Scandinavian Airlines System

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Scandinavian Airlines System (SAS)
Scandinavian Airlines logo.svg
Mã IATA
SK
BU
Mã ICAO
SAS
CNO
Tên hiệu
SCANDINAVIAN
SCANOR
Thành lập 1946
Trạm trung chuyển chính Sân bay Copenhagen
Sân bay Stockholm-Arlanda
Sân bay Oslo, Gardermoen
Chương trình hành khách thường xuyên EuroBonus
Phòng khách Scandinavian Lounge & Business Lounge
Liên minh Star Alliance
Số máy bay Total: 148
SAS International: 11
SAS Thụy Điển: 37
SAS Đan Mạch: 40
SAS Na Uy: 58
+ Orders: 24
Điểm đến 112
Công ty mẹ SAS AB
Trụ sở chính

Stockholm, Thụy Điển
*SAS Group, SAS AB
*Scandinavian Airlines Sverige
Copenhagen, Đan Mạch
*Scandinavian Airlines Danmark
*Scandinavian

Airlines Intercontinental
Bærum, Na Uy
*Scandinavian Airlines Norge
Nhân vật then chốt Mats Jansson (CEO of SAS Group
Gunilla Berg (CFO of SAS Group
Susanne Larsen (CEO SAS Denmark)
Ola H. Strand (CEO SAS Norway)
Anders Ehrling (CEO SAS Sweden)
Trang web http://www.flysas.com

Hãng hàng không Scandinavia (tên tiếng Anh: Scandinavian Airlines System, thường viết tắt là SAS; mã IATA: SK; mã ICAO: SAS) là hãng hàng không đa quốc gia của các nước Đan Mạch, Thụy Điển, Na Uy. Hãng hàng không Scandinavia được thành lập ngày 1 tháng 8 năm 1946 bởi Công ty hàng không Đan Mạch (Det Danske Luftfartselskab A/S), Công ty hàng không liên lục địa Thụy Điển (Svensk Interkontinental Lufttrafik AB) và Công ty hàng không Na Uy (Det Norske Luftfartselskap AS).

Hãng hàng không Scandinavia có trụ sở chính tại Frösunda (Solna, bắc Stockholm), sử dụng Phi trường CopenhagenPhi trường Stockholm-Arlanda làm phi trường căn cứ (airlines hub). Năm 2006, hàng hàng không này chuyên chở hơn 25 triệu lượt khách (không kể các công ty hàng không phụ thuộc trong Tập đoàn SAS).

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Khi mới thành lập, hãng được các chính phủ góp vốn như sau: Đan Mạch 2/7 (tức 28,6%), Na Uy 2/7 (28,6%), Thụy Điển 3/7 (42,8%). Ngày nay chính phủ Đan Mạch chỉ có 14,3%, chính phủ Na Uy 14,3%, chính phủ Thụy Điển 21,4% cộng chung là 50%. Số 50% vốn còn lại là do các nhà đầu tư mua cổ phần. Mục đích ban đầu khi thành lập, hãng nhắm khai thác các tuyến đường xa với tên Overseas SAS (Hệ hàng không Scandinavia hải ngoại). Cùng năm, hãng đưa loại máy bay Douglas DC-4 vào sử dụng. Hai năm sau - năm 1948 - hãng lập các tuyến bay châu Âu gọi là European SAS (Hệ hàng không Scandinavia châu Âu). Tới năm 1951, hãng nhập chung hai tuyến đường này. Năm 1954, Hãng hàng không Scandinavia là hãng hàng không đầu tiên trên thế giới mở đường bay xuyên cực từ Copenhagen qua Søndre Strømfjord (Greenland), Winnipeg (Canada) tới Los Angeles, California (Hoa Kỳ) bằng máy bay DC-6. Tuyến đường này rất được các ngôi sao điện ảnh, các nhà sản xuất phim ở Hollywood và các du khách Hoa Kỳ thời đó ưa chuộng, mỗi khi du hành qua châu Âu.

