La Gi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
La Gi
Địa lý
Trực thuộc tỉnh Bình Thuận
Trụ sở Ủy ban Nhân dân 26 Hoàng Diệu, phường Tân An
Vị trí phía Đông Nam tỉnh Bình Thuận
Diện tích 182,82
Số xã/phường 5 phường, 4 xã
Dân số
Dân số 120.230
Mật độ 650
Thông tin khác
Website http://www.lagi.gov.vn/

La Gi (phát âm: /la-zi/) là một thị xã thuộc tỉnh Bình Thuận. La Gi vốn là tên thị trấn huyện lị của huyện Hàm Tân và được nâng cấp, mở rộng thành thị xã (đô thị loại IV) theo quyết định số 1222/QĐ-BXD ngày 3 tháng 6 năm 2005 của bộ trưởng Bộ Xây dựng Việt Nam. La Gi có diện tích là 18.282,64 ha và 120.230 nhân khẩu. Mật độ dân cư: 650 người/km²

La Gi có các thắng cảnh: Đồi Dương, Bãi Dương Cam Bình, Ngảnh Tam Tân, Hòn Bà, Dinh Thầy Thím. Cảng Lagi là một trong những Cảng cá biển vào loại lớn nhất Tỉnh Bình Thuận và khu vực.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Lagi nằm giữa hai trung tâm lớn là Phan Thiết (cách Lagi 68 km về hướng Bắc) và Bà Rịa (cách Lagi 50 km về hướng Đông Nam) và những vùng kinh tế quan trọng như Cảng nước sâu Kê Gà (Cách thị xã Lagi 10 Km về hướng Đông Bắc), trung tâm dịch vụ Dầu Khí và công nghiệp Sơn Mỹ (cách Lagi 10 Km về hướng đông nam). Phía Tây và phía Nam giáp huyện Hàm Tân, phía Bắc giáp huyện Hàm Thuận Nam, phía Đông giáp Biển Đông.

Tọa độ địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

  • Từ 10°40'54" đến 10°46'35" vĩ độ Bắc
  • Từ 107°40'45" đến 107°53'59" kinh độ Đông

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến đầu năm 2010 La Gi có diện tích là 18.272,64 ha và khoảng 106.000 nhân khẩu. Mật độ dân cư: 580 người/km². La Gi gồm 5 phường:

  • Tân An
  • Phước Hội
  • Phước Lộc
  • Tân Thiện
  • Bình Tân

và 4 xã:

  • Tân Phước
  • Tân Tiến
  • Tân Hải
  • Tân Bình

Địa hình[sửa | sửa mã nguồn]

Thị xã La Gi có địa hình thấp dần từ Tây sang Đông và từ Bắc vào Nam, được chia thành 4 dạng địa hình chính như sau:

1. Địa hình núi cao trung bình: Có độ cao từ 500 đến 600 m phân bố ở phía Bắc Thị xã và phía Đông Nam giáp với huyện Hàm thuận Nam, Hàm Tân. Bao gồm các ngọn núi Nhọn cao 478 m, núi Đất (452 m), núi Bể (570 m).

2. Địa hình đồi núi thấp: Có độ cao dao động từ 100 đến 200 m tập trung ở phía nam của Thị xã.

3. Địa hình đồi thoải lượn sóng: Có độ cao từ 20 đến 150 m bao gồm đồi đất xám, đất đổ vàng, chạy theo hướng Bắc -Nam, hoặc xen kẽ những vùng đất thấp.

4. Dạng địa hình đồng bằng: gồm 2 loại

  • Bậc thềm sông: Có độ cao 2–5 m, có nơi cao 5–10 m, phân bố dọc theo sông Dinh.
  • Đồng bằng phù sa: Phân bố ở dọc các sông và các nhánh suối nhỏ, là vùng trọng điểm Thủy sản, Du Lịch của tỉnh Bình Thuận.

Trong khu vực đất đồng bằng, đất có địa hình trung bình thấp và thấp trũng chiếm diện tích kha lớn, trên địa hình này thuận lợi cho việc tưới nước, song thường hay ngập lụt vào mùa mưa.

