Nam Bộ kháng chiến

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nam Bộ kháng chiến
Một phần của Chiến tranh Đông Dương
.
Thời gian 2 tháng 9, 19451946
Địa điểm Nam Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Việt Nam
Kết quả Quân đội Việt Nam sau khi chống trả, rút về chiến khu và tiến hành kháng chiến lâu dài
Tham chiến
Flag of France.svg Pháp

Flag of the United Kingdom.svg Anh

Cờ của Nhật Bản Nhật Bản

Flag of North Vietnam 1945-1955.svg Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Chỉ huy
Flag of France.svg Philippe Leclerc de Hauteclocque
Flag of the United Kingdom.svg Douglas Gracey
Flag of North Vietnam 1945-1955.svg Phạm Ngọc Thạch
Flag of North Vietnam 1945-1955.svg Nguyễn Văn Nguyễn
Flag of North Vietnam 1945-1955.svg Dương Văn Dương
Flag of North Vietnam 1945-1955.svg Nguyễn Bình
Flag of North Vietnam 1945-1955.svg Nguyễn Sơn
Flag of North Vietnam 1945-1955.svg Lê Duẩn
Lực lượng
Flag of France.svg 35.000

Flag of the United Kingdom.svg Cờ của Ấn Độ 1.0000
Cờ của Nhật Bản 4.000

Không thống kê được
.

Nam Bộ kháng chiến là một hoạt động quân sự trong chiến tranh Đông Dương. Được lấy mốc là ngày 23/9/1945, khi quân Pháp đánh Nam Bộ.

Chiến sự ban đầu diễn ra trên chiến trường Nam Bộ, sau đó phát triển ra Tây NguyênNam Trung Bộ.

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi giành chính quyền trên toàn quốc, Việt Minh thành lập chính thể và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tại miền Nam Việt Nam, được sự giúp đỡ của Anh, quân Pháp có ý định chiếm miền Nam. Chính phủ Việt Minh và sau đó là Chính phủ liên hiệp có sự tham gia của một số đảng phái khác quyết tâm chống lại sự xâm lược của Pháp. Tại miền Nam, nhiều tổ chức vũ trang tự phát của các tổ chức, quần chúng thành lập đánh Pháp (bao gồm cả các lực lượng không của Việt Minh, hay các lực lượng thuộc Việt Nam dân chủ cộng hòa nắm về hình thức) - nhưng sau phân hóa, hoặc sáp nhập... Lâm ủy hành chính thiết lập Quốc Gia Tự Vệ Cuộc và lực lượng Quốc vệ đội - công an vũ trang. Tại các tỉnh, cấp ủy và chính quyền đều tổ chức các đội tự vệ và du kích chiến đấu.

Theo Hoàng Quốc Việt, riêng Sài Gòn, đến tháng 10-1945 đã có 800 đội tự vệ với 15.000 chiến sĩ[1]. Việt Minh nắm lực lượng vũ trang của Tổng công đoàn Nam Bộ, Tổ chức vũ trang Bình Xuyên ( hai lực lượng của Ba Dương, Tám Mạnh) sát cánh Việt Minh, "Đệ nhất sư đoàn" (Cộng hòa vệ binh) cải tổ các đơn vị Bảo an binh trước đây, bổ sung thêm nhiều thanh niên, công nhân, học sinh... do các chỉ huy cũ của Pháp và Nhật (Trương Văn GiàuNguyễn Văn Quạn) chỉ huy, Việt Minh nắm được, tập hợp ba đơn vị Bảo an binh là lữ đoàn cơ động Chí Hoà (brigare mobile Chí Hoà), lữ đoàn cơ động Gia Định (brigare mobile Gia Định) và lữ đoàn trợ giúp (brigade auxiliaire). Ba đơn vị được bổ sung những công nhân, thanh niên cốt cán, tất cả khoảng một vạn người. "Đệ nhị sư đoàn" của Dương Văn Giáo, tất cả khoảng 1.000 người, "Đệ tứ sư đoàn" của Nguyễn Hòa Hiệp bao gồm cả thành phần tờrốtkít, các thành phần giáo phái khoảng 1.000 người, "Đệ tam sư đoàn" của Lý Huê Vinh quân số lên 500 người[2] (sau tan rã), quân đội Hòa Hảo, Cao Đài do các lực lượng chính trị khác tổ chức. Các cấp chính quyền sau Cách mạng nhiều nơi bổ sung các lực lượng ngoài Việt Minh. Do tình hình tại miền nam khá phức tạp, trong khi miền Bắc, mâu thuẫn đã đưa tới các lực lượng đối lập rời khỏi Chính phủ. Vì thế cuộc kháng chiến gặp nhiều trở ngại.[cần dẫn nguồn]

Kế hoạch[sửa | sửa mã nguồn]

Diễn biến[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 2/9/1945 tại Sài Gòn-Chợ Lớn[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 2 tháng 9, 1945, khi người dân Sài Gòn-Chợ Lớn tổ chức mít tinh chào mừng "Ngày độc lập" thì lính Pháp trong các tòa nhà bắn ra làm 47 người thiệt mạng.

Ngày 6 tháng 9, 1945, quân đội Anh theo sự phân công của phe Đồng minh đến Việt Nam giải giáp quân Nhật đổ bộ vào Sài Gòn. Lợi dụng sự kiện nổ súng ngày 2 tháng 9, Quân Anh vu cho chính quyền Việt Nam không giữ được trật tự. Phái bộ Anh lệnh cho lính Nhật tước vũ khí và đòi chính quyền cách mạng ở đây phải giải tán các đơn vị tự vệ, cấm người dân biểu tình. Kèm theo đó, phía sau quân đội Anh là một lực lượng lính Pháp đang chờ để quay lại Đông Dương.

Ngày 20 tháng 9, quân đội Anh thả các tù binh Pháp bị giam từ ngày Nhật đảo chính; ra lệnh đóng cửa tất cả báo chí ở Sài Gòn.

Ngày 21 tháng 9, quân Anh chiếm đóng trụ sở cảnh sát quận 3, thả tù binh Pháp và tái trang bị; đồng thời, ra lệnh thiết quân luật, cấm người dân không được biểu tình, hội họp, đem theo vũ khí và đi lại ban đêm. Quyền tự do, độc lập của Chính quyền và người dân Việt Nam mới giành được từ tay Nhật nay bị xâm hại nghiêm trọng. Và đến 0 giờ ngày 23, quân đội Anh đã làm ngơ cho quân Pháp tiến đánh Sài Gòn.

Chiến sự tại Sài Gòn[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Trận Sài Gòn (1945)

Ngày 23 tháng 9 năm 1945, quân đội Pháp bất ngờ đánh úp quân đội Việt Nam tại Sài Gòn-Chợ Lớn. Họ gặp phải sự kháng cự quyết liệt của các lực lượng Việt Minh ở đây, đặc biệt là Liên khu Bình Xuyên do Dương Văn Dương (sau là Thiếu tướng) chỉ huy. Quân Pháp bị bao vây trong thành phố.

Phản ứng của Chính quyền Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Ngay sáng 23 tháng 9, chính quyền Nam Bộ đã họp tại phố Cây Mai, Chợ Lớn. Tham dự có các nhân vật quan trọng như Ung Văn Khiêm, Trần Văn Giàu, Nguyễn Văn Nguyễn, Phạm Ngọc Thạch, Huỳnh Văn Tiểng... Hội nghị nhất trí điện ra Chính phủ Trung ương xin phép được kháng chiến và trên thực tế, quân dân Sài Gòn-Chợ Lớn đã buộc phải đứng lên kháng chiến vì quyền lợi của quốc gia dân tộc. Hội nghị cũng thành lập Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ do Trần Văn Giàu làm Chủ tịch và Ủy ban Kháng chiến Sài Gòn-Chợ Lớn do Nguyễn Văn Tư làm Chủ tịch.

Đến chiều, Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ ra tuyên cáo: "Sáng hôm 23 tháng 9, quân Pháp công nhiêm chiếm trụ sở Ủy ban hành chính Nam Bộ và quốc gia tự vệ cuộc. Chúng đã gây đổ máu ở đường phố Sài Gòn... Không lẽ chịu nhục hoài; vì danh dự của dân tộc, chúng ta coi trọng quyền lợi của quốc gia, nên chúng tôi phải đánh điện ra Trung ương xin phép cho kháng chiến..."

Ngày 24 tháng 9, Chính phủ Việt Nam ra Huấn lệnh gửi quân dân Nam Bộ.

Ngày 26 tháng 9, Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Hồ Chí Minh gửi thư biểu dương "lòng kiên quyết ái quốc của đồng bào Nam Bộ". Cùng ngày, Chính phủ lại ra lời hiệu triệu kêu gọi nhân dân "Hãy ủng hộ phong trào đấu tranh oanh liệt của đồng bào Nam Bộ".

Cùng với đó, chính phủ Việt Nam thành lập các đoàn quân Nam tiến, quỹ Nam Bộ Kháng chiến... và nhiều lần quyên góp ủng hộ, chi viện cho Nam Bộ. Các tướng lĩnh quan trọng được cấp tốc cử vào như Nguyễn Bình, Nguyễn Sơn...

Chiến sự lan rộng[sửa | sửa mã nguồn]

Trong cuộc chiến ở Sài Gòn, trước sự kháng chiến của quân dân Nam Bộ, quân Pháp xin đình chiến từ ngày 30 tháng 9. Nhưng thực ra, họ đang chờ đợi quân tiếp viện từ Pháp sang. Và sau khi được bổ sung thêm 1 trung đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn cơ giới, 1 đội thủy quân, ngày 12 tháng 10, quân Pháp nổ súng trở lại và nhanh chóng phá vòng vây.

Quân Pháp nhanh chóng mở rộng vùng chiếm đóng xuống vùng đồng bằng châu thổ sông Cứu Long: Ngày 25 tháng 10, chiếm Mỹ Tho, Gò Công; ngày 29 tháng 10 chiếm Vĩnh Long; nhày 30 tháng 10 chiếm Cần Thơ. Trước đó, quân đội Anh chiếm Biên Hoà, Thủ Dầu Một và giao lại cho Pháp.

Việt Nam mất Hà Tiên, Rạch Giá, Sóc Trăng, Bạc Liêu vào tháng 1 năm 1946. Tháng 3 năm 1946, quân Anh rút khỏi đây để lại cho Pháp. Ngày 5 tháng 2 năm 1946, Anh-Pháp tiến vào đất mũi Cà Mau.

Tháng 9 năm 1945, quân Anh tiến lên miền duyên hải Nam Trung Bộ đổ bộ lên Nha Trang, tước vũ khí Nhật trang bị cho 2000 tù binh Pháp và Pháp kiều ở đây. Anh cho quân Nhật chiếm các thị xã Phan Rang, Phan Thiết, Đà Lạt, nhưng đều thất bại.

Ngày 23 tháng 10 năm 1945, Pháp đổ bộ lên Nha Trang, ngay sau đó bị các đội quân dân Việt Nam bao vây trong thành phố. Quân Pháp bị cầm chân gần hai tháng.

Trước sự lan rộng của cuộc chiến, ngày 25 tháng 10 năm 1945, chính quyền Việt Nam tại Nam Bộ đã họp Hội nghị Thiên Hộ, đề ra những biện pháp hạn chế quân Pháp và cử ông Tôn Đức Thắng làm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến kiêm lãnh đạo các lực lượng vũ trang Nam Bộ.

Đến ngày 4 tháng 12 năm 1945, Pháp chiếm Buôn Ma Thuột; ngày 27 tháng 1 chiếm Đà Lạt; ngày 28 tháng 1 chiếm Phan Rang và cuối cùng là Quy Nhơn, Kon Tum (tháng 7 năm 1946), kiểm soát phía Nam đường 1.

Chiến sự tại Tây NguyênNam Trung Bộ cũng khốc liệt như Nam Bộ. Sự kháng cự của quân đội Việt Nam khiến quân Pháp phải bỏ nhiều buôn làng, vị trí mới chiếm được ở Tây Nguyên. Quân đội Việt Nam giành lại thị xã Buôn Ma Thuột vào trung tuần tháng 12.

Cuối tháng 12 năm 1945, để củng cố các tỉnh miền tây, chính quyền Việt Nam tại Nam Bộ đã tước vũ khí quân NhậtHà Tiên, Rạch Giá, Sóc Trăng, Bạc Liêu, đây là nguồn vũ khí đáng kể đầu tiên của quân đội Việt Nam tại Nam Bộ.

Kết quả[sửa | sửa mã nguồn]

Sau này, tướng Nguyễn Bình tổ chức thống nhất các lực lượng năm 1948, thành lập lực lượng Vệ quốc đoàn (lực lượng quân sự của Việt Minh). Việt Minh rút về những căn cứ đầm lầy và rừng núi, xây dưng chiến khu. Một số thành phần bất đồng không chấp nhận cuộc kháng chiến đã ly khai khỏi Việt Minh.

Tưởng niệm[sửa | sửa mã nguồn]

Trong văn hóa - nghệ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Nhạc sĩ nghiệp dư Tạ Thanh Sơn đã cảm hứng sáng tác bài Nam Bộ Kháng Chiến.

"Mùa thu rồi ngày hăm ba
Ta đi theo tiếng kêu sơn hà nguy biến.
Rền khắp trời lời hoan hô
Dân phương Nam nhịp chân tiến ra trận tiền.
Thuốc súng kém, chân đi không
Mà đoàn người giàu lòng vì nước.
Đốc với giáo mang ngang vai
Nhưng thân trai nào kém oai hùng.
Cờ thắm tung bay ngang trời
Sao vàng xao xuyến khắp nơi bưng biền
Một lòng nguyện với tổ tiên.
Thề quyết chống quân ngoại xâm!
Ta đem thân ta liều cho nước
Ta đem thân ta đền ơn trước
Muôn thu sau lưu tiếng anh hào
Người dân Việt lắm chí cao.
Thề quyết chống quân gian tham!
Ta đem thân ta liều cho nước
Ta đem thân ta đền ơn trước
Xây giang san hạnh phúc muôn đời
Nền độc lập khắp nước Nam."

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]