Du lịch Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH VIỆT NAM

    8 Di sản thế giới tại Việt Nam: Vịnh Hạ Long, Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, Thành nhà Hồ, Hoàng thành Thăng Long, Quần thể di tích Cố đô Huế, Phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn, Quần thể danh thắng Tràng An

    46 Khu du lịch quốc gia: Cao nguyên đá Đồng Vănthác Bản GiốcMẫu SơnBa BểTân TràoNúi CốcSa PaThác BàĐền HùngMộc ChâuĐiện Biên Phủhồ Hòa BìnhHạ Long-Cát BàVân ĐồnTrà CổCôn Sơn-Kiếp BạcBa Vì-Suối Hai • Làng VH-DL các dân tộc VN • Tam ĐảoTràng AnTam ChúcKim LiênThiên CầmPhong Nha-Kẻ Bàng • Lăng Cô-Cảnh DươngBà NàCù Lao ChàmMỹ KhêPhương MaiVịnh Xuân Đài • Bắc Cam RanhNinh ChữMũi NéMăng ĐenTuyền LâmĐan Kia-Suối VàngYokđônnúi Bà ĐenCần GiờLong Hải-Phước HảiCôn ĐảoThới SơnPhú QuốcNăm CănXứ sở hạnh phúc.

    40 điểm du lịch quốc gia: Tp Lào CaiPắc BóTp Lạng SơnMai ChâuHoàng thành Thăng LongYên TửTp Bắc NinhChùa HươngCúc PhươngVân LongPhố HiếnĐền Trần-Phủ GiầyThành nhà Hồ • KDT Nguyễn Du • Ngã ba Đồng LộcTp Đồng Hớithành cổ Quảng TrịBạch MãNgũ Hành SơnMỹ SơnLý SơnTrường LũyTrường SaPhú QuýNgã ba Đông DươngHồ Ya LyHồ LắkTx Gia NghĩaTà ThiếtTW Cục miền NamCát TiênHồ Trị AnCủ ChiLáng SenTràm ChimNúi SamCù lao Ông HổTp Cần ThơTx Hà Tiên • KDT Cao Văn Lầu.

    24 trung tâm du lịch: Sơn La - Điện Biên • Lào CaiPhú Thọ • Thái Nguyên - Lạng Sơn • Hà GiangHà NộiNinh Bình • Quảng Ninh - Hải Phòng • Thanh Hóa • Nam Nghệ An - Bắc Hà Tĩnh • Quảng Bình - Quảng Trị • Đà Nẵng - Quảng Nam • Bình Định - Phú Yên - Khánh Hòa • Bình ThuậnĐà LạtĐắk Lắk • Gia Lai - Kon Tum • Thành phố Hồ Chí MinhTây NinhVũng Tàu • Tiền Giang - Bến Tre • Cần Thơ - Kiên Giang • Đồng Tháp - An Giang • Cà Mau.

    12 đô thị du lịch: Sa Pa, Đồ Sơn, Hạ Long, Sầm Sơn, Cửa Lò, Huế, Đà Nẵng, Hội An, Nha Trang, Phan Thiết, Đà lạt, Vũng Tàu
    7 Vùng du lịch: Trung du và miền núi phía BắcĐồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông BắcBắc Trung BộDuyên hải Nam Trung BộTây NguyênĐông Nam BộTây Nam Bộ.

Biểu trưng và khẩu hiệu của ngành Du lịch Việt Nam giai đoạn 2012-2015 do Tổng cục Du lịch Việt Nam đưa ra.[1]
Trấn Ba Đình (trái) và cầu Thê Húc bên bờ hồ Gươm, Hà Nội

Du lịch Việt Nam là một ngành kinh tế mũi nhọn. Đất nước Việt Nam có tiềm năng du lịch đa dạng và phong phú.

Năm 2012, số khách quốc tế đến Việt Nam là 6,8 triệu lượt, khách nội địa đạt 32,5 triệu lượt.[2] Doanh thu ngành du lịch Việt Nam năm 2009 đạt từ 68.000 đến 70.000 tỷ đồng,[3] 160.000 tỷ đồng năm 2012[2]. Du lịch đóng góp 5% vào GDP của Việt Nam [4]

Năm 2013, số khách quốc tế đến Việt Nam là 7,57 triệu lượt,[5] khách nội địa đạt 35 triệu lượt.[6] Doanh thu ngành du lịch Việt Nam năm 2013 đạt khoảng 200.000 tỷ đồng.[7]

Theo Tổng cục du lịch Việt Nam, năm 2014 ngành du lịch Việt Nam thu hút gần 8 triệu lượt khách quốc tế,[8] 32-35 triệu khách nội địa, con số dự kiến năm 2020 là 11-12 triệu khách quốc tế; 45-48 triệu khách nội địa. Doanh thu từ du lịch dự kiến sẽ đạt 18-19 tỷ USD năm 2020.[9]

Tuy nhiên, ngành du lịch Việt Nam từ nhiều năm nay, cũng đang bị báo động về nạn "chặt chém", bắt nạt du khách, hạ tầng cơ sở yếu kém và chất lượng dịch vụ kém, quản lý kém, tạo ấn tượng xấu với du khách.[10][11][12][13] Từ hơn 20 năm phát triển du lịch, Việt Nam chỉ chú trọng khai thác thiên nhiên và thiếu định hướng chiến lược phát triển, đầu tư một cách bài bản cho du lịch, và kém xa các nước khác trong khu vực.[4] Và vẫn chưa có được một sân khấu, nhà hát biểu diễn nghệ thuật dân tộc nào đủ tầm mức để giới thiệu đến du khách quốc tế, để đa dạng hóa sản phẩm du lịch.[4]

Du lịch trong nền kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Du lịch ngày càng có vai trò quan trọng tại Việt Nam. Đối với khách du lịch ba-lô, những người du lịch khám phá văn hóa và thiên nhiên, bãi biển và các cựu chiến binh Mỹ và Pháp, Việt Nam đang trở thành một địa điểm du lịch mới ở Đông Nam Á.[14]

Các dự án đầu tư vào bất động sản du lịch dọc theo bờ biển hơn 3.000 km và tại và các thành phố lớn đang gia tăng nhanh chóng. Dịch vụ du lịch ngày càng đa dạng. Công ty lữ hành địa phương và quốc tế cung cấp các tour du lịch tham quan các bản làng dân tộc thiểu số, đi bộ và tour du lịch xe đạp, đi thuyền kayak và du lịch ra nước ngoài cho du khách Việt Nam, đặc biệt là gắn kết với các quốc gia láng giềng Campuchia, LàoThái Lan. Ngoài ra, nhờ vào việc nới lỏng các quy định về đi lại, xuất cảnh, khách du lịch nước ngoài đã có thể đi lại tự do trong nước từ năm 1997.

