Sân bay quốc tế Narita

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Narita International Airport
成田国際空港
Narita Kokusai Kūkō
[[Hình:{{{airport_image}}}|giữa|200px]]
{{{airport_name}}}
Mã IATA
NRT
Mã ICAO
RJAA
Vị trí
Tọa độ 35°45′50″B, 140°23′30″Đ
NRT trên bản đồ Japan
NRT
NRT
Thông tin chung
Kiểu sân bay Commercial
Cơ quan quản lý Narita International Airport Corporation (NAA)
Khánh thành May 21, 1978
Đường băng
Hướng Chiều dài Bề mặt
ft m
16R/34L 13.123 4.000 Bê tông
16L/34R 7.152 2.180 Bê tông
Statistics (2004)
Số lượng hành khách 31.057.252
Số lượng hàng hóa 2.373.133 t

Sân bay quốc tế Narita (成田国際空港 Sân bay quốc tế Narita?, Narita Kokusai Kūkō) (IATA: NRTICAO: RJAA) là một sân bay quốc tế tọa lạc tại Narita, Chiba, Nhật Bản, phía Đông của Vùng Đại Tokyo. Narita phục vụ phần lớn các chuyến bay vận chuyển hành khách đến và đi Nhật Bản và cũng là điểm kết nối hàng không chính giữa châu Áchâu Mỹ. Đây là sân bay tấp nập thứ 2 Nhật Bản, là sân bay vận chuyển hàng hóa lớn thứ 2 Nhật Bản, sân bay vận chuyển hàng hóa tấp nập thứ 3 thế giới. Đây là trung tâm hoạt động quốc tế của các hãng hàng không Japan AirlinesAll Nippon Airways, và là một trung tâm khu vực châu Á của các hãng Northwest AirlinesUnited Airlines. Năm 2007, sân bay này phục vụ 35.530.035 khách, đứng thứ 24 trong bảng xếp hạng các sân bay bận rộn nhất thế giới.

Sân bay này được gọi là Sân bay quốc tế mới Tokyo (tiếng Anh: New Tokyo International Airport' (tiếng Nhật: 新東京国際空港 Shin-Tōkyō Kokusai Kūkō) cho đến năm 2004. Trong khi Tokyo là nguồn cung chính về khách và hàng hóa của sân bay này, sân bay này lại nằm xa trung tâm Tokyo (mất 1h bằng tàu Express) và nằm trong một tỉnh khác. Sân bay quốc tế Tokyo (Sân bay Haneda) nằm ở trong nội thành Tokyo là sân bay bận rộn nhấtNhật Bản và là sân bay tấp nập thứ tư thế giới dù nó phục vụ rất ít chuyến bay quốc tế.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Việc xây dựng và mở rộng sân bay này đã dấy lên tranh chấp bạo loạn giữa chính phủ và nhân dân Nhật Bản. Do những tranh chấp này, các sân bay mới khác như ở OsakaNagoya là các sân bay (Kansai và sân bay Chūbu đã được xây ở các đảo lấn biển thay vì xây trong khu dân cư đông đúc.

Xây dựng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1962, chính phủ Nhật Bản đã bắt đầu tiến hành nghiên cứu một phương án mới thay thế sân bay Haneda đang quá tải và đề xuất một "Sân bay quốc tế mới Tokyo" để thay thế Haneda tiếp nhận các chuyến bay quốc tế. Tokyo sau chiến tranh đã phát triển nhanh chóng đã khiến cho vùng Quan Đông thiếu đất bằng phẳng để xây sân bay, do đó nơi được lựa chọn là ở tỉnh Chiba. Đầu tiên, các nhà khảo sát đề xuất đặt sân bay ở làng Tomisato; tuy nhiên, địa điểm đã được dời 5 km phía Đông-Bắc của các làng SanrizukaShibayama, nơi Hoàng Gia có một nông trại. Kế hoạch triển khai đã được công bố năm 1966.

