Nam Trung Bộ Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ Việt Nam thuộc Trung Bộ Việt Nam

Các tỉnh và thành phố[sửa | sửa mã nguồn]

Vùng Nam Trung Bộ Việt Nam có 8 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương theo thứ tự bắc-nam:

Tỉnh Tỉnh lỵ Thành phố Quận Thị xã Huyện Dân số Diện tích Mật độ dân số BS xe Mã ĐT
Thành phố Đà Nẵng 6 2 0.890.500 01.283,4 km² 0.694 người/km² 43 511
Quảng Nam Thành phố Tam Kỳ 2 16 1.421.200 10.438,4 km² 0.136 người/km² 92 510
Quảng Ngãi Thành phố Quảng Ngãi 1 13 1.219.200 05.152,7 km² 0.237 người/km² 76 55
Bình Định Thành phố Quy Nhơn 1 1 10 1.489.000 06.039,6 km² 0.247 người/km² 77 56
Phú Yên Thành phố Tuy Hòa 1 1 7 0.863.000 05.060,6 km² 0.171 người/km² 78 57
Khánh Hòa Thành phố Nha Trang 2 1 6 1.159.700 05.217,6 km² 0.222 người/km² 79 58
Ninh Thuận Thành phố Phan Rang - Tháp Chàm 1 6 0.565.700 03.358,0 km² 0.168 người/km² 85 68
Bình Thuận Thành phố Phan Thiết 1 1 8 1.171.700 07.810,4 km² 0.150 người/km² 86 62
Nguồn: Tổng Cục Thống kê Việt Nam.[1][2]

Hiện nay, đa số sách báo, trong đó có các sách giáo khoa, Từ điển Bách khoa Việt Nam, Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam đều xếp Bình Thuận và Ninh Thuận vào vùng duyên hải Nam (hoặc cực Nam) Trung Bộ. Riêng Tổng cục Thống kê Việt Nam (và một số tài liệu lấy số liệu của Tổng cục Thống kê) trước đây lại xếp Bình Thuận cùng Ninh Thuận vào Đông Nam Bộ (chẳng hạn, xem [1]). Điều này là thiếu thuyết phục cả về mặt địa lý lẫn lịch sử. Xét về mặt địa lý ranh giới giữa Nam Bộ và Trung Bộ đi theo vệt hướng bắc-nam là hợp lý, nếu ghép Bình Thuận và Ninh Thuận vào Đông Nam Bộ thì sẽ có một vùng ăn sâu về phía đông, rất vô lý. Xét về mặt lịch sử thì tỉnh Bình Thuận (thời đó bao gồm cả phủ Ninh Thuận) chỉ được xếp vào Nam Kỳ trong thời gian khoảng 1 năm (1883-1884) theo hòa ước ký với Pháp, sau đó lại trả về Trung Kỳ cho tới nay. Hiện nay Tổng cục Thống kê đã xếp Bình Thuận cùng Ninh Thuận vào Trung Bộ.

Website trước đây của Bộ Kế hoạch và đầu tư Việt Nam cũng xếp 2 tỉnh Bình Thuận và Ninh Thuận vào Đông Nam Bộ trong số liệu thống kê vùng Đông Nam Bộ (xem [2]), nhưng ở phần khác lại xếp Bình Thuận và Ninh Thuận vào "vùng Duyên hải miền Trung", tách biệt với Đông Nam Bộ (xem [3]). Các website trên đây đã bị xóa.

Theo cách chia Trung Bộ thành 4 phần Bắc, Trung, Nam và Tây Nguyên thì Duyên hải Nam Trung Bộ gồm 4 tỉnh: Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận. Các tỉnh Quảng Nam, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định cùng với các tỉnh phía bắc Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế hợp thành (Duyên hải) Trung Trung Bộ.

Tuy nhiên, trong Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 97/2002/QĐ-TTg ngày 22/7/2002 phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam 2001 - 2010 thì Á vùng du lịch Nam Trung Bộ bao gồm cả Tây Nguyên và các tỉnh Trung Bộ từ Bình Định trở vào, thuộc Vùng du lịch Nam Trung Bộ và Nam Bộ.

Vị trí[sửa | sửa mã nguồn]

Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ có vị trí địa lý kinh tế rất thuận lợi, nằm trên trục các đường giao thông bộ, sắt, hàng khôngbiển, gần Thành phố Hồ Chí Minh và khu tam giác kinh tế trọng điểm miền Đông Nam Bộ; cửa ngõ của Tây Nguyên, của đường xuyên Á ra biển nối với đường hàng hải quốc tế.