Nền kinh tế Việt Nam đang chuyển đổi từ nông nghiệp sang nền kinh tế dịch vụ. Hơn một phần ba của tổng sản phẩm trong nước được tạo ra bởi các dịch vụ, trong đó bao gồm khách sạn và phục vụ công nghiệp và giao thông vận tải. Nhà sản xuất và xây dựng (28 %) nông nghiệp, và thuỷ sản (20 %) và khai thác mỏ (10 %).[15]

Trong khi đó, du lịch đóng góp 4,5% trong tổng sản phẩm quốc nội (thời điểm 2007). Ngày càng có nhiều dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đổ vào ngành du lịch. Sau các ngành công nghiệp nặng và phát triển đô thị, đầu tư nước ngoài hầu hết đã được tập trung vào du lịch, đặc biệt là trong các dự án khách sạn.[16]

Với tiềm năng lớn, từ năm 2001, Du lịch Việt Nam đã được chính phủ quy hoạch, định hướng để trở thành ngành kinh tế mũi nhọn [17]. Mặc dù "Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam 2001 - 2010" có vài chỉ tiêu không đạt được [17], từ năm 2011, "Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030" đã được thủ tướng chính phủ Việt Nam phê duyệt ngày 30/12/2011 để tiếp nối.[18][19] Tuy nhiên, cũng có nhiều ý kiến cho rằng, trong thực tiễn còn cần làm rất nhiều để ngành du lịch thật sự trở thành "mũi nhọn" và từ có "tiềm năng" trở thành có "khả năng".[20][21]

Tiềm năng du lịch của Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Tượng chúa Kito vua ở Vũng Tàu

Việt Nam là một quốc gia có tiềm năng du lịch đa dạng và phong phú, tiềm năng ấy thể hiện ở các thế mạnh sau:

Di tích[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến tháng 8 năm 2010, Việt Nam có hơn 40.000 di tích, thắng cảnh trong đó có hơn 3.000 di tích được xếp hạng di tích quốc gia và hơn 7.000 di tích được xếp hạng cấp tỉnh.[22] Mật độ và số lượng di tích nhiều nhất ở 11 tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng với tỷ lệ chiếm khoảng 70% di tích của Việt Nam.

Bài chi tiết: Di tích Việt Nam

Việt Nam hiện có 62 di tích được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt. Các di tích quốc gia đặc biệt ở Việt Nam được Thủ tướng chính phủ ra quyết định xếp hạng ở 2 đợt đầu gồm: Cố đô Hoa Lư, Di tích Pác Bó, Dinh Độc Lập, Hoàng thành Thăng Long, Khu căn cứ Trung ương Cục miền Nam, Khu di tích ATK Thái Nguyên, Khu di tích chiến thắng Điện Biên Phủ, Khu di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc, Khu di tích khởi nghĩa Yên Thế, Khu di tích Kim Liên, Khu di tích Phủ Chủ tịch, Khu di tích Tân Trào, Khu lưu niệm chủ tịch Tôn Đức Thắng, Nhà tù Côn Đảo, Quần thể di tích Cố đô Huế, Thành nhà Hồ, Thánh địa Mỹ Sơn, Thắng cảnh Tràng An - Tam Cốc - Bích Động, Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, Vịnh Hạ Long, Đô thị cổ Hội AnĐền Hùng.

Việt Nam có 117 bảo tàng trong đó các bộ, ngành quản lý 38, các địa phương quản lý 79. Hai bảo tàng lịch sử mang tính quốc gia là Bảo tàng Cách mạng Việt NamBảo tàng lịch sử Việt Nam hiện đang đề xuất thêm Bảo tàng Lịch sử Quốc gia.[23] Tuy nhiên, hầu hết các bảo tàng đều vắng khách tham quan, đất công đôi khi bị lạm dụng và sử dụng trái mục đích.[24][25]

Danh thắng[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện nay Việt Nam có 30 vườn quốc gia[26] gồm Ba Bể, Bái Tử Long, Hoàng Liên, Tam Đảo, Xuân Sơn, Ba Vì, Cát Bà, Cúc Phương, Xuân Thủy, Bạch Mã, Bến En, Phong Nha-Kẻ Bàng, Pù Mát, Vũ Quang, Bidoup Núi Bà, Chư Mom Ray, Chư Yang Sin, Kon Ka Kinh, Yok Đôn, Côn Đảo, Lò Gò-Xa Mát, Mũi Cà Mau, Núi Chúa, Phú Quốc, Phước Bình, Tràm Chim, U Minh Hạ, U Minh Thượng.

Việt Nam có 400 nguồn nước nóng từ 40-150 độ[27]. Nhiều suối có hạ tầng xây dựng khá tốt như: Suối nước nóng thiên nhiên Đam Rông, Lâm Đồng; suối nước nóng Kim Bôi Hòa Bình, suối nước nóng Bình Châu Bà Rịa-Vũng Tàu, suối nước nóng Kênh Gà, Ninh Bình, suối nước nóng Quang Hanh Quảng Ninh.

Hang động Việt Nam chủ yếu nằm ở nửa phía bắc của đất nước này do tập trung nhiều dãy núi đá vôi. Hệ thống hang động ở Việt Nam thường là các hang động nằm trong các vùng núi đá vôi có kiểu địa hình karst rất phát triển. Ba di sản thiên nhiên thế giới của Việt Namvịnh Hạ Long, Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàngquần thể danh thắng Tràng An đều là những danh thắng có những hang động nổi tiếng. Cho tới năm 2010 chỉ riêng ở Quảng Bình đã thống kê được 300 hang động thuộc Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng. Tỉnh Ninh Bình có 400 hang động trong đó hơn 100 hang động tập trung nhiều ở quần thể di sản thế giới Tràng An - Tam Cốc - Bích Động.[28] Hiện nay tổng số hang động ở Việt Nam được phát hiện lên tới gần 1000 hang động. Các hang động ở Việt Nam tuy nhiều nhưng số được khai thác sử dụng cho mục đích du lịch còn rất ít. Tiêu biểu nhất là: động Phong Nha (Quảng Bình), động Hương Tích (Hà Nội), hang động Tràng An, Tam Cốc - Bích Động, động Địch Lộng, động Vân Trình, động Thiên Hà (Ninh Bình), hang Pác Bó (Cao Bằng), động Tam Thanh (Lạng Sơn), động Sơn Mộc Hương (Sơn La), các hang động ở vịnh Hạ Long (Quảng Ninh)...

