Vườn quốc gia Cát Bà

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Vườn quốc gia Cát Bà
IUCN II (Vườn quốc gia)
Vườn quốc gia Cát Bà nhìn từ đỉnh Cao Vọng
Vườn quốc gia Cát Bà nhìn từ đỉnh Cao Vọng
Vị trí Vườn quốc gia Cát Bà
Vị trí Vườn quốc gia Cát Bà
Vị trí tại Việt Nam
Vị trí miền Bắc Việt Nam
Thành phố gần nhất Hải Phòng
Tọa độ 20°47′50″B 107°4′15″Đ / 20,79722°B 107,07083°Đ / 20.79722; 107.07083Tọa độ: 20°47′50″B 107°4′15″Đ / 20,79722°B 107,07083°Đ / 20.79722; 107.07083
Diện tích 152,00 km²
Thành lập 1986
Bản đồ quần đảo Cát Bà, vùng rừng quốc gia Cát Bà được khoanh màu xanh đậm

Vườn quốc gia Cát Bà là khu rừng đặc dụng của Việt Nam, khu dự trữ sinh quyển thế giới. Vườn quốc gia Cát Bà thuộc huyện Cát Hải, Hải Phòng.

Lược sử[sửa | sửa mã nguồn]

VQG Cát Bà thành lập ngày 31/3/1986 theo quyết định số 79/CP của Hội đồng Bộ trưởng Việt Nam (nay là chính phủ). Gồm các hệ sinh thái biển, hệ sinh thái rừng trên cạn, hệ sinh thái rừng ngập mặn.

Vị trí địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

VQG Cát Bà nằm cách trung tâm thành phố Hải Phòng 30 hải lý về phía đông. Có tọa độ địa lý:

20°44′50″-20°55′29″ vĩ độ bắc.
106°54′20″-107°10′05″ kinh độ đông.

Bắc giáp xã Gia Luận. Đông giáp vịnh Hạ Long. Tây giáp thị trấn Cát Bà và các xã Xuân Đám, Trân Châu, Hiền Hào.

Diện tích[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng diện tích tự nhiên của vườn là 16.196,8 ha. Trong đó có 10.931,7 ha là rừng núi và 5.265,1 ha là mặt nước biển.

Điều kiện tự nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Đường vào khu vực rừng quốc gia Cát Bà

Địa hình[sửa | sửa mã nguồn]

Toàn bộ VQG Cát Bà gồm một vùng núi non hiểm trở có độ cao <500 m, trong đó đa phần là nằm trong khoảng 50–200 m. Đảo Cát Bà chủ yếu là núi đá vôi xen kẽ nhiều thung lũng hẹp chạy dài theo hướng Đông Bắc-Tây Nam.

Địa chất[sửa | sửa mã nguồn]

Đá mẹ chủ yếu của đảo là đá vôi.

Đất đai[sửa | sửa mã nguồn]

VQG Cát Bà gồm có 5 nhóm đất chính:

  • Nhóm đất trên núi đá vôi: Đó là loại đất phong hóa màu nâu đỏ hoặc nâu vàng phát triển trên đá vôi và sa thạch, tầng đất >50 cm, pH = 6,5-7. Phân bố dưới tán rừng, rải rác trong vườn.
  • Nhóm đất đồi feralit màu nâu vàng hoặc nâu nhạt phát triển trên sản phẩm đá vôi ít chua hay gần trung tính. Trong nhóm đất này còn có loại feralit màu trắng xám hay màu nâu vàng phát triển trên diệp thạch sét chua vùng đồi trọc, tầng đất mỏng, cấu tượng xấu, nhiều đá lẫn, dất khô dời rạc.
  • Nhóm đât thung lũng cạn phát triển trên đá vôi hoặc sản phẩm đá vôi, tập trung ở các thung lũng, được rừng tự nhiên che phủ.
  • Nhóm đất thing lũng ngập nước, phát triển chủ yếu do quá trình bồi tụ, mùa mưa thường ngập nước, tầng đất mặt trung bình hoặc mỏng.
  • Nhóm đất bồi tụ ngập mặn do sản phẩm bồi tụ ở cửa sông, phát triển trên vung ngập mặn ở Cái Viềng, Phù Long.

Tài nguyên sinh vật[sửa | sửa mã nguồn]

Thực vật[sửa | sửa mã nguồn]

Đơn ưu cây Và nước tại khu vực ao ếch-phân khu bảo vệ nghiêm ngặt

Rừng ở đây có một kiểu chính là kiểu rừng mưa nhiệt đới thường xanh, nhưng do điều kiện địa hình, đất đai và chế độ nước nên ở đây có một số kiểu rừng phụ: rừng trên núi đá vôi, rừng ngập mặn ven đảo, rừng ngập nước ngọt trên núi. Rừng ở đây cũng có nhiều kiểu sinh thái rừng cá biệt như quần hợp Kim giao (tại khu vực gần đỉnh Ngự Lâm); đơn ưu Và nước (khu vực Ao Ếch).

Thành phần thực vật có 741 loài khác nhau, nhiều loại cây gỗ quý như trai lý, lát hoa, lim xẹt, dẻ hoa, kim giao, gõ trắng, chò đãi, trên thế giới chỉ có ở dãy núi Himalaya, thực vật ngập mặn 23 loài, rong biển 75 loài, thực vật phù du 199 loài.

Động vật[sửa | sửa mã nguồn]

Trên khu vực Vườn có Có 282 loài trong đó 32 loài thú, 78 loài chim, 20 loài bò sát và lưỡng cư, 11 loài ếch nhái. Đặc biệt có loài voọc Cát Bà (tên khoa học: Trachypithecus poliocephalus phân loài poliocephalus) tức voọc đầu vàng (một số tài liệu gọi nhầm là voọc đầu trắng, tên khoa học: Trachypithecus poliocephalus phân loài leucocephalus chỉ có ở Trung Quốc) là loài đặc hữu hẹp của Cát Bà, hiện tại chỉ còn 66 cá thể, chỉ còn phân bố ở các núi ven bờ biển (theo số liệu cung cấp của chi cục kiểm lâm VQG Cát Bà, năm 2007). Động vật phù du 98 loài, cá biển 196 loài, san hô 177 loài.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]