Shinkansen

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bước tới: menu, tìm kiếm
Các xê ri 300 (trái) và 700 của tàu Shinkansen tại Nhà ga Tokyo
Các xê ri 300 (trái) và 700 của tàu Shinkansen tại Nhà ga Tokyo
Xê ri tàu Shinkansen 500 tại Nhà ga Kyoto, tháng 3 năm 2005
Xê ri tàu Shinkansen 500 tại Nhà ga Kyoto, tháng 3 năm 2005

Shinkansen'(新幹線) là một hệ thống đường sắt cao tốcNhật Bản do 4 tập đoàn đường sắt của Nhật Bản vận hành. Kể từ khi Tōkaidō Shinkansen đầu tiên khánh thành năm 1964 chạy với tốc độ 210 km/h (130 dặm/h), mạng lưới đường ray này (dài 2.459 km hay 1.528 dặm) đã được mở rộng để nối phần lớn các thành phố lớn của Nhật Bản trên các đảo HonshūKyūshū với tốc độ chạy tàu lên đến 300 km/h (186 dặm/h), trong một môi trường thường hay bị động đấtbão lớn. Tốc độ thử nghiệm đạt 443 km/h (275 dặm/h) cho loại tàu thường năm 1996 và lến đến Kỷ lục thế giới 581 km/h (361 dặm/h) đối với loại tàu chạy trên đệm từ maglev vào năm 2003.

Shinkansen có nghĩa là "Tân Cán Tuyến" và do đó chỉ đề cập đến đường ray, còn tàu chạy trên đó thì được gọi chính thức là "Siêu Đặc Cấp" (超特急 chō-tokkyū); tuy nhiên, sự phân biệt này ít được đề cập thậm chí tại Nhật Bản. Trái với các tuyến đường sắt cũ, Shinkansen có khổ đường sắt tiêu chuẩn, và sử dụng các đường ngầm và cầu cạn để đi qua các vật cản chứ không đi quanh chúng.

[sửa] Lịch sử

Đường sắt Shinkansen có khổ rộng tiêu chuẩn,  cực kỳ bằng phẳng, với đường sắt được hàn để tránh rung.
Đường sắt Shinkansen có khổ rộng tiêu chuẩn, cực kỳ bằng phẳng, với đường sắt được hàn để tránh rung.

Nhật Bản là quốc gia đầu tiên xây dựng đường sắt riêng biệt đầu tiên cho tàu cao tốc. Do địa hình đồi núi, tuyến hiện tại bao gồm các tuyến có khổ hẹp 1 mét, nhìn chung theo tuyến gián tiếp và không thể sửa lại cho phù hợp với tốc độ cao. Kết quả là, Nhật Bản đã có nhu cầu lớn cho các tuyến cao tốc nhiều hơn các quốc gia đã có khổ đường sắt tiêu chuẩn hay khổ rộng hiện hữu có tiềm năng nâng cấp.

Công cụ cá nhân