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Khí hậu của La Gi mang tính chất chuyển tiếp giữa chế độ mưa của vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ và đồng bằng Nam Bộ. Hay nói cách khác khí hậu La Gi là vùng đệm giữa trung tâm mưa lớn của Miền Nam và đồng bằng ven biển. Tuy nhiên khí hậu ở đây vẫn diễn biến theo 2 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô.

  • Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 lượng mưa trung bình năm 2.185 mm có khi cao tới 2.894 mm. Mùa mưa cây trồng sinh trưởng và phát triển mạnh, đây là mùa sản xuất chính. Tuy nhiên mưa lớn thường tập trung vào các tháng 7, 8 và 9, nên thời gian này thường gây ra lũ quét, ngập úng, ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp nhất là những vùng sản xuất lúa và cây công nghiệp hàng năm.
  • Mùa khô từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, thường mưa ít hoặc không có mưa nên gây thiếu nước nghiêm trọng, cây cối sinh trưởng và phát triển kém, nhiều sâu bệnh ảnh hưởng nhiều đến năng suất cây trồng.
  • Nhiệt độ không khí cao đều quanh năm và tương đối ổn định. Nhiệt độ trung bình năm: 22–26°C. Tổng tích ôn trung bình năm là 9.300°C.
  • Độ ẩm không khí trung bình năm 70-85%. Từ tháng 6 đến tháng 12 độ ẩm không khí 84,3-86,9%. Các tháng 1, 2 và 3 độ ẩm trung bình 75,6-76,9%. Hàng năm độ ẩm không khí trung bình cao nhất vào khoảng 91,8%. Độ ẩm trung bình thấp nhất là 61,3%. Độ ẩm thấp nhất tuyệt đối xuống dưới 15% vào mùa khô.
  • Gió mùa: Có 2 hướng gió chính là Tây Nam và Đông Bắc, gió Tây nam từ tháng 5 đến tháng 10. Gió Đông Bắc (gió mùa đông) từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Tốc độ gió trung bình 2–3 m/s.

Lịch sử hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Quá trình hình thành dân cư ở Lagi mang tính đặc thù của một vùng đất tụ nghĩa. Với tiềm năng thiên nhiên phong phú, địa thế hẻo lánh, Lagi là nơi thu hút nhiều người dân miền Trung phiêu tán, tha phương cầu thực và không ít những người bất mãn chống đối nhà cầm quyền phong kiến địa phương về đây nương náu, khai phá, định cư lập nghiệp.

Thuở đầu triều Nguyễn trung hưng, những xóm làng lần lượt mọc lên ở các cửa sông Tam Tân, LaGi có đặt các dịch trạm như trạm Thuận Phước ở Phước Lộc, trạm Thuận Trình ở Tam Tân và trạm Thuận Lâm ở Khe Cả. Một số nhóm đồng bào dân tộc thiểu số như Cơ Ho, Raglai, Châu Ro... từ phía Đông Di Linh di cư xuống vùng Suối Kiết, Bà Giêng, Sông Phan. Trước đó, đã có một nhóm người Chăm lánh nạn chiến tranh dạt về phía Nam, lập làng định cư ở Hiệp Nghĩa, Phò Trì.

Năm 1867, khi 3 tỉnh miền Tây Nam kỳ rơi vào tay thực dân Pháp, nhiều đồng bào Nam bộ "tị địa" ra Bình Thuận đã dừng chân sinh sống tại La Gi.

Từ đó, với sức khai phá và tính cần cù, những người tứ xứ nói trên đã biến vùng đất màu mỡ này thành các làng mạc sầm uất.

Trong kháng chiến 9 năm, LaGi trở thành căn cứ địa vững chắc của tỉnh, thu hút nhiều đồng bào Hàm Thuận, Phan Thiết, Bà Rịa, Xuyên Mộc bỏ vùng địch đến đây lánh cư, sinh sống.

Trong bối cảnh đất nước bị thực dân, đế quốc xâm lược qua các đợt di dân, di cư, LaGi lần lượt tiếp nhận hàng vạn người tứ xứ đến sinh sống làm ăn: 6.000 đồng bào công giáo miền Bắc di cư năm 1955, 5.000 Việt kiều từ Campuchia hồi hương năm 1970, khoảng 25.000 đồng bào Quảng Trị, Quảng Ngãi, Quảng Nam di dân năm 1973 theo kế hoạch lấn chiếm của chính quyền Sài gòn, làm cho dân số LaGi tăng nhanh; năm 1975 đã có 68.422 người.

Địa hình Lagiđược thiên nhiên cấu tạo đa dạng gồm nhiều mỏm đồi thoai thoải, lượn sóng thấp dần theo hướng Bắc Nam tạo ra mạng lưới sông suối rải khắp đồng bằng ven biển. Sông lớn có sông Phan (còn gọi là sông Đợt) ở Tân Hải, sông Dinh, sông Cô Kiều, sông Trạm, sông Chùa ở Tân Phước.

Núi tương đối cao có núi Bể (874m) và núi Nhọn (570m). Ngày trước vốn rừng tự nhiên ở Hàm Tân (cũ) rất lớn, hầu như bao bọc cả huyện, tiếp giáp tận bờ biển và nối liền với rừng miền Đông Nam bộ.

Ngày nay rừng LaGi vẫn còn các loại gỗ quí như cẩm lai, gõ đỏ, giáng hương, bằng lăng, sao, dầu... và lâm sản dầu rái, lá buông, song mây là nguồn nguyên liệu phổ biến trong sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ và cung ứng nhu cầu sửa chữa ghe thuyền.

Sau bao nhiêu năm chiến tranh tàn phá, các thời kỳ địch di dân lập ấp cư dân phát triển và khai thác bừa bãi, nên rừng bị đẩy lùi cạn kiệt, độ che phủ rất thấp. Động vật rừng ngày xưa có nhiều như voi, cọp, beo, nai, đỏ, khỉ và các loại chim, bò sát nhưng nay trở nên hiếm hoi.

Đồng ruộng LaGi không rộng, địa hình lại bị chia cắt bởi những quả đồi lượn sóng có độ cao từ 50 – 190 m, tạo ra những lòng chảo cục bộ, độ phì nghèo, khả năng bị rửa trôi lớn.

Sản xuất nông nghiệp chỉ tập trung ở hạ lưu các sông, suối xen kẽ theo chân núi, sườn đồi theo thời vụ, lệ thuộc nguồn nước mưa. Về hệ thống thủy lợi, những đập thời vụ có từ trước: Suối Dứa, Láng Đá với khoảng 6.500m kênh; nhưng kinh tế chủ yếu vẫn là Thủy sản và dịch vụ du lịch,

hiện tại ở Lagi có Cảng Cá Biển, trong tương lai không xa khi Lagi trở thành trung tâm dịch vụ dầu khí của cả nước với Cảng nước sâu Khe Gà và Khu công nghiệp dịch vụ dầu khí Sơn Mỹ hình thành cách lagi không xa thì đô thị này sẽ vươn vai lớn mạnh.

Ven biển Lagi có Hồ Tôm (Tân Phước), Bà Đăng (Tân Hải), Hà Lãng (Tân Tiến) và nhiều ao, mặt nước có những điều kiện sinh thái tự nhiên rất thuận lợi cho việc khai thác nuôi tôm nước lợ và sản xuất muối với qui mô lớn. Đây cũng là tiềm năng kinh tế đáng kể của Lagi.

Khoáng sản đa dạng về chủng loại như Ilmenit, ziacon, sỏi đỏ, cát trắng, than bùn, đá ốp lát (Núi Nhọn)... với trữ lượng tập trung, là nguồn cung ứng nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp và xây dựng.

Lagi có đặc điểm khí hậu, thủy văn khá điển hình, trữ lượng nước mặt cũng như nước ngầm không lớn, nên nông nghiệp chậm phát triển.

Nhưng với bờ biển dài 29 km kéo dài từ Tân Hải đến Tân Phước, chiếm một phần ba chu vi toàn thị xã và lãnh hải rộng 13.000 km2,

Lagi giàu về ngư nghiệp. Biển Lagi nằm trong khu vực thềm lục địa bằng phẳng thuộc hệ nhiệt đới, hội tụ bởi hai dòng nước chảy nóng lạnh, được tiếp nhận nhiều nguồn phù sa từ sông suối đổ ra tạo nên môi trường sinh sản phong phú cho các loài hải sản; ngư trường Lagi có nhiều bãi cá tôm, mật độ dày, đa dạng.