Vào thời gian này, phong trào chủ nghĩa xã hội vẫn có sức mạnh đáng kể ở Nhật Bản, thể hiện qua các cuộc bạo loạn của sinh viên ở Tokyo năm 1960. Ngoài ra, những người dân số ở khu vực được lựa chọn xây sân bay này đã sinh sống ở đây đã lâu và không muốn rời bỏ quê cha đất tổ của mình nên nhiều người Nhật "cánh tả mới" phản đối việc xây dựng sân bay Narita với lý do là mục đích chính của việc xây sân bay này là cung cấp thêm phương tiện cho máy bay quân đội Hoa Kỳ trong trường hợp có chiến tranh với Liên Xô. Cuối thập niên 60 của thế kỷ 20, một nhóm các cư dân địa phương phối hợp với các nhà hoạt động sinh viên và các đảng chính trị cánh tả đã lập nên một nhóm mang tên "Liên hiệp Sanrizuka-Shibayama chống lại sân bay Sanrizuka-Shibayama Union to Oppose the Airport (三里塚・芝山連合空港反対同盟 Sanrizuka-Shibayama Rengo Kūkō Hantai Dōmei?), sử dụng sự phối hợp giữa kêu gọi dân chúng, kiện ra tòa và chiến thuật chiến tranh du kích để ngăn cản chính phủ phát triển dự án.

Mở rộng[sửa | sửa mã nguồn]

Terminal 2

Theo quy hoạch ban đầu, Sân bay quốc tế Tokyo có 3 đường băng: hai đường băng Tây Bắc/Đông Nam song song dài 4000 m và một đường băng giao căt Đông Bắc/Tây Nam dài 3200 m. Khi sân bay khánh thành năm 1978, chỉ một trong hai đường băng song song đã được hoàn thành, hai đường kia bị trì hoãn để tranh làm trầm trọng thêm tình hình vốn đang căng thẳng ở khu vực xung quanh. Quy hoạch ban đầu cũng có tuyến đường ray cao tốc Narita Shinkansen nối sân bay với trung tâm Tokyo nhưng dự án này bị hủy bỏ do không đền bù đủ đất. Ngày 26 tháng 11 năm 1986, cơ quan quản lý sân bay này bắt đầu thực hiện giai đoạn 2, một đường băng nằm về phía Bắc của đường băng chính ban đầu. Để tránh các vấn đề gặp phải như giai đoạn 1, Bộ Giao thông Vận tải Nhật Bản đã hứa năm 1991 rằng việc mở rộng này sẽ không liên quan tới việc tước đoạt đất đai. Những người dân ở khu vực xung quanh đã được đền bù do ô nhiễm tiếng ồn và âm thanh từ công trường dù một số nông dân từ chối đi bị cưỡng chế. Đường băng này được mở cửa ngày 18 tháng 4 năm 2002, kịp cho World Cup tổ chức tại Nhật Bản năm đó. Tuy nhiên, đường băng này chỉ dài 2180 m, chỉ hơn ½ độ dài theo quy họach ban đầu, quá ngắn cho tàu bay Boeing 747 cất hạ cánh. Giai đoạn 2 cũng bao gồm việc xây một nhà ga hành khách do Công ty Takenaka xây dựng xong ngày 6 tháng 12 năm 1992.

Suốt cuối thập niên 1980, nhà ga xe lửa chính củaq Sân bay Narita nằm khá xa nhà ga. Bộ trưởng Giao thông Nhật Shintaro Ishihara, người hiện nay là thống đốc Tokyo, đã yêu cầu công ty vận hành tuyến tàu hỏa sân bay là JR và Keisei Railway nối tuyến này trực tiếp vào các nhà ga sân bay và mở nhà ga ngầm để phục vụ tàu Shinkansen đến tận nhà ga. Dịch vụ tàu điện shinkansen trực tiếp đã đến nhà ga ngày 19 tháng 3 năm 1991 và Nhà ga tàu hỏa Narita cũ được đổi tên thành Ga Higashi-Narita.

