$200,5-224 triệu
777-200LR: US$231-256 triệu
777-300: US$221,5-246,5 triệu
777-300ER: US$240-278,5 triệu
777F: US$245-253 triệu

707 · 717 · 727 · 737 · 747 · 757 · 767 · 777 · 787

Phi cơ hàng không dân sự Boeing 777 là một dòng máy bay hai động cơ thân rộng của Hoa Kỳ được công ty Commercial Airplanes division thuộc hãng Boeing chế tạo. Máy bay này có thế chở từ 301 đến 368 hành khách trong một cấu hình 3 hạng ghế và có tầm bay từ 5.210 đến 9.420 dặm (9.650 đến 17.450 km). Các đặc điểm nổi bật của Boeing 777 bao gồm bộ sáu bánh xe bên mỗi bộ truyền động hạ cánh chính (main landing gear), mặt cắt thân máy bay tròn trịa, the pronounced "neck" aft of the cockpit, and the blade-like rear tailcone.

Dòng 777 là máy bay thương mại đầu tiên được thiết kế hoàn toàn trên máy tính. Không có mô hình nào đã được sản xuất; mọi thứ được tạo ra trên một hệ thống phần mềm CAD 3D được biết đến với tên gọi CATIA. Điều này cho phép một chiếc 777 thực được lắp ráp mô phỏng, kiểm tra các can thiệp và xác minh độ trùng khít với nhau của hàng ngàn linh kiện trước khi các nguyên mẫu thân hình của tốn kém được sản xuất.[2]

Các đối thủ cạnh tranh trên thị trường trực tiếp của Boeing 777 là Airbus A330-300, A340 và một vài kiểu đang được đề nghị sản xuất A350 XWB. Boeing 777 có thể cuối cùng được thay thế bằng một gia đình sản phẩm mới, Y3, một dòng máy bay có dẫn tới các công nghệ 787. Mẫu Y3 cũng có thể thay thế các đợt sản xuất của mẫu 747.

Phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thập niên 1970, Boeing đã tuyên bố các kiểu mới: máy bay hai động cơ 757 thay thế cho 727 máy bay hành lang đôi 767 để thách thức với Airbus A300, và ý tưởng máy bay có ba động cơ phản lực 777 để cạnh tranh với DC-10Lockheed L-1011 TriStar.[3] Căn cứ trên một thiết kế 767 chỉnh lại cánh, chiếc 777 275 ghế đã được đề nghị chế tạo với hai biến thể: một dòng xuyên lục địa có tầm xa 2.700 dặm (5.000 km) và một dòng giữa các lục địa có tầm xa 4.320 dặm (8.000 km).

Các máy bay hai động cơ phản lực là một thành công lớn một phần là do các quy định ETOPS của thập niên 1980. Tuy nhiên, dự án chế tạo chiếc 777 ba động cơ đã bị hủy bỏ (rất giống với ý tưởng ba động cơ của chiếc Boeing 757) một phần là do tính phức tạp của thiết kế máy bay ba động cơ phản lực và sự thiếu vắng của loại động cơ 40.000 lbf (178 kN). Sự hủy bỏ này đã để lại cho hãng Boeing một khoảng cách lớn về kích cỡ và tầm bay giữa hai kiểu 767-300ER và 747-400 đang sản xuất. Các dòng DC-10 và L-1011, đều được đưa vào phục vụ từ đầu thập niên 1970, đã đến độ chín muồi để phải thay thế. Trong lúc đó, Airbus đã phát triển loại máy bay A340 để đáp ứng được yêu cầu đó và cạnh tranh với Boeing.

El Al Boeing 777. Note the 777's unique tailcone notch.

Giữa thập niên 1980, Boeing đưa ra đề nghị loại máy bay mở rộng ra 767, được gán tên gọi là 767-X. Dòng này có thân dài hơn và cánh rộng hơn loại 767 hiện hữu và có 340 ghế với tầm bay tối đa 7.300 dặm (13.500 km). Chiếc 767-X này không gây được ấn tượng với các hãng hàng không vì họ muốn loại phi cơ nào có năng lực tầm xa ngắn cho đến liên lục địa, một mặt cắt ngang cabin rộng hơn, một cấu hình cabin hoàn toàn linh động và một chi phí vận hành thấp hơn bất cứ quãng đường liên tục nào của 767. Đến năm 1988, Boeing đã nhận ra rằng giải pháp duy nhất chỉ có thể là một thiết kế mới: máy bay ba động cơ phản lực 777.

