Sân bay quốc tế Toronto Pearson

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Toronto Pearson International Airport
Toronto/Lester B. Pearson International Airport
Lester B. Pearson International Airport
YYZ.JPG
IATA: YYZ - ICAO: CYYZ
Tóm tắt
Kiểu sân bay Public
Cơ quan điều hành Greater Toronto Airports Authority (GTAA)
Phục vụ Toronto, Ontario
Độ cao AMSL 569 ft (173 m)
Tọa độ 43°40′38″B, 079°37′50″T
Đường băng
Hướng Chiều dài Bề mặt
ft m
05/23 11.120 3.389 Asphalt/Bê tông
15L/33R 11.050 3.368 Asphalt
06L/24R 9.697 2.956 Asphalt
15R/33L 9.088 2.770 Asphalt
06R/24L 9.000 2.743 Asphalt
Statistics (2006)
Số lượng hành khách 30.900.000
Số lượng chuyến bay 418.000

Sân bay quốc tế Toronto/Lester B. Pearson, hay Sân bay Pearson (IATA: YYZICAO: CYYZ), nằm giữa biên giới Đông-Bắc của MississaugaToronto láng giềng, là sân bay tấp nập nhất Canada và là một phần của Hệ thống các sân bay quốc gia. Năm 2005 sân bay này xếp thứ 29trong bảng xếp hạng các sân bay bận rộn nhất thế giới, phục vụ 29,9 triệu lượt hành khách và xếp thứ 23 trong các sân bay bận rộn nhất thế giới về lưu lượng giao thông với 409.401 chuyến.[1] Năm 2006, 30,9 triệu hành khách đã sử dụng sân bay này, với 418.000 lượt chuyến bay. 505.000 tấn hàng cũng được thông qua sân bay này năm 2006. Sân bay này phục vụ cho khu vực Vùng đại đô thị Toronto, là trung tâm hàng đầu của hãng Air Canada. Trước đây được quản lý bởi Transport Canada, Sân bay quốc tế Toronto Pearson hiện đang được quản lý bởi mọt hãng phi lợi nhuận gọi là Sở sân bay Đại Toronto.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Sân bay này lần đầu mở cửa năm 1939 với tên Sân bay Malton. Sau đó được đổi tê Sân bay quốc tế Toronto năm 1960, và sau đó là Sân bay quốc tế Lester B. Pearson (LBPIA) năm 1984 để vinh danh Lester B. Pearson, thủ tướng thứ 14 của Canada. Ngày 2/12 năm 1996, việc kiểm soát vận hành sân bay đã được chuyển từ Chính phủ Canada sang cho Sở sân bay Đại Toronto (GTAA) như là một phần của Chính sách sân bay quốc gia. Tên đầy đủ của sân bay, theo GTAA, hiện nay là "Toronto Pearson International Airport" hay "Toronto Pearson", nhưng đôi lúc cũng được gọi đơn giản là "Pearson." Các hãng thông tấn và lữ hành thường gọi sân bay này là "Lester B. Pearson International Airport."

Năm 1972, chính phủ đã giải tỏa khu đất phía Đông của Toronto để xây một sân bay thứ hai là Sân bay Pickering, để giảm tải cho sân bay Toronto. Dự án bị trì hoãn năm 1975 do sự phản đối của cộng đồng nhưng GTAA khởi động lại dự án năm 2004. Sau sự kiến 11 tháng 9, Toronto Pearson là một phần của Operation Yellow Ribbon, khi nó tiếp nhận 19 chuyến bay chuyển hướng thay vì bay đến Hoa KỳTransport CanadaNAV CANADA đã chỉ dẫn các phi công tránh sân bay như một biện pháp an ninh. Năm 2006, Toronto Pearson được bầu chọn là "Sân bay toàn cầu tốt nhất 2006" bởi Viện nghiên cứu Quản lý vận tải (ITM).[2]

Các nhà ga (Terminal) và các hãng hàng không[sửa | sửa mã nguồn]