Bài chi tiết: Hang động Việt Nam

Việt Nam đứng thứ 27 trong số 156 quốc gia có biển trên thế giới với 125 bãi tắm biển, hầu hết là các bãi tắm đẹp.[29] Việt Nam là 1/12 quốc gia có vịnh đẹp nhất thế giới là vịnh Hạ Longvịnh Nha Trang.

Tính đến năm 2003 Việt Nam có khoảng 3500 hồ chứa có dung tích lớn hơn 0.2 triệu m3. Chỉ có 1976 hồ có dung tích lớn hơn 1 triệu m3, chiếm 55,9% với tổng dung tích 24.8 tỷ m3. Trong số hồ trên có 10 hồ do ngành điện quản lý với tổng dung tích 19 tỷ m3. Có 44 tỉnh và thành phố trong 63 tỉnh thành Việt Nam có hồ chứa. Tỉnh có nhiều hồ nhất là Nghệ An (249 hồ), Hà Tĩnh (166 hồ), Thanh Hóa (123 hồ), Phú Thọ (118 hồ), Đắk Lăk (116 hồ) và Bình Định (108 hồ). Một số hồ nổi tiếng ở Việt Nam đã được khai thác du lịch như: Hồ Tây, hồ Hoàn Kiếm, hồ Đại Lải, hồ Quan Sơn, hồ Suối Hai (Hà Nội); Hồ Ba Bể (Bắc Kạn); Hồ Cấm Sơn (Bắc Giang); Hồ Đồng Chương, hồ Đồng Thái, hồ Yên Thắng, hồ Mạc (Ninh Bình); hồ Tuyền Lâm, hồ Than Thở (Đà Lạt,...

Danh hiệu UNESCO[sửa | sửa mã nguồn]

Danh hiệu UNESCO ở Việt Nam gồm danh sách các di sản thế giới, khu dự trữ sinh quyển thế giới, di sản tư liệu thế giới, công viên địa chất toàn cầu, di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại... đã được UNESCO công nhận tại Việt Nam. Trong hệ thống các danh hiệu của UNESCO, di sản thế giới là danh hiệu danh giá nhất và lâu đời nhất.[30] Thủ đô Hà Nội hiện sở hữu nhiều danh hiệu UNESCO trao tặng nhất cho các đối tượng: Hoàng thành Thăng Long, Bia tiến sĩ Văn Miếu Thăng Long, ca trùHội Gióng. Đến năm 2014, các tỉnh Ninh Bình, Phú Thọ, Bắc Ninh, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Kiên Giang, Cà Mau mỗi tỉnh sở hữu từ 2 đến 3 danh hiệu UNESCO; Các tỉnh Bắc Kạn, Bình Định, Cao Bằng, Đà Nẵng, Điện Biên, Hòa Bình, Khánh Hòa, Lai Châu, Lạng Sơn, Lào Cai, Phú Yên, Quảng Ngãi, Quảng Trị, Sơn La, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái chưa từng sở hữu một danh hiệu UNESCO nào.

Tới năm 2015, có 8 di sản được UNESCO công nhận là Di sản thế giới tại Việt Nam[31] bao gồm: Quần thể danh thắng Tràng An, Thành nhà Hồ, Hoàng thành Thăng Long, Quần thể di tích Cố đô Huế, Vịnh Hạ Long, Phố Cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn, và Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng. Các di sản thế giới hiện đều là những điểm du lịch hấp dẫn.

Tính đến hết năm 2015 Việt Nam được UNESCO công nhận 8 khu dự trữ sinh quyển thế giới đó là Châu thổ sông Hồng, Cát Bà, Tây Nghệ An, Đồng Nai, Cù lao Chàm, Cần Giờ.[32] Cà Maubiển Kiên Giang.

Có 9 di sản văn hóa phi vật thể trên thế giới tại Việt Nam như Nhã nhạc cung đình Huế, Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên, Quan họ, Ca trù, Hội Gióng, Hát xoan, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương (Phú Thọ).

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Văn hóa Việt Nam

Việt Nam có 54 dân tộc anh em, mỗi dân tộc đều có những nét đặc trưng về văn hoá, phong tục tập quán và lối sống riêng. Ngành du lịch và các địa phương đã nỗ lực xây dựng được một số điểm du lịch độc đáo, như du lịch cộng đồng Sa Pa, du lịch Bản Lát ở Mai Châu...

Sự ra đời và phát triển của sân khấu dân gian Việt Nam gắn liền với đời sống nông nghiệp, múa rối nước là nghệ thuật dân gian của người nông dân làm ruộng nước ở vùng châu thổ sông Hồng, thường được biểu diễn trong dịp hội hè, những lúc nông nhàn, múa rối nước là một nghệ thuật tổng hoà giữa các nghệ thuật điêu khắc, sơn mài, âm nhạc, hội hoạ và văn học. Cùng với múa rối nước là các môn nghệ thuật hát chèo, tuồng, cải lương góp phần làm phong phú nền sân khấu cổ truyền Việt Nam. Từ đầu thế kỷ 20, cùng với những ảnh hưởng của sân khấu phương Tây, nghệ thuật sân khấu hiện đại Việt Nam được bổ sung thêm các môn nghệ thuật kịch, hài kịch, xiếc, ảo thuật, múa, ballet, opera,... Hiện nay, một số đơn vị nghệ thuật đã đưa vào phục vụ khách du lịch như rối nước Hà Nội, Đờn ca tài tử Bạc Liêu, Nhà hát Chèo Việt Nam, Nhà hát Chèo Ninh Bình, Nhà hát Chèo Hà Nội.