Cuối thập niên 1980, Liên hiệp (của những người phản đối) xây hai tháp bằng thép cao 30,8 m và 62,3 m phong tỏa đầu phía Bắc của đường băng chính. Tháng 1 năm 1990, Tòa án quận Chiba đã ra lệnh tháo dỡ hai tháp thép này mà không bồi thường cho Liên hiệp; Tòa án Tối cao Nhật Bản đã tán thành phán quyết này là hợp hiến năm 1993.

Các vấn đề hiện nay[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 1 tháng 4 năm 2004, Sân bay quốc tế mới Tokyo đã được tư nhân hóa và chính thức đổi tên thành Sân bay quốc tế Narita, phản ánh mệnh danh nổi tiếng của nó kể từ khi mở cửa. Sau khi tư nhân hóa, sân bay này đã đạt được mức vận tải kỷ lục và nhiều dự án xây dựng được tiếp tục.

Ngoài những tranh chấp chính trị tiếp diễn giảm dần tích ác liệt theo thời gian, các tranh cãi về vị trí và phí hạ cánh đã ảnh hưởng xấu đến sân bay này. Do nhiều hãng hàng không muốn sử dụng nó còn Cục hàng không Nhật Bản lại hạn chế số chuyến bay của mỗi hãng hàng không hoạt động tại đây khiến cho sân bay này đắt đỏ đối với hãng hàng không và hành khách. Một trong những chỉ trích không ngớt về sân bay này là khoảng cách xa trung tâm Tokyo, đi bằng tàu cao tốc nhanh nhất cũng phải mất 1 tiếng và mất thời gian lâu hơn nếu đi bằng đường bộ do nạn kẹt xe. Khoảng cách này càng trở thành vấn đề hơn đối với vùng Tây Tokyo và Tỉnh Kanagawa, cả hai gần Sân bay Haneda hơn. Tuyến Đường sắt Nhanh Narita, dự kiến hoàn thành và mở của năm 2010 sẽ làm giảm thời gian đi bớt 20 phút. Nhiều cổng tại nhà ga Narita đang được lắp đặt cầu dẫn khách đôi để phục vụ tàu bay khổng lồ Airbus A380. Singapore Airlines dự định bay bằng tàu bay A380 đầu tiên đến Narita vào mùa Hè năm 2007. [1]

Dù Bộ Đất đai, Hạ tầng và Giao thông đã cho Sân bay Narita độc quyền phục vụ khách quốc tế đến vùng Tokyo, sự độc quyền này đang dần giảm đi. Sân bay Haneda có một số chuyến bay quốc tế hạn chế đi Đài Loan và sau đó được thay bằng các chuyến đi Sân bay GimpoSeoul. Sau khi xây xong đường băng D ở Haneda năm 2009, chính phủ Nhật Bản có ý định chuyển các chuyến bay quốc tế khác đến Haneda để giảm tải cho Narita. Nhiều kế hoạch xây sân bay thứ 3 cho Tokyo đã được đề xuất, sân bay mới này có thể nằm ở Bãi biển Kujukuri ở Đông Chiba hoặc trên một hòn đảo nhân tạo ở Vịnh Tokyo.

Các nhà ga và các hãng hàng không[sửa | sửa mã nguồn]

Sân bay Narita có hai nhà ga riêng biệt với một nhà ga xe lửa ngầm. Giữa các nhà ga hàng không là xe bus và xe lửa, không có lối đi dành cho người đi bộ nối hai nhà ga.