Giai đoạn thiết kế của 777 khác với những dòng máy bay phản lực khác của Boeing. Lần đầu tiên, 8 hãng hàng không lớn đã có một vai trò trong sự phát triển máy bay này.[4] Các hãng hàng không được tham khảo ý kiến gồm có United Airlines, American Airlines, Delta Air Lines, ANA, British Airways, JAL, Qantas, và Cathay Pacific. (Đến tháng 5 năm 2007, Qantas là hãng hàng không duy nhất trong các hãng hàng không lớn đã được tham khảo ý kiến, chưa đặt mua chiếc 777 nào.) Triết lý "Cùng làm việc với nhau", như Boeing gọi, có nghĩa rằng máy bay dòng 777 là máy bay định hướng khách hàng nhất cho đến nay.

Sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 10 năm 1990, United Airlines đã trở thành khách hàng đầu tiên của Boeing 777 khi hãng đã đặt hàng mua 34 chiếc biến thể -200 và hợp đồng quyền mua (option) 34 chiếc nữa.[5] Việc sản xuất chiếc máy bay đầu tiên đã được bắt đầu vào Tháng 1 năm 1993 tại nhà máy Everett của Boing gần Seattle.[6]

Chiếc 777 bao gồm các nội dung quốc tế đáng kể, chỉ bị qua mặt bởi 787. Các công ty quốc tế có đóng góp bao gồm Mitsubishi Heavy IndustriesKawasaki Heavy Industries (các pa-nen thân máy bay), Fuji Heavy Industries, Ltd. (phần cánh trung tâm),[7] Hawker De Havilland (elevators), ASTA (rudder)[8]Ilyushin (cùng thiết kế khoang hành lý phía trên ghế ngồi).[9]

Chiếc 777 bay lần đầu vào ngày 14 tháng 6 năm 1994 do phi công trưởng thử nghiệm 777 John E. Cashman. Chiếc này sau đó trải qua một chương trình thử nghiệm rộng hơn bất kỳ mô-đen Boeing nào. Việc phát triển, thử nghiệm, giao hàng 777 tuân theo một loạt tài liệu, "Máy bay phản lực thế kỷ 21: Việc xây dựng nên chiếc 777." FAA đã ban giấy cho phép ETOPS đầy đủ 180 phút ("ETOPS-180") cho PW4074 777-200s vào ngày 30 tháng 5 năm 1995. Chiếc 777 là chiếc máy bay đầu tiên được xếp hạng ETOPS-180 khi đi vào hoạt động.

Do chi phí nhiên liệu tăng, các hãng hàng không bắt đầu chú ý đến Boeing 777 như là một giải pháp thay thế so với các máy bay phản lực thân rộng khác. Với các động cơ hiện đại có tỷ lệ hư hỏng cực kỳ thấp (như có thể nhìn thấy trên chứng nhận ETOPS của phần lớn các máy bay phản lực hai động cơ) và công suất đầu ra gia tăng, 4 động cơ là không cần thiết trừ máy bay rất lớn như Airbus A380 hoặc Boeing 747.

Singapore Airlines là hãng hàng không vận hành nhiều máy bay thuộc gia đình Boeing 777 nhất với 68 chiếc đang hoạt động, trong đó 46 chiếc là biến thể 777-200ER, 12 chiếc là 777-300 và 9 chiếc là 777-300ER. 10 chiếc 777-300ER đã được đặt hàng chắc chắn và 13 chiếc nữa là hợp đồng quyền mua. Tuy nhiên, hãng Emirates Airlines vào năm 2011 sẽ qua mặt Singapore Airlines với tổng số 122 chiếc 777.

Đến tháng 6 năm 2008, có tổng cộng 55 khách hàng đã cam kết đặt 1084 đơn hàng cho 777.