Năm 1957, hãng mở thêm tuyến đường Copenhagen - Anchorage, (Alaska) - Tokyo, làm giảm giờ bay giữa châu Âu và Nhật Bản từ 50 giờ xuống còn 32 giờ. Năm 1959, hãng đưa máy bay phản lực vào sử dụng (loại máy bay Caravelle của Pháp). Năm 1971, hãng đưa máy bay Boeing 747 vào sử dụng.

Dần dần hãng kiểm soát được các thị trường nội địa của 3 nước bằng cách mua toàn phần hoặc từng phần các hãng hàng không địa phương, kể cả Braathens Airlines, Widerøe của Na Uy, các hãng Linjeflyg, Skyways Express của Thụy Điển và Cimber Air của Đan Mạch.

Năm 1989, hãng hàng không Scandinavia mua 18,4% cổ phần của Texas Air Corporation (công ty mẹ của Continental Airlines) nhằm tạo liên minh toàn cầu (nhưng sau đó hãng đã bán cổ phần của mình). Trong thập niên 1990, hãng cũng mua 20% cổ phần của công ty British Midland (BMI), cùng với hãng Lufthansa làm chủ 49,9% vốn của hãng này. Hãng cũng mua 94,9% cổ phần của Spanair, hãng hàng không lớn thứ nhì Tây Ban Nha và 37,5% cổ phần hãng Air Greenland.

Tháng 5 năm 1997, hãng hàng không Scandinavia cùng với Air Canada, Lufthansa, Thai Airways InternationalUnited Airlines lập ra Star Alliance.

Tháng 6 năm 2001 hãng thay đổi cơ cấu sở hữu chủ: Thụy Điển 21,4%, Đan Mạch 14,3% và Na Uy 14,3%. Số 50% còn lại do các nhà đầu tư mua tại các thị trường chứng khoán.

Năm 2004, hãng chia ra thành các công ty độc lập như sau:

Các công ty hàng không trực thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

  • SAS International, đảm nhiệm các chuyến bay đường dài liên lục địa từ 2 phi trường Copenhagen và phi trường Stockholm. Hãng này cũng đảm nhiệm mọi đơn vị bán vé, bán hàng ở ngoài vùng Scandinavia. Công ty này có khoảng 900 nhân viên.
  • SAS Danmark, đảm nhiệm các chuyến bay nội địa và các chuyến bay từ Copenhagen tới các nước châu Âu cùng các đơn vị bán vé ở Đan Mạch. Công ty này có khoảng 2.800 nhân viên.
  • SAS Sverige, đảm nhiệm các chuyến bay nội địa và các chuyến bay từ Stockholm tới các nước châu Âu, cùng các đơn vị bán vé ở Thụy Điển. Công ty này có khoảng 2.500 nhân viên.
  • SAS Norge (gồm cả công ty Braathens airlines, lúc đầu gọi là SAS Braathens, tới năm 2007 đổi thành Scandinavian Airlines Norge) đảm nhiệm các chuyến bay nội địa và các chuyến bay từ Na Uy tới các nước châu Âu, cùng các đơn vị bán vé ở Na Uy. Công ty này có khoảng 3.500 nhân viên.
  • SAS Business Opportunities kinh doanh các lãnh vực Fligtshop, Fly & Stay, Marketing Partnerships, Travel Related Partnerships, Licensing.

Đội máy bay[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2006 Hãng hàng không Scandinavia có 146 máy bay các loại chia ra như sau:

  • SAS International: 11
  • SAS Danmark: 40
  • SAS Sverige: 37
  • SAS Norge: 58

Chương trình EuroBonus[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1991, Hãng hàng không Scandinavia đưa ra chương trình Eurobonus dành cho các khách hàng trung thành của hãng. Hành khách nào du hành bằng máy bay của hãng một số lần do hãng ấn định, sẽ được hưởng một số điểm để tính giảm giá vé hoặc được miễn phí.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]