Hãng hàng không Điểm đến Terminal
Aeroflot Moscow-Sheremetyevo 1 Bắc
Aeroméxico Mexico City 1 Bắc
Air Canada Calgary, Toronto-Pearson, Vancouver 1 Nam
Air China Beijing-Capital, Chengdu, Chongqing, Dalian, Shanghai-Pudong, Shenzhen 1 Nam
Air France Paris-Charles de Gaulle 1 Bắc
Air India Delhi, Mumbai 2
Air Macau Macau [theo mùa] 1
Air New Zealand Auckland 2
Air Niugini Port Moresby 2
Air Tahiti Nui Papeete 2
Aircalin Nouméa 1 Bắc
Alitalia Milan-Malpensa, Rome-Fiumicino 1 Bắc
All Nippon Airways Bangkok-Suvarnabhumi, Bắc Kinh - Thủ Đô, Chicago-O'Hare, Đại Liên, Frankfurt, Quảng Châu, Hàng Châu, Thành phố Hồ Chí Minh, Hong Kong, London-Heathrow, Los Angeles, Munich [từ 01.07.2010][1], Nagoya-Centrair, New York-JFK, Okinawa, Osaka-Itami, Osaka-Kansai, Paris-Charles de Gaulle, Hồng Đào, San Francisco, Sapporo-Chitose, Seoul-Incheon, Thượng Hải - Phố Đông, Thẩm Dương, Singapore, Đài Bắc - Đào Viên, Washington-Dulles 1 Nam
All Nippon Airways bay bởi Air Central Nagoya-Centrair, Sendai 1 Nam
All Nippon Airways bay bởi Air Japan Hong Kong, Honolulu, Singapore, Đài Bắc - Đào Viên 1 Nam
All Nippon Airways bay bởi Air Nippon Fukuoka, Mumbai, Hạ Môn 1 Nam
All Nippon Airways bay bởi Ibex Airlines Hiroshima, Komatsu, Sapporo-Chitose, Sendai 1 Nam
American Airlines Chicago-O'Hare, Dallas/Fort Worth, Los Angeles, New York-JFK 2
Asiana Airlines Seoul-Incheon 1 Nam
Austrian Airlines Vienna 1 Nam
British Airways London-Heathrow 1 Bắc
Cathay Pacific Hong Kong, Đài Bắc - Đào Viên 2
China Airlines Honolulu, Đài Bắc - Đào Viên 2
China Eastern Airlines Bắc Kinh - Thủ Đô, Nam Ninh, Thượng Hải - Phố Đông, Tây An 2
China Southern Airlines Cát Lâm, Dalian, Quảng Châu, Thẩm Dương 2
Continental Airlines Houston-Intercontinental, Newark 1 Nam
Continental Airlines bay bởi Continental Micronesia Guam 1 Nam
Delta Air Lines1 Atlanta, Bangkok-Suvarnabhumi, Beijing-Capital, Busan, Detroit, Guam, Hong Kong, Honolulu, Los Angeles, Manila, Minneapolis/St. Paul, New York-JFK, Portland (OR), Saipan, Thành phố Salt Lake [theo mùa], San Francisco, Seattle/Tacoma, Seoul-Incheon, Thượng Hải - Phố Đông, Singapore, Đài Bắc - Đào Viên 1 Bắc
EgyptAir Cairo 2
Emirates Dubai [2] 2
Etihad Airways Abu Dhabi [3] 1
EVA Air Taipei-Taoyuan 1 Nam
Finnair Helsinki 2
Garuda Indonesia Denpasar/Bali, Jakarta 2
Iran Air Bắc Kinh - Thủ Đô, Seoul-Incheon, Tehran-Imam Khomeini 2
Japan Airlines Amsterdam, Bangkok-Suvarnabhumi, Bắc Kinh - Thủ Đô, Busan, Chicago-O'Hare, Dalian, Delhi, Denpasar/Bali, Frankfurt, Fukuoka, Quảng Châu, Hà Nội, Hong Kong, Thành phố Hồ Chí Minh, Jakarta, Cao Hùng, Kuala Lumpur, London-Heathrow, Los Angeles, Milan-Malpensa, Moscow-Domodedovo, Nagoya-Centrair, New York-JFK, Osaka-Itami, Osaka-Kansai, Paris-Charles de Gaulle, Rome-Fiumicino, San Francisco, São Paulo-Guarulhos, Sapporo-Chitose, Seoul-Incheon, Thượng Hải - Phố Đông, Singapore, Đài Bắc - Đào Viên, Vancouver 2