Họ cá nục, cá cơm, cá chỉ, cá mối, cá thiều, cá ngừ chiếm tỷ lệ lớn trong sản lượng khai thác. Đặc biệt trữ lượng hải sản có giá trị kinh tế và chiếm tỷ trọng xuất khẩu cao như nục, tôm, sò, điệp, ốc hương phân bố dày ở độ sâu 6- 14m, tạo nguồn thu nhập lớn cho ngư dân. Duy các loài cá có tính đặc trưng và sinh sản nhiều trước đây như cá mòi, cá bẹ, cá đỏ dạ... dần dần không còn nữa.

Từ các phương tiện đánh bắt thô sơ: Lưới bén, lưới rừng, câu tay... ngư dân Lagi đã phát triển các thuyền nghề mành chà, lưới cảng, giã cào, vây rút chì qui mô lớn và năng suất cao.

Qua quá trình xây dựng và phát triển, Lagi đã biết khai thác lợi thế về vị trí địa lý và tiềm năng biển, rừng, đất đai, khoáng sản, tạo nên những bước chuyển biến đáng kể, trong đó việc xác định đúng đắn ưu thế hải sản là ngành kinh tế mũi nhọn đã mang lại những hiệu quả cao trong công nghiệp chế biến xuất khẩu.

Những năm gần đây, diện mạo mới của Lagi về hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, du lịch, văn hóa bắt đầu phát triển rõ rệt. Nhiều công trình có ý nghĩa phục vụ sản xuất đời sống như thủy lợi, đường sá, lưới điện quốc gia, đài truyền thanh, trạm tiếp phát truyền hình, trường học, bệnh viện... được đầu tư xây dựng. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngư, nông, lâm nghiệp, công nghiệp chế biến đã hòa nhập với nhịp độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh nhà.

Năm 2005, thị trấn La Gi tách ra khỏi huyện Hàm Tân (cũ) thành thị xã trực thuộc tỉnh. Một đô thị mới ra đời với nhiều triển vọng mới.

Tài nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Đất đai[sửa | sửa mã nguồn]

Đất đai La Gi hình thành trên tập hợp đá mẹ và mẫu chất sau:

1. Đá granit bao phủ một diện tích khá lớn trên địa bàn. Đá Granite có thành phần hóa học với hàm lượng SiO2 tương đối cao (60-70%), Fe2O3 thấp (0,2-1,4%), chứa nhiều K2O. Đá bị phong hóa tạo nên sườn tích rất thô, gồm có cát silic với mảnh đá vụn trôi thành lớp, nằm theo triền và vây quanh chân núi. Đá granit hình thành ra 3 nhóm đất là đất đỏ vàng, đất xám và đất xói mòn trơ sỏi đá, trong đó nhóm đất xám và đất đỏ vàng là chủ đạo, với đặc tính rửa trôi, hoạt tính thấp và thành phần cơ giới nhẹ, chủ yếu là cát pha, thịt nhẹ.

2. Đá sét phát hiện thấy trong lớp vỏ thổ nhưỡng ở Bình Thuận nói chung và LaGi nói riêng, chiếm khoảng 5-6% diện tích lãnh thổ. Đá sét rất cổ (tuổi Mezôzôi), là nền móng của lãnh thổ nhưng một phần lớn diện tích bị Aluvi Neogen và bazan phủ lấp lên. Đá có màu thay đổi, mức độ phong hóa cao. Đất trên đá sét thường có màu đỏ vàng hay vàng nhạt, thành phần cơ giới trung bình đến nặng, các chất dinh dưỡng khá. Tuy nhiên do phong hóa mạnh cùng với quá trình xói mòn rửa trôi mạnh nên đất thường có tầng mỏng, nhiều nơi đất trơ sỏi đá hoặc đá non mục nát trơ trên mặt đất.