Tài nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Tài nguyên lớn nhất của vùng là kinh tế biển. Kinh tế biển nói ở đây bao gồm: Nguồn lợi hải sản (chiếm gần 20% sản lượng đánh bắt của cả nước) và nuôi trồng thủy sản, nhất là các loại đặc sản (tôm, tôm hùm, cá mú, ngọc trai...) với diện tích có thể nuôi trồng là 60.000 ha trên các loại thủy vực: mặn, ngọt, lợ. Vận tải biển trong nước và quốc tế. Chùm cảng nước sâu đảm bảo tàu có trọng tải lớn vào được, có sẵn cơ sở hạ tầng và nhiều đất xây dựng để xây dựng các khu công nghiệp tập trung gắn với các cảng nước sâu và với vị trí địa lý của mình có thể chọn làm cửa ngõ ra biển cho đường “xuyên Á”. Có triển vọng về dầu khí ở thềm lục địa.

Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ nằm trong khu vực có tiềm năng về khoáng sản của nước ta, đáng chú ý là sa khoáng nặng, cát trắng (cho phép vùng trở thành trung tâm phát triển công nghiệp thuỷ tinh, kính quang học), đá ốp lát, nước khoáng, vàng...

Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ có nhiều sân bay quốc tế và có nhiều cảng biển nước sâu có thể đón được các loại tàu biển có trọng tải lớn như cảng Cam Ranh, Khánh Hòa, một trong những cảng biển nước sâu lớn nhất cả nước.Đồng bằng quảng ngãi rộng khoảng 1200km2 bao gồm cả thung lũng sông trà khúc và sông vệ cũng được cấu tạo tương tự đồng bằng quảng nam.Nhưng vào mùa khô sông trà khúc và sông vệ đều cạn nước đến mức người ta có thể lội qua ,hiện nay trên sông trà khúc đã có công trình thủy nông Thạch Nham ngăn sông ,xây dựng hệ thống kênh mương chuyển nước phục vụ sản xuất cho nhiều huyện

Du lịch[sửa | sửa mã nguồn]

Du lịch biển, đảo và di tích lịch sử văn hoá dân tộc là nguồn lực quan trọng, là một trong 3 trung tâm du lịch của cả nước (ngoài thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh), trong đó nổi bật là giải Đà Nẵng - Hội An và Vân Phong - Quy Nhơn - Nha Trang - Cam Ranh - Ninh Chữ - Mũi Né.

Kinh Tế Biển Tổng hợp[sửa | sửa mã nguồn]

Nghề cá[sửa | sửa mã nguồn]

Nơi đây thuận lợi vì có nhiều bãi tôm, bãi cá. Đặc biệt ở vùng cực Nam Trung Bộ. Có ngư trường lớn ở Hoàng Sa (TP Đà Nẵng) và Trường Sa (tỉnh Khánh Hòa).

Sản lượng đánh bắt hải sản năm 2006 đã hơn 624.000 tấn, trong đó sản lượng cá chiếm 420.000 tấn.

Vùng có nhiều vũng, vịnh, đầm phá... thuận lợi cho việc nuôi trồng thủy sản. Nuôi tôm hùm, tôm sú đang phát triển mạnh, nhất là ở Phú Yên và Khánh Hòa.

Tương lai ngành thủy hải sản sẽ giải quyết được vấn đề lương thực của vùng và cung cấp được nhiều sản phẩm giúp chuyển dịch cơ cấu nông thôn ven biển.

Tuy nhiên, việc khai thác hợp lí và bảo vệ nguồn lợi thủy sản (nhất là Hoàng Sa - Trường Sa) là rất cấp bách.

Du lịch hàng hải[sửa | sửa mã nguồn]

Ngành du lịch phát triển mạnh nhờ có nhiều bãi tắm, thắng cảnh đẹp.

Nơi đây có nhiều cảng biển lớn, và còn thích hợp xây dựng các cảng nước sâu như: Dung Quất, Vân Phong....

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Số đơn vị hành chính có đến 31/12/2009 phân theo địa phương”. Tổng Cục Thống kê Việt Nam. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2011. 
  2. ^ “Dân số và mật độ dân số năm 2009 phân theo địa phương”. Tổng Cục Thống kê Việt Nam. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2011. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]