Japan Airlines bay bởi JAL Express Fukuoka, Nagoya-Centrair, Osaka-Itami 2
Japan Airlines bay bởi JALways Brisbane, Guam, Honolulu, Kona, Manila, Sydney 2
Japan Airlines bay bởi Japan Transocean Air Okinawa 2
Jetstar Airways Cairns, Gold Coast 2
KLM Amsterdam 1 Bắc
Korean Air Busan, Jeju, Los Angeles, Seoul-Incheon 1 Bắc
Lufthansa Frankfurt, Munich 1 Nam
Malaysia Airlines Kota Kinabalu, Kuala Lumpur 2
MIAT Mongolian Airlines Ulan Bator 1 Nam
Pakistan International Airlines Beijing-Capital, Islamabad, Karachi, Lahore 2
Philippine Airlines Cebu, Manila 2
Qantas Perth, Sydney 2
Qatar Airways Doha [từ 26.04.2010] 2
Scandinavian Airlines Copenhagen 1 Nam
Singapore Airlines Los Angeles, Singapore 1 Nam
SriLankan Airlines Colombo, Malé 2
Swiss International Air Lines Zürich 1 Nam
Thai Airways International Bangkok-Suvarnabhumi, Phuket 1 Nam
Turkish Airlines Istanbul-Atatürk 1 Nam
United Airlines Bangkok-Suvarnabhumi, Bắc Kinh - Thủ Đô [theo mùa], Chicago-O'Hare, Honolulu, Los Angeles, San Francisco, Seattle/Tacoma, Seoul-Incheon, Singapore, Đài Bắc - Đào Viên, Washington-Dulles 1 Nam
Uzbekistan Airways Tashkent 1 Nam
Vietnam Airlines Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng 2
Virgin Atlantic London-Heathrow 1 Bắc
Viva Macau Macau 2
Vladivostok Air(hàng hóa) Yuzhno-Sakhalinsk, Vladivostok [4], Khabarovsk [4] 1 Nam
Bên ngoài của Terminal 1 với Tòa nhà trung tâm và Cánh Bắc.
Tầng 3 của Terminal 2
Mạng lưới đường bay - điểm đến quốc tế của sân bay Narita

Hàng hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Hãng hàng không Điểm đến
Aeroflot-Cargo Moscow-Sheremetyevo
AirBridgeCargo Airlines Amsterdam[5], Moscow-Sheremetyevo
Air France Cargo Paris-Charles de Gaulle
Air Hong Kong Hong Kong
ANA & JP Express
Cathay Pacific Hong Kong
China Cargo Airlines Thượng Hải - Phố Đông
FedEx Express Guangzhou, Memphis, Paris-Charles de Gaulle
KLM Cargo Amsterdam
Korean Air Cargo Seoul-Incheon
Lufthansa Cargo Frankfurt
MASkargo Kuala Lumpur, Penang
Nippon Cargo Airlines Amsterdam, Anchorage, Bangkok-Suvarnabhumi, Bắc Kinh - Thủ Đô, Chicago-O'Hare, Guadalajara, Hong Kong, Los Angeles, Nagoya-Centrair, New York-JFK, Milan-Malpensa, Osaka-Kansai, San Francisco, Seoul-Incheon, Thượng Hải - Phố Đông
Polar Air Cargo
Singapore Airlines Cargo Singapore
UPS Airlines Louisville, Ontario, Thượng Hải, Clark

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Các liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử và chính trị: