Yên Bình

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Yên Bình
Địa lý
Huyện lỵ Thị trấn Yên Bình
Vị trí: Phía đông của tỉnh Yên Bái
Diện tích: 773,196 km²
Số xã, thị trấn: 2 thị trấn (Yên Bình, Thác Bà)
Dân số
Số dân: 103.776 người (2009) [1]
Mật độ: … người/km²
Thành phần dân tộc: Kinh, Tày, Nùng, Dao và Cao Lan
Hành chính
Chủ tịch Hội đồng nhân dân: Nguyễn Văn Sơn - Phó Chủ tịch HDND
Chủ tịch Ủy ban nhân dân: Nguyễn Văn Trọng
Bí thư Huyện ủy: Dương Văn Tiến
Thông tin khác
Điện thoại trụ sở: 0293 885 142
Số fax trụ sở: 0293 885 142
Website: http://www.yenbai.gov.vn/vi/org/htt/huyenyenbinh/Pages/gioithieuchung.aspx


Yên Bình là huyện cửa ngõ phía đông của tỉnh Yên Bái.

Diện tích và dân số[sửa | sửa mã nguồn]

Có diện tích tự nhiên trên 773,196 km2 là nơi chung sống của 107.882 dân (năm 2008) với 5 dân tộc: Kinh, Tày, Nùng, Dao và Cao Lan.

Vị trí địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Phía đông giáp với huyện Đoan Hùng (tỉnh Phú Thọ); phía tây giáp với thành phố Yên Bái; phía tây bắc giáp với huyện Trấn YênVăn Yên; phía bắc giáp với huyện Lục Yên.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Yên Bình vào thời nhà Nguyễn là đất châu Thu Vật (năm 1823 đổi tên là châu Thu (Thu Châu) phủ Yên Bình tỉnh Tuyên Quang. Thu Châu vào thế kỷ 19 gồm 7 tổng: Vĩnh Kiên (các đơn vị cấp làng xã: Vĩnh Kiên, Phục Lễ, Vũ Linh, Bạch Hà, An Thịnh), Đại Đồng (các đơn vị cấp làng xã: Đại Đồng, Vũ Khê, Khuôn Sơn, Hoàng Loan Thượng, Hoàng Loan Trung, Hoàng Loan Hạ), Ẩm Phúc (các đơn vị cấp làng xã: Ẩm Phúc, Tô Khê, Dương Liễu, Vô Tha, Phụ Thành, Bảo Ái, Đồng Lang), Cẩm Nhân (các đơn vị cấp làng xã: Cẩm Nhân, Tích Cốc, Bình Hanh, Hoàng Gia), Mông Sơn (các đơn vị cấp làng xã: Mông Sơn, Thì Lại, Xuân Lôi, Phú Lâm, Lãnh Thủy), Ngọc Chấn (gồm các đơn vị cấp làng xã: Ngọc Chấn, Dịch Dương, Xuân Kỳ, Bình Mục, Thu Vật, Hướng Dương), Thì Ngạn (các đơn vị cấp làng xã: Thì Ngạn, Kỳ Mã, Duyên Gia, Đông Lý);

Đơn vị hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Toàn huyện có 26 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm các xã: Phú Thịnh, Văn Lãng, Tích Cốc, Cảm Ân, Phúc Ninh, Bảo Ái, Mỹ Gia, Tân Nguyên, Yên Thành, Xuân Long, Phúc An, Cẩm Nhân, Vũ Linh, Ngọc Chấn, Yên Bình, Xuân Lai, Vĩnh Kiên, Bạch Hà, Hán Đà, Mông Sơn, Thịnh Hưng, Tân Hương, Đại Đồng, Đại Minh và các thị trấn: Yên Bình, Thác Bà.

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Thay đổi sau khi xây nhà máy thủy điện Thác Bà[sửa | sửa mã nguồn]

Trước kia khi nhà máy thủy điện Thác Bà chưa xây dựng người dân sinh sống bám theo hai bờ sông Chảy tạo nên những điểm dân cư sầm uất, nhiều người từ miền xuôi lên lập nghiệp tại đây.

Trước kia Yên Bình có nhiều rừng tự nhiên với gỗ, nứa và các loại lâm sản quy hiem,người dân khai thác gỗ nứa đóng thành bè, mảng vận chuyển theo dòng sông Chảy về xuôi.

"Còn tiền chợ Ngọc, chợ Ngà
Hết tiền thì lại Thác Bà, thác Ông"

Đó là câu thơ xưa nói về cuộc sống của người dân hai bên bờ sông Chảy. Chợ Ngọc, chợ Ngà là nơi buôn bán hàng hóa nổi tiếng ở vùng Yên Bình trước đây, bây giờ chợ Ngọc nằm sâu dưới lòng hồ Thác Bà, chợ Ngà giờ cũng không còn nữa, người dân khu chợ Ngà xưa nay đi chợ Cát Lem. Còn Thác Bà là nơi có dòng nước chảy xiết đổ xuống những khối đá lớn mà những người khai thác gỗ phải vượt qua, người ta đã lập một miếu thờ gần thác để thắp hương mỗi khi đưa bè gỗ qua đây. Bây giờ miếu thờ này không còn nữa.

Vào những năm 1970, khi Nhà máy thủy điện Thác Bà đi vào hoạt động, cả một vùng rộng lớn ngập chìm trong nước. Một số làng bản di chuyển khỏi lòng hồ đến những vùng xa hơn như Mông Sơn, Cảm Ân, xã Yên Bình... Những người dân vùng hồ phải làm quen với môi trường sống mới, họ đi lại trên hồ bằng thuyền và xuồng máy, nhiều phụ nữ và trẻ em biết bơi thuyền (nan) bằng chân. Hồ Thác Bà đã tạo nên diện tích mặt nước rất lớn nằm ở 2 huyện Yên Bình và Lục Yên, nhiều người dân sống gần hồ đã làm thêm nghề đánh bắt cá. Hơn một nghìn hòn đảo trên hồ giờ đang được trồng cây lâm nghiệp chủ yếu là keo, bạch đàn, muồng, quyền quản lý thuộc về cơ quan lâm trường Thác Bà và chịu trác nhiệm trực tiếp là ông: Nguyễn Văn Vượng trưởng phòng kỹ thuật của lâm trường. Nhiều mỏ đá vôi và đá trắng đang được khai thác và vận chuyển bằng đường thủy trên hồ Thác Bà. Ở đây người ta cũng đang có những dự án du lịch trên vùng hồ. - Vị trí: trên sông Chảy.

- Diện tích lưu vực: 6.430km2.
- Công suất lắp máy: 120MW.
- Chiều cao lớn nhất của đập: 48m.
- Chiều dài đỉnh đập: 657m.
- Thể tích đập: 1,33 triệu m3.
- Dung tích hữu ích của hồ chứa: 2.160.000.000 m3.
- Dung tích toàn bộ của hồ chứa: 2.490.000.000 m3.
- Diện tích mặt hồ ứng với MN bình thường: 235km2.
- Chiều dài lớn nhất của hồ chứa: 60 km.
- Cao trình MNBT: +58,0
- Cao trình MN lũ 0,01%: +61,0
- Cao trình MN lũ 0,1%: +59,65
- Cao trình MN lũ 1%: +58,85
- Mực nước hết: +46,0
- Mực nước trước lũ: +50,3
- Khả năng xả lũ lớn nhất: 3.650m3/s.

Vùng trồng bưởi[sửa | sửa mã nguồn]

Xuôi theo dòng sông Chảy, có một vùng đất phù xa thuộc làng Khả Lĩnh xã Đại Minh (Yên Bình) nổi tiếng trồng cây bưởi. Trước đây vùng đất này thuộc huyện Đoan Hùng - tỉnh Phú Thọ, nay thuộc Yên Bình - tỉnh Yên Bái. Bưởi trồng ở vùng đất này cho quả ngon và ngọt nhất. Ngày nay giống bưởi ngọt này đã được trồng ở nhiều nơi nhưng chất lượng thì không đâu bằng bưởi Khả Lĩnh. Bưởi Đại Minh giờ được bán nhiều tại ngã ba Cát Lem.

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Tiềm năng phát triển của huyện là du lịch, bên cạnh đó công nghiệp và nông nghiệp cũng được trú trọng: các nhà máy xí nghiệp được nâng cấp và xây dựng như Nhà máy xi măng Yên Bình được xây dựng tại KM 10 và Nhà máy xi măng Phú Thịnh cũng được nâng cấp từ lò đứng sang lò quay, Nhà máy thuỷ điện Thác Bà được Tổng công ty điện lực đầu tư cơ sở 2 tại Na Hang - tỉnh Tuyên Quang.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương. Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Kết quả toàn bộ. Hà Nội, 6-2010. Biểu 2, tr.10.


Việt Nam Các đơn vị hành chính cấp huyện thị trực thuộc tỉnh Yên Bái, Việt Nam
Thành phố (1): Yên Bái (thành phố) (tỉnh lị)
Thị xã (1): Nghĩa Lộ
Huyện (7): Lục Yên | Yên Bình | Văn Yên | Văn Chấn | Mù Căng Chải | Trạm Tấu | Trấn Yên