3. Mẫu chất phù sa cổ (Pleistocene) chiếm một diện tích không lớn khoảng 10-15% diện tích vùng nghiên cứu. Tầng dày của phù sa cổ từ 2-3 đến 5-7 mét, vật liệu của nó màu nâu vàng, gần lên tầng mặt chuyển sang màu xám. Cấp hạt thường thô tạo cho đất có cấp hạt cát là chủ yếu (cát pha, thịt nhẹ). Các loại đất hình thành trên phù sa cổ có thành phần cơ giới nhẹ, cùng với điều kiện nhiệt đới gió mùa, mưa lớn và tập trung, làm cho đất bị rửa trôi mạnh, nghèo dưỡng chất và có hoạt tính thấp. Nên phần lớn đất hình thành trên phù sa cổ thuộc nhóm đất đỏ vàng và nhóm đất xám.

4. Phù sa sông, suối là loại trầm tích trẻ hơn cả với tuổi Holocen muộn - hiện đại (QIV). Phù sa thường có màu nâu sẫm đến nâu vàng nhạt, phân bố không liên tục làm thành các dải hẹp dọc ven các sông suối vùng nghiên cứu. Hình thành trên trầm tích này là nhóm đất phù sa sông Phan, Sông Dinh, bao gồm phần lớn khu vực Tân Phước.

Nước mặt[sửa | sửa mã nguồn]

  • Sông Dinh: Đây là con sông chính lớn nhất của thị xã và cũng là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho sản xuất nông nghiệp trong vùng, là phụ lưu cấp 1 của hệ thống sông Đồng Nai[cần dẫn nguồn] bắt nguồn từ cao nguyên Di Linh tỉnh Lâm Đồng. Sông Dinh chảy qua LaGi có chiều dài chừng 30 km, diện tích lưu vực khoảng 417,4 km², mực nước trung bình năm 11.699-12.163 mm.
  • Ngoài sông Dinh còn có sông Phan dài 30 km, sông Cái, hồ Núi Đất, đập Đá Dựng, nhiều hồ và suối nhỏ. Các suối nhỏ chỉ có nước vào mùa mưa.

Nhìn chung La Gi có nguồn nước mặt tương đối dồi dào, đảm bảo cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp và các hoạt động kinh tế khác. Tuy nhiên do sông, suối, hẹp, ngắn dốc lại chảy qua nhiều địa hình phức tạp nên vào mùa mưa thường gây ra lũ lụt, ngập úng cục bộ, nhất là những nơi có địa hình thấp, trũng. Hoặc lũ quét, gây khó khăn cho sản xuất và sinh hoạt của người dân.

Thảm thực vật[sửa | sửa mã nguồn]

Thảm thực vật rừng tự nhiên: Rừng tự nhiên bao gồm các kiểu sau:

1. Kiểu rừng lá rộng thường xanh nhiệt đới ẩm gió mùa phân bố chủ yếu ở các vùng núi phía Bắc của thị xã.

2. Kiểu rừng nửa rụng lá nhiệt đới: phân bố ở vùng núi phía Nam và phía Đông của LaGi. Hình thái và cấu trúc kiểu rừng này chiếm tỷ lệ 25-75% cá thể là những loài cây rụng lá.

3. Kiểu rừng thưa cây lá rộng nhiệt đới: Phân bố ở vùng núi phía Tây và phía Đông Bắc của Thị xã gồm các cây họ đậu, tre nứa,...

4. Thảm thực vật rừng trồng: chủ yếu ở phía nam gồm các loại như keo lá tràm, bạch đàn,...

5. Thảm cây trồng nông nghiệp: bao gồm cây lúa tập trung chủ yếu ở thung lũng các sông lớn, cây ăn quả phân bố ở các khu vực bậc thềm sông và xen lẫn trong khu dân cư. Cây công nghiệp như điều, cao su, tiêu,... phân bố rải rác ở các xã trong thị xã.

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Xe buýt[sửa | sửa mã nguồn]

Bus Binh Thuan.PNG

Hiện đang hoạt động các tuyến:

  • Paris m 1 jms.svg La Gi - Phan Thiết
  • Paris m 2 jms.svg La Gi - Tân Nghĩa (Hàm Tân)
  • Paris m 3 jms.svg La Gi - Hàm Thuận Nam
  • Paris m 4 jms.svg La Gi - Thắng Hải (Hàm Tân)
  • Paris m 5 jms.svg