Bên trong Terminal 1, Jonathan Borofsky's I Dreamed I Could Fly

Toronto Pearson International Airport hiện có hai nhà ga hàng không đang hoạt động: Terminal 1 and Terminal 3. T1 mở cửa ngày 6/4 năm 2004, với hãng chủ yếu là Air Canada. Nhà ga Terminal 1 cũ, đồng thời cũng được đóng cửa, đã được phá bỏ để nhường chỗ cho các cổng nới ra phía Đông của Pier E và các cổng của các hãng từ Pier E đến Pier F. Là một phầnc ủa kế hoạch tái phát triển Toronto Pearson, Nhà ga Infield Terminal (IFT) đã được xây để phục vụ các chuyến bay quốc tế khi nhà ga T1 được mở rộng. Việc sử dụng Infield Terminal được quy hoạch để hạn chế trong những giai đoạn cao điểm trong năm. Pier F tại Terminal 1 mở của ngày 30 tháng Giêng năm 2007; pier này phục vụ cho các tuyến đi Hoa Kỳ và quốc tế và bổ sung năng lực 7 triệu khách mỗi năm cho tổng công suất của sân bay này. Cuối năm 2008, Terminal 2 sẽ hoàn toàn bị dỡ bỏ và nơi này sẽ dành cho các tàu bay đỗ.

Các nhà ga (terminal) hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Terminal 1[sửa | sửa mã nguồn]

Terminal 1 building
Terminal 1 seen from the airstrip

T1 được thiết kế để phục vụ các chuyến bay nội địa, quốc tế và xuyên biên giới trong một nhà ga chung. Ngày 30/1/2007, Pier F mới được mở cửa để phục vụ các tuyến bay quốc tế và xuyên biên giới.

Nhà ga này được thiết kế bởi Skidmore, Owings & Merrill International Ltd., Hội kiến trúc Adamson, và Moshe Safdie and Associates.

Thống kê nhà ga 1:

  • Hãng hàng không: N/A
  • Lượng hành khách theo giờ: N/A
  • Lượng hành khách theo năm: N/A
  • Tổng hành khách: N/A
  • Số cổng: 49 (2007)

Các hãnh hàng không sử dụng nhà ga 1:

  • Air Canada (Abbotsford, Antigua and Barbuda, Aruba, Atlanta, Barbados, Beijing, Bermuda, Bogota, Boston, Buenos Aires-Ezeiza, Calgary, Cancún, Caracas, Cayo Coco, Cayo Largo del Sur, Charlottetown (theo mùa), Chicago-O'Hare, Cozumel, Dallas/Fort Worth, Delhi [ends 29 April 2007], Denver, Dublin (theo mùa), Edmonton, Fort Lauderdale, Fort McMurray, Fort Myers, Frankfurt, Fredericton, Grand Cayman, Halifax, La Habana, Holguin, Hong Kong, Kansas City, Kelowna, Kingston, La Romana, Los Cabos, Honolulu, Houston-Intercontinental, Las Vegas, Lima, London-Heathrow, Los Angeles, Manchester (UK) [seasonal], Mexico City, Moncton, Montego Bay, Miami, Milwaukee, Montréal, Munich, Nassau, New York-LaGuardia, Newark, Orlando, Ottawa, Paris-Charles de Gaulle, Philadelphia, Phoenix, Port of Spain, Providenciales, Puerto Plata, Puerto Vallarta, Punta Cana, Regina, Raleigh/Durham, Rome-Fiumicino, Saint John, San José (CR), San Diego, San Francisco, San José del Cabo, San Juan, Santiago, Santo Domingo, São Paulo-Guarulhos, Saskatoon, Shanghai-Pudong, Shannon (theo mùa), St. John's, St. Lucia, St. Louis, St. Maarten (theo mùa), Seattle/Tacoma, Seoul-Incheon, Tampa, Tel Aviv, Thunder Bay, Tokyo-Narita, Vancouver, Varadero, Victoria, Washington-Reagan, West Palm Beach, Winnipeg, Ixtapa-Zihuatanejo, Zürich)
    • Air Canada Jazz (Albany, Allentown/Bethlehem, Atlanta, Baltimore/Washington, Boston, Charlotte, Charlottetown [seasonal], Cleveland, Columbus, Dallas/Ft. Worth, Detroit, Fredericton, Halifax, Harrisburg, Hartford, Indianapolis, Kingston (ON), London (ON), Manchester (NH), Milwaukee, Minneapolis/St. Paul, Moncton, Nashville, North Bay, Ottawa, Pittsburgh, Providence, Quebec City, Raleigh/Durham, Regina, Rochester (NY), Sarasota [seasonal], Sarnia, Saskatoon, Sault Ste. Marie, Saint John, St. John's, Sudbury, Thunder Bay, Timmins, White Plains, Windsor, Winnipeg)
  • Air Jamaica (Kingston)
  • Alitalia (Milan-Malpensa, Rome-Fiumicino)
  • Austrian Airlines (Vienna)
  • Condor Airlines (Frankfurt)
  • Etihad Airways (Abu Dhabi, Brussels)
  • Lufthansa (Frankfurt)
  • Mexicana (Mexico City)
  • Sunwing Airlines (Acapulco (theo mùa), Cayo Coco (theo mùa), Camaguey (theo mùa), Holguin (theo mùa), Huatulco (theo mùa), Liberia (CR) (theo mùa), Montego Bay (theo mùa), Punta Cana (theo mùa), Puerto Plata (theo mùa), Puerto Vallarta (theo mùa), Santiago de Cuba (theo mùa), Varadero (theo mùa))
  • United Airlines (Chicago-O'Hare, San Francisco)

Infield Terminal (IFT)[sửa | sửa mã nguồn]

Được xạy dựng trong suốt tháng 2 năm 2001 và mở cửa vào ngày 6 tháng 4 năm 2003, nhà ga này được xây dựng để giảm tải trong khi Terminal 1 được mở rộng. Nhà ga gồm 11 cửa (521 đến 531), được sử dụng khi lượng hành khác tăng cao.

Terminal 2 East Holdroom[sửa | sửa mã nguồn]

Holdroom phía đông được xây thêm vào năm 1990 và sẽ hoạt động sau khi Terminal 2 đóng cửa và kết thúc việc mở rộng Terminal 1.

Terminal 3[sửa | sửa mã nguồn]

Terminal 3 overview

Terminal 3, mở cửa tháng 2/1991, được xây bởi hãng Scott Associates Architects Incorporated Các số liệu thống kê về T3:

  • Airlines: N/A
  • Passengers per hour: N/A
  • Passengers per year: N/A
  • Total Passengers: N/A
  • Gates: 29

Các hãng sử dụng Terminal 3:

Các chuyến bay thuê bao[sửa | sửa mã nguồn]
  • Air Transat (Summer Destinations: Amsterdam, Athens, Belfast, Birmingham (UK), Dublin, Edinburgh, Exeter, Frankfurt, Glasgow, Belfast, Newcastle, Hamburg, London-Gatwick, London-Heathrow [starts May 2007], Lyon, Madrid, Munich, Paris, Ponta Delgada, Shannon, Toulouse, Vienna [starts May 10, 2007]; Winter Destinations: Acapulco, Belfast, Camaguey, Cancún, Cayo Coco, Cayo Largo, Faro, Fort Lauderdale, Glasgow, Holguin, Ixtapa, La Romana, Las Vegas, Lisbon, London-Gatwick, Manchester (UK), Manzanillo, Montego Bay, Montréal, Orlando, Panama City, Porlamar, Porto, Puerto Plata, Puerto Vallarta, Punta Cana, St.Lucia [Winter only], St. Maarten, Samana, San Andres, San Jose(CR), San Salvador, Santa Clara, Varadero)
  • CanJet (Cozumel, Montego Bay, Nassau, Punta Cana, Varadero)[1]
  • Conquest Vacations (St. Petersburg/Clearwater)
  • Sunwing Airlines (St. Petersburg/Clearwater)
  • Kelowna Flightcraft (Kelowna)
  • Skyservice (Summer Destinations: Bridgetown, Calgary, Cancun, Cayo Coco, Edmonton, Fort Lauderdale, Gander, Holguin, Kingston, Lajes, Lamezia, Las Vegas, Lisbon, Montego Bay, Nassau, Oranjestad, Orlando, Pescara, Ponta Delgada, Porto, Port of Spain, Puerto Plata, Puerto Vallarta, Punta Cana, Rome, San Jose del Cabo, St. George's, St. Johns, St. Petersburg, Stephenville, Trieste, Vancouver, Varadero, Venice; Winter Destinations: Acapulco, Arrecife, Bahias de Huatulco, Belize, Bridgetown, Camaguey, Cancun, Cayo Coco, Cienfuegos, Cozumel, Faro, Fort Lauderdale, Holguin, Ixtapa/Zihuatanejo, La Ceiba (Honduras), La Romana, Las Vegas, Liberia (CR), Manzanillo, Margarita, Mazatlan, Merida, Miami, Montego Bay, Nassau, Oranjestad, Orlando, Port of Spain, Puerto Plata, Puerto Vallarta, Punta Cana, Samana, San Jose Del Cabo, Santa Clara/Cayo Santa Maria, Santiago de Cuba, St. John's, St. Kitts, St. Lucia, St. Petersburg, Varadero, Willemstad)

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Airports Council International 2005 final traffic movments
  2. ^ Greater Toronto Airport Authority - Toronto Pearson Voted "Best Global Airport 2006" by the Institute of Transport Management - Oct 30, 2006