Thiết kế[sửa | sửa mã nguồn]

Boeing đã áp dụng các công nghệ tiên tiến trong máy bay 777. Các đặc điểm nổi bật bao gồm:

  • Màn hình hiển thị chuyến bay buồng lái hiển thị bằng màn hình LCD glass cockpit Honeywell
  • Hệ thống điều khiển bay bằng điện số đầy đủ với khả năng đảo qua điều khiển bằng tay trong trường hợp khẩn cấp
  • Điện tử hàng không có thể chỉnh cấu hình bằng phần mềm đầy đủ (Fully software configurable avionics)
  • Túi bay điện tử (Electronic flight bag)
  • Thiết kế nhẹ hơn bao gồm việc sử dụng vật liệu composit (9% trọng lượng)[10]
  • Mạng lưới điện tử hàng không cáp quang
  • Các động cơ cánh quạt trong mạnh mẽ nhất trên máy bay thương mại với đường kính quạt 128 inch (3,2 m) trên GE90-115B1.
  • bộ bánh và các lốp lớn nhất từng được sử dụng trong một máy bay phản lực thương mại. Mỗi lốp của bộ bánh hạ cánh chính của một chiếc 777-300 chịu một suất tải trọng tối đa 52.310 lb (23.730 kg) khi máy bay chất đầy tải, mức tải trọng tối đa cao nhất mỗi bánh lốp của bất cứ máy bay hoạt động nào đã được tạo ra.

Các thông số kỹ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

777-200 777-200ER 777-200LR 777 Freighter 777-300 777-300ER
Phi hành đoàn 2
Số ghế 305 (3-hạng) 303 (3-hạng) N/A 368 (3-hạng) 365 (3-hạng)
Chiều dài 209 ft 1 in (63,7 m) 242 ft 4 in (73,9 m)
Sải cánh 199 ft 11 in (60,9 m) 212 ft 7 in (64,8 m) 199 ft 11 in (60,9 m) 212 ft 7 in (64,8 m)
Góc cụp cánh 31.64°
Chiều cao 60 ft 9 in (18,5 m)
Chiều rộng cabin 19 ft 3 in (5,86 m)
Chiều rộng thân 20 ft 4 in (6,19 m)
Trọng lượng máy bay 307.000 lb
(139.225 kg)
315.000 lb
(142.900 kg)
326.000 lb
(148.181 kg)
N/A 353.600 lb
(160.120 kg)
366.940 lb
(166.881 kg)
Trọng lượng cất cánh tối đa 545.000 lb
(247.210 kg)
656.000 lb
(297.560 kg)
766.000 lb
(347.450 kg)
766.000 lb
(347.450 kg)
660.000 lb
(299.370 kg)
775.000 lb
(351.534 kg)
Tốc độ bay tiết kiệm xăng 0,84 Mach (555 mph, 892 km/h, 481 knots) với độ cao bay tiết kiệm xăng 35.000 ft
Tốc độ bay tiết kiệm xăng tối đa 0,89 Mach (587 mph, 945 km/h, 510 knots) với độ cao tiết kiệm xăng 35.000 ft
Sức chứa hàng 5.302 ft³ (150 m³) 22.455 ft³ (636 m³) 7.080 ft³ (200 m³)
Tầm bay trọng tải trả tiền tối đa 3.250 nm (6.020 km) 5.800 nm (10.740 km) 7.500 nm (13.890 km) 4.895 nm (9.065 km) 3.800 nm (7.035 km) 5.500 nm (10.190 km)
Tầm bay chất hết tải 5.210 nm (9.649 km) 7.730 nm (14.316 km) 9.420 nm (17.446 km) 4.895 nm (9.065 km) 5.995 nm (11.029 km) 7.880 nm (14.594 km)
Chiều dài chạy cất cánh với MTOW ISA+15 MSL 8.200 ft
(2.500 m)
11.600 ft
(3.536 m)
N/A 11.200 ft
(3.414 m)
10.500 ft
(3.200 m)
Dung tích nhiên liệu tối đa 31.000 US gal
(117.335 L)
45.220 US gal
(171.160 L)
53.440 US gal
(202.287 L)
47.890 US gal
(181.280 L)
45.220 US gal
(171.160 L)
47.890 US gal
(181.280 L)
Cao độ tối đa vận hành 43.100 ft (13.135 m)
Động cơ (x 2) PW 4077
RR 877
GE 90-77B
PW 4090
RR 895
GE 90-94B
GE 90-110B
GE 90-115B
GE 90-110B PW 4098
RR 892
GE 90-94B
GE 90-115B

Nguồn: [1], [2]

Các hệ thống chính của Boeing 777[sửa | sửa mã nguồn]

Vệ tinh[sửa | sửa mã nguồn]

Máy bay Boeing 777 có 1 hệ thống giao tiếp với vệ tinh SATCOM. Nó cung cấp độ tin cậy trong đường truyền âm thanh và dữ liệu giao tiếp đường dài. Hệ thống có thể phát và nhận thông tin bao gồm:

  • Giọng nói của phi hành đoàn.
  • Giọng nói của hành khách
  • Dữ liệu giao tiếp
  • Telex
  • Sao chép dịch vụ

Hệ thống dẫn đường[sửa | sửa mã nguồn]

Thiết bị điện tử mới: B777 sử dụng 1 số thiết bị điện tử mới như dung sai lớn (highly fault tolerant) và khối phân tích dữ liệu không khí và định vị quán tính (ADIRS). ADIRS kết hợp hệ thống dữ liệu không khí và hệ thống định vị quán tính thành 2 khối có thể thay thế (LRUs): Thứ nhất hệ thống dữ liệu không khí (ADIRU) và thứ hai là hệ thống phân tích thành phần không khí (SAARU)

Độ tin cậy cao: Bởi vì có 2 khối thay thế chính trong hệ thống thay vì 3 máy tính phân tích dữ liệu về không khí (ADCs) và 3 khối chuẩn quán tính (IRUs) vì thế giảm được khối lượng. Cũng như độ tin cậy cao của ADIRS làm cho giảm những phụ tùng bảo dưỡng và dự phòng.

Vệ tinh dẫn đường: B777 sử dụng những tiến bộ mới nhất trong hệ thống dẫn đường như hệ thống định vị toàn cầu (GPS). GPS làm tăng độ chính xác, góp phần tiết kiệm nhiên liệu và thực hiện các chuyến bay đúng giờ.

Thành phần thiết bị cũ: B777 sử dụng nhiều thiết bị điện tử có thể thay thế LRUs như trong 747-400, 767 và 757 đã sự dụng. Sự dụng những thiết bị điện tử này cũng góp phần giảm chi phí bảo dưỡng và dự phòng.

Hệ thống bay tự động (AFDS)[sửa | sửa mã nguồn]

AFDS có 3 kênh, nó cung cấp sự điều khiển tự động của máy bay & hướng dẫn trong các chuyến bay. Khi được kích hoạt, hệ thống này sẽ bay với đường bay và tốc độ bay đã chọn. AFDS của B777 cũng giống như B747-400, B757, B767. Chỉ khác trong giao diện với hệ thống

Hệ thống điện[sửa | sửa mã nguồn]

Trên B777 có 2 nguồn năng lượng song song cung cấp ngay lập tức năng lượng trên cùng 1 đường truyền, nếu đường truyền này chuyển năng lượng từ nguồn này sang nguồn kia. Điều này cho phép năng lượng điện trên 777 luôn luôn được duy trì.

Hệ thống quản lý tải điện (ELMS: ELMS chịu trách nhiệm phân phối công suất điện trên máy bay. Nó cũng cung cấp điểu khiển logic cho 1 số hệ thống. Vì thế ELMS thay thế rôle logic phức tạp và các bảng mạch trên máy bay.

Hai đầu kết nối năng lượng với bên ngoài:

Đầu là 90kvA từ tram cung cấp mặt đất.

Máy phát phụ

Mỗi động cơ có 1 máy phát 20kvA hoạt động như 1 nguồn năng lượng hỗ trợ việc truyền điện

Máy phát RAT (Ram air Turbine): Một máy phát RAT 7kvA là nguồn năng lượng hỗ trợ cho hoạt động của các thiết bị

Hiển thị cơ bản (Synoptic Display)

Hiển thị cơ bản công suất chỉ ra về thời gian thực trong cấu

Nhiên liệu[sửa | sửa mã nguồn]

Khối lượng nhiên liệu: B777 bao gồm hai khoang nhiên liệu chính ở hai cánh và một khoang nhiên liệu trung tâm có thể chứa được 306.000 pound(139000 kg) đối với B777-200ER và 777-300. Máy bay B777-200 có thùng nhiên liệu trung tâm nhỏ hơn và nó chỉ chứa được 209000 pounds(94700 kg).

Thùng trung tâm tự động xả: Khi nhiên liệu trong thùng trung tâm cạn, các thùng nhiên liệu chính ở hai cánh tự động cung cấp cho động cơ. Lượng nhiên liệu còn lại tự động chuyển sang cho hai thùng chính.

Hệ thống tự động tháo bỏ nhiên liệu: Hệ thống tháo bỏ nhiên liệu ra khỏi máy bay để giảm trọng lượng cho máy bay. Điều đó nhằm bảo vệ máy bay quá tải khi hạ cánh. Hệ thống được kích hoạt bởi phi công và tự động dừng khi máy bay ở khối lượng cất cánh lớn nhất cho phép.

Hệ thống chỉ định dầu siêu âm(FQIS): FQIS sử dụng một hệ thống siêu âm và một tiến bộ vi xử lý để đo lượng dầu.

Phát hiện nước: Những cảm biến siêu âm phát hiện nước được gắn dưới đáy của thùng nhiên liệu.Hệ thống máy tính trung tâm chỉ ra những tin nhắn để cảnh báo thợ bảo dưỡng có nước trong nhiên liệu.

Hệ thống hiển thị tình trạng nhiên liệu: Hệ thống hiển thị một cách tóm tắt dướI dạng biểu đồ nhiên liệu đã được sử dụng.

Mua bán Boeing 777[sửa | sửa mã nguồn]

B777 Orders Deliveries.jpg

Các đơn hàng[sửa | sửa mã nguồn]

2007 2006 2005 2004 2003 2002 2001 2000 1999 1998 1997 1996 1995 1994 1993 1992 1991 1990
143 76 154 42 13 32 30 116 35 68 55 68 101 0 30 30 24 28

Giao hàng[sửa | sửa mã nguồn]

2007 2006 2005 2004 2003 2002 2001 2000 1999 1998 1997 1996 1995 1994 1993 1992 1991 1990
38 65 40 36 39 47 61 55 83 74 59 32 13 0 0 0 0 0

Tai nạn và sự cố[sửa | sửa mã nguồn]

Đến thời điểm tháng 3 năm 2014, Boeing 777 đã dính líu trong 10 vụ tai nạn và sự cố hàng không,[11], trong đó có bốn vụ hỏng thân hoàn toàn[12] và ba vụ không tặc[13]. Trước năm 2013, tử vong chỉ liên quan đến vụ bốc cháy khi tiếp nhiên liệu tại sân bay quốc tế Denver ngày 5/9/2001, khiến một người làm việc ở mặt đất cháy[14] Chiếc máy bay, vận hành bởi British Airways, bị hư hại do lửa ở các tấm dưới cánh và vỏ động cơ; sau đó máy bay đã được sửa chữa và hoạt động trở lại[14][15].

Vụ máy bay hư hại hoàn toàn tại sân bay Heathrow London. Vụ máy bay hư hại hoàn toàn tiếp theo là chuyến bay 214 của Asiana Airlines ở sân bay quốc tế Sans Francisco. Mới đây nhất là việc chiếc máy bay Boeing 777 mang số hiệu MH370 của hãng hàng không Malaysia Airlines mất tích trong chuyến bay từ Kuala Lumpur tới Bắc Kinh vào ngày 8 tháng 3 năm 2014 và việc chiếc Boeing 777 số hiệu MH17 cũng của hãng hàng không Malaysia Airlines bị bắn rơi gần Hrabove, tỉnh Donetsk, Ucraina khi đang bay từ Amsterdam tới Kuala Lumpur ngày 17 tháng 7 năm 2014.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ "Boeing boosts aircraft prices 5.5% on rising cost of labor, materials", Air Transport World, truy cập 26 tháng 6 2007.
  2. ^ "Computing & Design/Build Processes Help Develop the 777." Boeing Commercial Airplanes.
  3. ^ “The 1980s Generation”. Time. 14 tháng 8, 1978. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2007. 
  4. ^ Birtles, Philip (1998). Boeing 777, Jetliner for New Century. MBI Publishing. ISBN 0-7603-0581-1. 
  5. ^ “Business Notes AIRCRAFT”. Time. 29 tháng 10, 1990. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2007. 
  6. ^ Sabbagh, p. 180.
  7. ^ Boeing Co. and Japan - 777 program partners
  8. ^ Sabbagh, p. 112 - 114.
  9. ^ Boeing 777 Technical Research Center 777 joint design
  10. ^ “Boeing 777 Comprehensive Background”. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2006. 
  11. ^ “Boeing 777 occurrences”. Aviation Safety Network. 8 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2014. 
  12. ^ “Boeing 777 hull losses”. Aviation Safety Network. 8 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2014. 
  13. ^ “Boeing 777 Accident Statistics”. Aviation Safety Network. 6 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2013. 
  14. ^ a ă “British Airways Flight 2019 ground fire”. Aviation Safety Network. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2008. 
  15. ^ “DEN01FA157 entry”. National Transportation Safety Board. 24 tháng 2 năm 2005. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2011.