Hàm Thuận Bắc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hàm Thuận Bắc
Huyện
Hamthuanbac.png
Vị trí trong Bình Thuận
Địa lý
Tọa độ: 11°09′18″B 108°03′7″Đ / 11,155°B 108,05194°Đ / 11.15500; 108.05194Tọa độ: 11°09′18″B 108°03′7″Đ / 11,155°B 108,05194°Đ / 11.15500; 108.05194
Diện tích 1282,47 km²
Dân số (2009)  
 Tổng cộng 169.652 người
Dân tộc Kinh, Chăm, Chơ Ro, K’Ho, Hoa...
Hành chính
Quốc gia  Việt Nam
Vùng Trung Bộ Việt Nam
Tỉnh Bình Thuận
 Chủ tịch HĐND Huỳnh Thanh Cảnh
 Bí thư Huyện ủy Huỳnh Thanh Cảnh
Phân chia hành chính 2 thị trấn, 15 xã
Mã hành chính 597
Website Trang chính thức

Hàm Thuận Bắc là một huyện của tỉnh Bình Thuận. Hàm Thuận Bắc cùng với Hàm Thuận Nam được thành lập năm 1983 từ việc chia cắt huyện Hàm Thuận của tỉnh Thuận Hải (cũ) lấy sông Cà Ty làm ranh giới.

Vị trí địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Hàm Thuận Bắc, là huyện miền núi của tỉnh Bình Thuận.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Gồm 2 thị trấn và 15 xã:

  1. Đa Mi.
  2. Đông Tiến.
  3. La Dạ.
  4. Đông Giang, Hàm Thuận Bắc.
  5. Thuận Hòa.
  6. Hàm Phú.
  7. Thuận Minh.
  8. Hàm Liêm.
  9. Hàm Hiệp.
  10. Hàm Chính.
  11. Hàm Trí.
  12. Hồng Liêm.
  13. Hồng Sơn, Hàm Thuận Bắc.
  14. Hàm Thắng.
  15. Hàm Đức.

Địa hình-địa mạo, Khí hậu thời tiết[sửa | sửa mã nguồn]

Nhìn chung địa hình của huyện khá đa dạng, thấp dần theo hướng Tây Bắc - Đông Nam; bao gồm dạng địa hình vùng đồi núi, bán sơn địa, vùng đồng bằng phù sa ven sông và các vùng cồn cát biển; có thể tạm chia địa hình của huyện thành 3 dạng chính: - Vùng đồi núi bán sơn địa phía Bắc và phía Tây: Phân bố về phía Tây đường sắt Bắc Nam, bao gồm các xã vùng bán sơn địa, chiếm 76,44% diện tích tự nhiên toàn huyện. - Vùng đồng bằng phù sa ven sông: Bao gồm một số xã nằm dọc theo Quốc lộ 1A và Quốc lộ 28, chiếm 12,39% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện. - Vùng cồn cát biển phía Nam và phía Đông: Phân bố về phía Đông Quốc lộ 1A kéo dài bao gồm các xã Hàm Đức, xã Hồng Sơn và xã Hồng Liêm, chiếm 10,63% tổng diện tích tự nhiên của huyện. Đây là vùng có cồn cát trắng vàng và đỏ mang tính chất khô hạn nhất của huyện. Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nhưng khí hậu của huyện mang nét đặc trưng của chế độ khí hậu bán khô hạn vùng cực Nam trung bộ, tuy nhiên do phân hoá về địa hình nên khí hậu của huyện được chia thành hai tiểu vùng gồm vùng khí hậu miền núi và vùng khí hậu đồng bằng ven biển. Trong năm khí hậu được chia thành 2 mùa rõ rệt: Mùa mưa: Từ tháng 5 đến tháng 10. Mùa khô: Từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Chế độ thủy văn của huyện chịu ảnh hưởng của 2 con sông chính là sông Cái Phan Thiết và sông La Ngà. Ngoài ra trên địa bàn huyện còn một hệ thống gồm nhiều con sông, suối nhỏ khác.

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Về Kinh tế Hàm Thuận Bắc chủ yếu là huyện thuần nông, trong những năm gần đây nhờ có cây Thanh Long mà đời sống bà con trong Huyện tăng lên rõ rệt, nhiều trang trại Thanh Long đã và đang hình thành và phát triển cùng với những Rừng cây Cao Su và cây ăn trái khác đã làm thay đổi bộ mặt Nông thôn Hàm Thuận Bắc;

Do nhu cầu đô thị hóa, cuối năm 2009, Thành Phố Phan Thiết sẽ được nâng lên thành đô thị loại II, một số vùng giáp ranh với Phan Thiết của Hàm Thuận Bắc sẽ được chuyển về Phan Thiết quản lý như Hàm Liêm, Hàm Thắng, Hàm Hiệp, Thị trấn Phú Long.

Hàm Thuận Bắc cỏn là nơi có khung cảnh thiên nhiên rất hữu tình có hồ Hàm Thuận, thủy điện Hàm Thuận-Đa Mi rất đẹp và nên thơ, khung cảnh của các xã giáp ranh với Bảo Lộc, Bảo Lâm, Di Linh thuộc Lâm Đồng không khác gì khung cảnh của Đà Lạt còn ẩn hiện trong sương chưa được khai phá. Tiềm năng thiên nhiên và du lịch của vùng đất này vẫn chưa được đánh thức.

Xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Hàm Thuận Bắc được hình thành vào khoảng thế kỷ 19, trong quá trình chinh phục thiên nhiên, chống thiên tai địch họa để sinh tồn và phát triển, địa giới của huyện đã nhiều lần thay đổi với các tên gọi như quận Thiện Giáo (trước giải phóng), huyện Hàm Thuận (sau giải phóng) và đến năm 1993 được chia tách thành hai huyện là: Hàm Thuận Bắc và Hàm Thuận Nam. Theo thống kê năm 2007, dân số toàn huyện là 162.586 người. Trên địa bàn huyện hiện có nhiều dân tộc khác nhau sinh sống như Kinh, Rắclay, Chăm, K’Ho … trong đó dân tộc Kinh chiếm đa số với trên 95%. Cộng đồng dân cư bản địa chủ yếu là người K’Ho, Chăm, Rắclay sống tập trung ở các xã vùng cao với tập quán sản xuất làm nghề rừng, làm nương rẫy, một bộ phận nhỏ trồng lúa nước và được tổ chức thành những buôn làng, các luật tục, lễ thức gắn chặt với buôn làng. Cộng đồng người Kinh tập trung ở vùng đồng bằng, ven quốc lộ nơi có điều kiện thuận tiện buôn bán, trồng lúa nước. Các cộng đồng dân cư của huyện theo một số tôn giáo chính như: Đạo Bà La Môn, Công giáo, Tin lành và Lương giáo.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]