Âm nhạc dân gian Việt Nam cũng có truyền thống lâu đời, bắt đầu với chầu văn, quan họ, ca trù, hát ví, dân ca, vọng cổ, nhạc cung đình,...của người Việt và bên cạnh đó là âm nhạc dân gian của các dân tộc khác như hát lượn của người Tày, hát Sli của người Nùng, hát Khan của người Ê Đê, hát dù kê của người Khmer...Cùng với các môn nghệ thuật hiện đại khác, nền âm nhạc hiện đại Việt Nam từ những năm 1930 được hình thành và phát triển đến ngày nay được gọi là tân nhạc Việt Nam với các dòng nhạc tiền chiến, nhạc đỏ, tình khúc 1954-1975, nhạc vàng, nhạc hải ngoạinhạc trẻ. Tuy nhiên, từ hơn 20 năm phát triển du lịch, Việt Nam vẫn chưa có được một sân khấu, nhà hát biểu diễn nghệ thuật dân tộc nào đủ lớn để giới thiệu đến du khách quốc tế, để đa dạng hóa sản phẩm du lịch.[4] Ngoại trừ múa rối nước, hiện có 1 sân khấu nhỏ tại Hà Nội và sân khấu múa rối nước Rồng Vàng tại Thành phố Hồ Chí Minh.[4]

Lễ hội Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Lễ hội Việt Nam

Theo thống kê 2009, hiện cả nước Việt Nam có 7.966 lễ hội; trong đó có 7.039 lễ hội dân gian (chiếm 88,36%), 332 lễ hội lịch sử (chiếm 4,16%), 544 lễ hội tôn giáo (chiếm 6,28%), 10 lễ hội du nhập từ nước ngoài (chiếm 0,12%), còn lại là lễ hội khác (chiếm 0,5%).[33] Các địa phương có nhiều lễ hội là Hà Nội, Bắc Ninh, Thái Bình, Hải DươngPhú Thọ.

Tính đến hết năm 2014, Việt Nam có 27 lễ hội được đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia gồm: Hội Gióng đền Phù Đổng và đền Sóc (Hà Nội), Lễ hội Yên Thế (Bắc Giang), Lễ hội Thổ Hà (Bắc Giang), Lễ hội Nhảy lửa của người Pà Thẻn (Hà Giang), Lễ hội Côn Sơn (Hải Dương), Lễ hội Kiếp Bạc (Hải Dương), Lễ hội Chọi trâu Đồ Sơn (Hải Phòng), Lễ hội Cầu Ngư ở Khánh Hòa (Khánh Hòa), Lễ hội Gầu Tào (Lào Cai, Hà Giang), Lễ hội Kỳ Yên ở đình Gia Lộc (Tây Ninh), Lễ hội Tháp Bà (Ponagar) Nha Trang (Khánh Hòa), Lễ hội Lồng Tông của người Tày (Tuyên Quang).[34]. Lễ hội Phủ Dầy, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định; Lễ hội chùa Vĩnh Nghiêm, xã Trí Yên, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang và Lễ hội Nghinh Ông, huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh. Lễ hội Roóng poọc của người Giáy (Tả Van, Sa Pa, Lào Cai) và Lễ Pút tồng của người Dao đỏ (Sa Pa, Lào Cai). Lễ hội Đền Trần Nam Định, Lễ hội Trường Yên Ninh Bình, Lễ hội miếu Bà Chúa Xứ núi Sam An Giang, Lễ hội Lồng tồng Ba Bể Bắc Kạn, Lễ hội làng Lệ Mật Hà Nội, Lễ hội Khô già của người Hà Nhì đen, Đại lễ Kỳ Yên đình Tân Phước Tây - Long An, Lễ hội vía Bà Ngũ hành Long An, Lễ làm chay (Long An), Lễ hội Rước cộ Bà chợ Được (Quảng Nam).[35]

Lịch sử ngành Du lịch Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Ngành Du lịch tại Việt Nam chính thức có mặt khi Quốc trưởng Bảo Đại cho lập Sở Du lịch Quốc gia ngày 5 Tháng Sáu, 1951.[36] Chuyển tiếp sang thời kỳ Việt Nam Cộng hòa, Nha Quốc gia Du lịch điều hành việc phát triển các tiện nghi du lịch trong nước ở phía nam vĩ tuyến 17 cùng tăng cường hợp tác quốc tế như việc gửi phái đoàn tham dự Hội nghị Du lịch Quốc tế ở Brussel năm 1958.[37] Năm 1961 Nha Du lịch cổ động du lịch "Thăm viếng Đông Dương"[38] với ba chí điểm: Nha Trang, Đà LạtVũng Tàu. Vì chiến cuộc và thiếu an ninh ngành du lịch bị hạn chế nhưng chính phủ vẫn cố nâng đỡ kỹ nghệ du lịch như việc phát hành bộ tem "Du lịch" ngày 12 Tháng Bảy năm 1974.[39]

Đối với miền Bắc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì ngày thành lập ngành Du lịch Việt Nam được tính là ngày 09 tháng 7 năm 1960[40]

  • Ngày 16/3/1963 Bộ Ngoại thương ban hành Quyết định số 164-BNT-TCCB quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Công ty Du lịch Việt Nam.
  • Ngày 18/8/1969 Chính phủ ban hành Nghị định số 145 CP chuyển giao Công ty Du lịch Việt Nam sang cho Phủ Thủ tướng quản lý.
  • Ngày 27/6/1978 Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành Quyết nghị số 262 NQ/QHK6 phê chuẩn việc thành lập Tổng cục Du lịch Việt Nam trực thuộc Hội đồng Chính phủ.
  • Ngày 23/1/1979 Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 32-CP quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tổng cục Du lịch Việt Nam.
  • Ngày 15/8/1987 Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 120-HĐBT về chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Tổng cục Du lịch.
  • Ngày 9/4/1990 Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 119-HĐBT thành lập Tổng công ty Du lịch Việt Nam.
  • Ngày 31/12/1990 Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 447-HĐBT về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Bộ Văn hóa - Thông tin - Thể thao và Du lịch.
  • Ngày 26/10/1992 Chính phủ ban hành Nghị định số 05-CP thành lập Tổng cục Du lịch.
  • Ngày 27/12/1992 Chính phủ ban hành Nghị định số 20-CP về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tổng cục Du lịch.
  • Ngày 7/8/1995 Chính phủ ban hành Nghị định số 53/CP về cơ cấu tổ chức của Tổng cục Du lịch.
  • Ngày 25/12/2002 Bộ Nội vụ ban hành Quyết định số 18/2002/QĐ-BNV về việc cho phép thành lập Hiệp hội Du lịch Việt Nam.

Quy hoạch du lịch[sửa | sửa mã nguồn]

“Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” ngày 22/1/2013 xác định rõ Việt Nam có 7 vùng du lịch với 24 trung tâm du lịch, 46 khu du lịch quốc gia, 40 điểm du lịch quốc gia, 12 đô thị du lịch như sau:[41][42]

Vùng du lịch và trung tâm du lịch[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm về nội dung này tại Các vùng du lịch ở Việt Nam.

Việt Nam có 7 vùng du lịch với 24 trọng điểm du lịch:

  • Vùng trung du và miền núi phía Bắc: Bao gồm 14 tỉnh Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Yên Bái, Phú Thọ, Lào Cai, Tuyên Quang, Hà Giang, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Cao Bằng, Lạng Sơn và Bắc Giang. Vùng này có 5 trọng điểm du lịch là:
  1. Sơn La - Điện Biên: gắn với Mộc Châu, hồ Sơn La, cửa khẩu quốc tế Tây Trang, di tích lịch sử Điện Biên Phủ và Mường Phăng.
  2. Lào Cai gắn với cửa khẩu quốc tế Lào Cai, khu nghỉ mát Sa Pa, Phan Xi Phăng và vườn quốc gia Hoàng Liên.
  3. Phú Thọ gắn với lễ hội Đền Hùng và hệ thống di tích thời đại Hùng Vương, du lịch hồ Thác Bà.
  4. Thái Nguyên - Lạng Sơn gắn với hồ Núi Cốc, di tích ATK Định Hóa, Tân Trào, khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng, khu nghỉ mát Mẫu Sơn.
  5. Hà Giang gắn với công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn, cảnh quan Mèo Vạc, Mã Pí Lèng, Na Hang…
  1. Thủ đô Hà Nội gắn với hệ thống di tích lịch sử văn hóa nội thành và các cảnh quan tự nhiên vùng phụ cận.
  2. Quảng Ninh - Hải Phòng gắn với cảnh quan biển đảo Đông Bắc đặc biệt là Hạ Long - Cát Bà, Vân Đồn, Đồ Sơn.
  3. Ninh Bình gắn với Tam Cốc - Bích Động, Hoa Lư, Tràng An, Vân Long, Cúc Phương, Tam Chúc - Ba Sao và quần thể di tích, cảnh quan vùng phụ cận.
  1. Thanh Hóa và phụ cận gắn với điểm du lịch quốc gia Thành Nhà Hồ, Lam Kinh, Bến En và đô thị du lịch Sầm Sơn.
  2. Nam Nghệ An - Bắc Hà Tĩnh gắn với Cửa Lò, Kim Liên, Đồng Lộc, cửa khẩu Cầu Treo, núi Hồng - sông Lam, Xuân Thành…
  3. Quảng Bình - Quảng Trị gắn với Phong Nha - Kẻ Bàng, biển Cửa Tùng - Cửa Việt, đảo Cồn Cỏ, cửa khẩu Lao Bảo và hệ thống di tích chiến tranh chống Mỹ.
  • Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ: gồm các tỉnh Quảng Nam, TP. Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận. Vùng này có 3 địa bàn trọng điểm du lịch là:
  1. Đà Nẵng - Quảng Nam gắn với Sơn Trà, Hải Vân, Hội An, Mỹ Sơn…
  2. Bình Định - Phú Yên - Khánh Hòa gắn với các bãi biển Phương Mai, Đầm Ô Loan, vịnh Nha Trang, Cam Ranh…
  3. Bình Thuận gắn với biển Mũi Né, đảo Phú Quý…
  • Vùng Tây Nguyên: gồm các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng. Vùng này có 3 trọng điểm du lịch là:
  1. Thành phố Đà Lạt gắn với hồ Tuyền Lâm, Đan Kia - Suối Vàng.
  2. Đắk Lắk gắn với vườn quốc gia Yokđôn và không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
  3. Gia Lai - Kon Tum gắn với cửa khẩu quốc tế Bờ Y, Măng Đen, Yaly.
  • Vùng Đông Nam Bộ: gồm TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Phước, Tây Ninh. Vùng này có 3 trọng điểm du lịch:
  1. Thành phố Hồ Chí Minh gắn với khu rừng sác Cần Giờ và hệ thống di tích lịch sử văn hóa nội thành.
  2. Tây Ninh gắn với cửa khẩu quốc tế Mộc Bài, núi bà Đen, hồ Dầu Tiếng.
  3. Thành phố Vũng Tàu gắn với Long Hải, Phước Hải, Côn Đảo.
  • Vùng Tây Nam Bộ: Gồm các tỉnh Long An, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Tiền Giang, Hậu Giang và TP. Cần Thơ. Vùng này có 4 trọng điểm du lịch:
  1. Tiền Giang - Bến Tre gắn với du lịch miệt vườn Thới Sơn.
  2. Cần Thơ - Kiên Giang gắn với biển đảo Phú Quốc, Hà Tiên.
  3. Đồng Tháp - An Giang gắn với Tứ giác Long Xuyên, vườn quốc gia Tràm Chim.
  4. Cà Mau gắn với U Minh - Năm Căn - mũi Cà Mau.

Khu du lịch quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Việt Nam hiện có 46 khu du lịch quốc gia, là những trọng điểm để đầu tư thúc đẩy phát triển du lịch.[44] Các khu du lịch đó là: Khu du lịch Cao nguyên đá Đồng Văn, Khu du lịch thác Bản Giốc, Khu du lịch Mẫu Sơn, Khu du lịch Ba Bể, Khu du lịch Tân Trào Khu du lịch Núi Cốc, Khu du lịch Sa Pa, Khu du lịch Thác Bà, Khu du lịch Đền Hùng, Khu du lịch Mộc Châu, Khu du lịch Điện Biên Phủ-Pá Khoang, Khu du lịch hồ Hòa Bình, Khu du lịch Hạ Long-Cát Bà, Khu du lịch Vân Đồn, Khu du lịch Trà Cổ, Khu du lịch Côn Sơn-Kiếp Bạc, Khu du lịch Ba Vì-Suối Hai, Khu du lịch Làng Văn hóa-Du lịch các dân tộc Việt Nam, Khu du lịch Tam Đảo, Khu du lịch Tràng An, Khu du lịch Tam Chúc, Khu du lịch Kim Liên, Khu du lịch Thiên Cầm, Khu du lịch Phong Nha-Kẻ Bàng, Khu du lịch Lăng Cô-Cảnh Dương, Khu du lịch Bà Nà, Khu du lịch Cù Lao Chàm, Khu du lịch Mỹ Khê, Khu du lịch Phương Mai, Khu du lịch Vịnh Xuân Đài, Khu du lịch Bắc Cam Ranh, Khu du lịch Ninh Chữ, Khu du lịch Mũi Né, Khu du lịch Măng Đen, Khu du lịch Tuyền Lâm, Khu du lịch Đan Kia-Suối Vàng, Khu du lịch Yokđôn, Khu du lịch núi Bà Đen, Khu du lịch Cần Giờ, Khu du lịch Long Hải-Phước Hải, Khu du lịch Côn Đảo, Khu du lịch Thới Sơn, Khu du lịch Phú Quốc, Khu du lịch Năm Căn, Khu du lịch Xứ sở hạnh phúc.

Điểm du lịch quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Việt Nam có 40 điểm du lịch quốc gia: Điểm du lịch thành phố Lào Cai, Điểm du lịch Pắc Bó, Điểm du lịch thành phố Lạng Sơn, Điểm du lịch Mai Châu, Điểm du lịch Hoàng thành Thăng Long, Điểm du lịch Yên Tử, Điểm du lịch thành phố Bắc Ninh, Điểm du lịch Chùa Hương, Điểm du lịch Cúc Phương, Điểm du lịch Vân Long, Điểm du lịch Phố Hiến, Điểm du lịch Đền Trần-Phủ Giầy, Điểm du lịch Thành nhà Hồ, Điểm du lịch Lưu niệm Nguyễn Du, Điểm du lịch Ngã ba Đồng Lộc, Điểm du lịch thành phố Đồng Hới, Điểm du lịch thành cổ Quảng Trị, Điểm du lịch Bạch Mã, Điểm du lịch Ngũ Hành Sơn, Điểm du lịch Mỹ Sơn, Điểm du lịch Lý Sơn, Điểm du lịch Trường Lũy, Điểm du lịch Trường Sa, Điểm du lịch Phú Quý, Điểm du lịch Ngã ba Đông Dương, Điểm du lịch Hồ Ya Ly, Điểm du lịch Hồ Lắk, Điểm du lịch Thị xã Gia Nghĩa, Điểm du lịch Tà Thiết, Điểm du lịch TW Cục miền Nam, Điểm du lịch Cát Tiên, Điểm du lịch Hồ Trị An-Mã Đà, Điểm du lịch Củ Chi, Điểm du lịch Láng Sen, Điểm du lịch Tràm Chim, Điểm du lịch Núi Sam, Điểm du lịch Cù lao Ông Hổ, Điểm du lịch thành phố Cần Thơ, Điểm du lịch thị xã Hà Tiên, Điểm du lịch Lưu niệm Cao Văn Lầu.

Đô thị du lịch[sửa | sửa mã nguồn]

Việt Nam quy hoạch 12 đô thị du lịch gồm: Đô thị du lịch Sa Pa, thuộc tỉnh Lào Cai; Đô thị du lịch Đồ Sơn, thuộc Thành phố Hải Phòng; Đô thị du lịch Hạ Long, thuộc tỉnh Quảng Ninh; Đô thị du lịch Sầm Sơn, thuộc tỉnh Thanh Hóa; Đô thị du lịch Cửa Lò, thuộc tỉnh Nghệ An; Đô thị du lịch Huế, thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế; Đô thị du lịch Đà Nẵng, thuộc thành phố Đà Nẵng; Đô thị du lịch Hội An, thuộc tỉnh Quảng Nam; Đô thị du lịch Nha Trang, thuộc tỉnh Khánh Hòa; Đô thị du lịch Phan Thiết, thuộc tỉnh Bình Thuận; Đô thị du lịch Đà lạt, thuộc tỉnh Lâm Đồng; Đô thị du lịch Vũng Tàu, thuộc tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu.

Khẩu hiệu ngành du lịch[sửa | sửa mã nguồn]

Giai đoạn Biểu trưng Khẩu hiệu Ghi chú
2001-2004 Việt Nam - Điểm đến của thiên niên kỷ mới
Vietnam - A destination for the new millennium
2004-2005 Hãy đến với Việt Nam
Welcome to Vietnam
2006-2011 Vietnamhiddencharm.svg Việt Nam - Vẻ đẹp tiềm ẩn
Vietnam - The hidden charm
2012-2015 Vietnam Timeless Charm.PNG Việt Nam – Vẻ đẹp bất tận
Vietnam - Timeless Charm
Logo bị đánh giá là "khó hiểu" [1]

Năm du lịch quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Địa phương đăng cai Chủ đề Mục đích
2003 Quảng Ninh Non nước hữu tình
2004 Điện Biên Hào hùng chiến khu
2005 Nghệ An Theo chân Bác
2006 Quảng Nam Một điểm đến - hai di sản văn hóa thế giới
2007 Thái Nguyên Về thủ đô gió ngàn - Chiến khu Việt Bắc.
2008 Cần Thơ
và các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long
Miệt vườn sông nước Cửu Long
2009 Đắk Lắk hủy bỏ vì địa phương đăng cai rút lui.[45]
2010 Hà Nội Thăng Long - Hà Nội, hội tụ ngàn năm chào mừng sự kiện 1000 năm
Thăng Long - Hà Nội
2011 Phú Yên
và các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ
Du lịch biển - đảo[46] Khẳng định chủ quyền
và quảng bá biển, đảo Việt Nam
2012 Thừa Thiên - Huế
và các tỉnh duyên hải Bắc Trung Bộ
Du lịch di sản[47] kèm tổ chức Festival Huế
2013 Hải Phòng
và các tỉnh Đồng bằng sông Hồng
Văn minh Sông Hồng[48]
2014 Lâm Đồng
và các tỉnh Tây Nguyên
Đại ngàn Tây Nguyên[49] Khơi dậy, kết nối phát huy thế mạnh du lịch của các tỉnh Tây Nguyên
2015 Thanh Hóa Kết nối các di sản thế giới Nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và của nhân dân về sự phát triển du lịch gắn với bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa

Quảng cáo du lịch Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Cho đến năm 2012, mỗi năm chính phủ Việt Nam đầu tư xúc tiến du lịch là 50 tỷ đồng (tương đương 2,5 triệu USD).[50]

Nguyễn Mạnh Cường, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Việt Nam khẳng định, việc quảng bá của du lịch Việt Nam còn hạn chế do thiếu kinh phí.[51] Bà Hoàng Thị Điệp, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch cũng cho biết, do kinh phí hạn hẹp nên Tổng cục mới chỉ có 2 video clip quảng bá chung thị trường du lịch Việt Nam và Trung Quốc.[52] Nguyễn Văn Tình, Cục trưởng Hợp tác quốc tế, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho rằng "Làm clip du lịch hấp dẫn phải mất 1 triệu USD".[50][53]

Tuy nhiên, đạo diễn chuyên làm clip quảng cáo Vũ Nam Dương cho rằng, nội dung clip phần lớn do yêu cầu của người thuê. Nhiều người chê quảng cáo trong nước xấu không hẳn do người làm không tốt mà là do người thuê có tư duy như vậy.[51] Ông Ian Lyne, Trưởng nhóm Tư vấn dự án chương trình phát triển năng lực du lịch có trách nhiệm với môi trường và xã hội cho rằng, chi phí sản xuất video quảng bá dài 2 phút có thể từ 20.000 USD tới 2 triệu USD tùy thuộc vào nhiều yếu tố, tuy nhiên vẫn có video quảng bá rất tốt, nhưng lại chi phí thấp được sản xuất ở châu Âu.[51]

Vấn đề nan giải của ngành du lịch Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Du lịch Việt Nam đang đối mặt với nhiều vấn đề yếu kém như ô nhiễm môi trường tại các điểm du lịch, nhiều di tích không được bảo quản đúng mức, gây hư hỏng nghiêm trọng hay bị sửa lại khác xa mẫu cổ và luôn thu phí vào cửa, tình trạng chèo kéo, bắt chẹt khách, tăng giá phòng tùy tiện, chất lượng hạ tầng cơ sởgiao thông thấp, dịch vụ kém, trong khi đó công tác quản lý của các cơ quan chức năng chưa đạt hiệu quả...[10][54] Theo đánh giá của ngành du lịch, từ năm 2006 đến nay hơn 70% du khách quốc tế sau khi đến Việt Nam đều có ý "một đi không trở lại".[55]

Vì những yếu kém trong những mặt khác so với các nước trong khu vực, nên ngành du lịch Việt Nam thường chỉ chú trọng khai thác quá đáng các thắng cảnh thiên nhiên như một điểm mạnh, nhưng việc "xã hội hóa" các danh thắng (cho phép các công ty đầu tư khai thác và bán vé vào cửa) dẫn đến việc hầu hết các nơi danh thắng đều thu tiền vào tham quan, thường là khá đắt, và các công ty này lại không quan tâm bảo trì đúng mức, do đó cảnh quan đang bị xuống cấp hay phá hủy, điển hình là trường hợp các di tích quốc gia như Thác Voi,[56] Thác Liên Khương.[57]

Lãnh đạo ngành du lịch hứa hẹn, năm 2010, ngành sẽ đột phá cải thiện nhà vệ sinh, sẽ phát động chiến dịch ở đâu có du lịch ở đó có nhà vệ sinh đạt tiêu chuẩn.[58], tuy nhiên đã không đạt được.

Năm 2012, lần nữa, những tin tức tiêu cực và kinh nghiệm xấu về du lịch Việt Nam được đăng tải trên nhiều báo chí, phản ánh 'Nạn lừa đảo du khách rất đáng báo động', chất lượng dịch vụ kém và "du khách đua nhau tố các chiêu 'chặt chém' ", chưa có đấu hiệu thay đổi [11][12][59]. Thêm nữa, nạn ô nhiễm môi trường lại tăng lên, theo kết quả của báo cáo thường niên năm 2012 mang tên The Environmental Performance Index (EPI) của hai trung tâm nghiên cứu môi trường thuộc Đại học Yale và Columbia của Mỹ thực hiện, về ảnh hưởng của chất lượng không khí, Việt Nam đứng thứ 123 trong bảng xếp hạng 132 quốc gia khảo sát, được xem là có không khí bẩn thứ 10 thế giới.[60]

Một số dữ liệu[sửa | sửa mã nguồn]

Khách và khách du lịch quốc tế đến Việt Nam qua 10 năm gần đây (2000-2010) - Nguồn: TCTK[61]
Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010
Lượt khách đến Việt Nam (triệu người, làm tròn) 2.1 2.3 2.6 2.4 2.9 3.4 3.5 4.2 4.2 3.7 5.0
Lượt khách đến Việt Nam du lịch(triệu người, làm tròn) 1.1 1.2 1.4 1.2 1.5 2.0 2.0 2.6 2.6 2.2 3.1
Xếp hạng du lịch thế giới[62]
Năm 2008 2009 2010
Lượt khách quốc tế
(1000)
4.236 3.747 5.050
Tổng doanh thu du lịch quốc tế
(triệu USD)
3.930 3.050 4.450

Du khách nước ngoài đến Việt Nam, theo năm [63]:

Năm Du khách từ nước ngoài Thay đổi
1995 1.351.300
1996 1.607.200 18.9%
1997 1.715.600 6.7%
1998 1.520.100 -11.4%
1999 1.781.800 17.2%
2000 2.140.100 20.0%
2001 2.330.800 8.9%
2002 2.628.200 12.8%
2003 2.429.600 -7.6%
2004 2.927.876 20.5%
2005 3.467.757 18.4%
2006 3.583.486 3%
2007 4.171.564 16%
2008 4.253.740 0.6%
2009 3.772.359 -10.9%
2010 5.049.855 34.8%
2011 6.014.032 19.1%
2012 6.847.678 10.8%
2013 7,572,352 10,6%

Mười quốc gia có số du khách đến Việt Nam nhiều nhất [63]

Thứ hạng Từ Quốc gia 2011 2012
1  Trung Quốc 1.416.804 1,428,693
2  Hàn Quốc 536.408 700,917
3  Nhật Bản 481.519 576,386
4  Hoa Kỳ 439.872 443,826
5  Campuchia 423.440 331,939
6  Đài Loan 361.051 409,385
7  Úc 289.762 289,844
8  Malaysia 233.132 299,041
9  Pháp 211.444 219,721
10  Thái Lan 181.820 225,866

Ảnh non nước Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Logo du lịch mới bị chê khó hiểu
  2. ^ a ă “Việt Nam đón 6,8 triệu khách quốc tế năm 2012”. VnExpress. 30 tháng 12 năm 2012. 
  3. ^ “Năm 2009, doanh thu ngành du lịch tăng 9%”. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2010. 
  4. ^ a ă â b c Chương trình nghệ thuật phục vụ du khách: May còn có rối nước!, Sài Gòn giải phóng, 05/11/2012
  5. ^ Khách quốc tế đến Việt Nam tháng 12 và 12 tháng năm 2013
  6. ^ “Khách du lịch nội địa giai đoạn 2000-2013 - Tổng cục Du lịch Việt Nam”. Tổng cục Du lịch Việt Nam. 10 tháng 1 năm 2014. Truy cập 8 tháng 2 năm 2015. 
  7. ^ Tổng thu từ khách du lịch giai đoạn 2000 – 2013
  8. ^ Khách quốc tế đến Việt Nam tháng 12 và 12 tháng năm 2014
  9. ^ “Năm 2020, Doanh thu từ du lịch sẽ đạt 18-19 tỷ USD”. An ninh thủ đô. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2010. 
  10. ^ a ă Du lịch Việt Nam - những than phiền từ du khách nước ngoài
  11. ^ a ă 'Nạn lừa đảo du khách rất đáng báo động'
  12. ^ a ă Du lịch VN: Bị người ngoài ‘chê xấu’, có oan?
  13. ^ Ấn tượng xấu về du lịch Việt Nam , VnExpress, 14/2/2012
  14. ^ Điểm nóng du lịch mới ở châu Á
  15. ^ [1][liên kết hỏng]
  16. ^ Wirtschaftsentwicklung Vietnam 2008
  17. ^ a ă Phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam 2001 - 2010
  18. ^ Phê duyệt "Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030"
  19. ^ Nguyên văn "Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030"
  20. ^ Du lịch Việt Nam bao giờ cho đến "mũi nhọn"?, SGGP, 18/03/2013
  21. ^ Du lịch Việt Nam - bao giờ "tiềm năng" mới thành "khả năng"?, Tuổi Trẻ, 29/09/2007
  22. ^ Di sản góp phần phát triển du lịch
  23. ^ Báo văn hóa
  24. ^ Bảo tàng trăm miền thời vắng khách, CAND, 17/10/2012
  25. ^ Bảo tàng vắng khách, nhà hàng 'bủa vây', VnExpress, 22/10/2012
  26. ^ Rừng đặc dụng được công nhận Vườn Quốc gia
  27. ^ Đặc điểm của tài nguyên và môi trường nước lục địa của Việt Nam
  28. ^ Tọa đàm chương trình khảo sát sản phẩm du lịch Ninh Bình
  29. ^ Việt Nam: Sẽ khai thác hợp lý lợi thế của du lịch biển
  30. ^ Hoàng thành Thăng Long chính thức là Di sản thế giới
  31. ^ Quản lý, bảo tồn và phát triển du lịch tại các di sản thế giới ở Việt Nam
  32. ^ UNESCO công nhận Khu dự trữ sinh quyển Tây Nghệ An
  33. ^ Hơn 7.000 lễ hội... đua chen
  34. ^ Công bố danh sách 33 di sản văn hóa phi vật thể
  35. ^ Cả nước đã có 94 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia
  36. ^ Giải pháp Bảo Đại
  37. ^ "Hearts and Minds: Cultural Nation-building in South Vietnam, 1954-1963
  38. ^ Lạt bước vào năm 2000
  39. ^ Tem thư Việt Nam
  40. ^ Chặng đường 45 năm phát triển ngành Du lịch Việt Nam
  41. ^ Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” ngày 22/1/2013
  42. ^ Về việc phê duyệt "Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030
  43. ^ Lập Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc đến năm 2020, tầm nhìn 2030
  44. ^ Phát triển du lịch bền vững gắn liền với bảo vệ môi trường biển
  45. ^ Không tổ chức năm du lịch quốc gia 2009
  46. ^ Năm Du lịch quốc gia 2011: Vực dậy tiềm năng du lịch biển đảo
  47. ^ Nâng cao hiệu quả tổ chức Năm Du lịch quốc gia giai đoạn 2012-2017
  48. ^ Lễ Công bố Năm Du lịch Quốc gia 2013, tổ chức vào ngày 06/01/2013.
  49. ^ Lâm Đồng công bố năm du lịch quốc gia 2014 Tây Nguyên - Đà Lạt
  50. ^ a ă 'Làm clip du lịch hấp dẫn phải mất 1 triệu USD', VnExpress, 25/12/2012
  51. ^ a ă â 'Người Việt Nam làm clip du lịch không thành công', VnExpress. 29/12/2012
  52. ^ Du lịch Việt Nam thiếu tiền làm clip quảng bá, VnExpress, 23/12/2012
  53. ^ Đừng làm clip quảng bá du lịch kiểu 'tô son cho gỗ mục', VnExpress, 27/12/2012
  54. ^ Tôi ngưỡng mộ du lịch Campuchia, VnExpress. 17/1/2013
  55. ^ Hơn 70% khách quốc tế "một đi không trở lại", Dân Trí, 13/08/2007
  56. ^ Thác Voi bị bán với giá 3 tỉ đồng, Người Lao Động, 14/05/2008
  57. ^ Xung quanh việc 2 di tích quốc gia ở Lâm Đồng xin "khai tử" , Sài Gòn giải phóng, 28/02/2008
  58. ^ Việt Nam quảng bá du lịch tại 7 thị trường lớn
  59. ^ Du khách đua nhau tố các chiêu 'chặt chém'
  60. ^ Không khí ở Việt Nam bẩn thứ 10 thế giới
  61. ^ Niên giám các năm 2000-2010, Tổng cục Thống kê
  62. ^ Tourism Highlights, 2011 Edition “[[Tổ chức Du lịch Thế giới|UNWTO]]” (Thông cáo báo chí).  Tựa đề URL chứa liên kết wiki (trợ giúp)
  63. ^ a ă Nguồn từ Bộ Du lịch Việt Nam

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]