Bình Tuy

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bản đồ hành chính năm 1967 cho biết địa giới tỉnh Bình Tuy của Việt Nam Cộng Hòa.

Bình Tuy là một tỉnh cũ thuộc Đông Nam Bộ Việt Nam, được lập dưới thời Việt Nam Cộng hòa.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Bình Tuy là một trong 22 tỉnh của Nam Phần được chính quyền Việt Nam Cộng hòa thiết lập theo Sắc lệnh 143-NV của Tổng thống ngày 22 tháng 10 năm 1956. Đất đai Bình Tuy lấy từ một phần tỉnh Đồng Nai Thượng, và vùng Hàm Tân, Hàm Thuận Nam, Tánh Linh của tỉnh Bình Thuận.

Năm 1957, tỉnh Bình Tuy có 3 quận:

  • Quận Hàm Tân có 4 xã; quận lị: Phước Hội.
  • Quận Tánh Linh có tổng La Ngà (4 xã) và 4 xã độc lập; quận lị: Lạc Tánh.
  • Quận Bình Lâm có 5 tổng (gồm nhiều thôn, không có xã): Ma Blao, R'Da (Va Pro), Rda, Tala, Quyeon; quận lị: Bsa Da Houai.

Từ 1976, tỉnh sáp nhập với Ninh Thuận và Bình Thuận thành tỉnh Thuận Hải. Ngày 26 tháng 12 năm 1991, Thuận Hải lại được tách thành hai tỉnh là Bình Thuận và Ninh Thuận. Bình Tuy từ đó thuộc khu vực huyện Hàm Tân, Hàm Thuận Nam, Tánh Linh, Đức Linh và thị xã La Gi của tỉnh Bình Thuận ngày nay. Như vậy, địa bàn tỉnh Bình Tuy cũ trở thành khu vực thuộc Nam Trung Bộ.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Bình Tuy phía bắc giáp tỉnh Lâm Đồng, phía đông giáp tỉnh Bình Thuận, phía nam giáp biển Đông, phía tây giáp với hai tỉnh Long KhánhPhước Tuy. Diện tích 3.560 kilômét vuông. Tỉnh lỵ là Hàm Tân gần bờ biển phía nam, cách thành phố Sài Gòn 183 kilômét về hướng đông. Đông bắc tỉnh nhiều rừng núi, các ngọn núi đáng kể là núi M'Hai 1.642 mét, núi B'Nom Dan Lu 1.339 mét, núi Pacam 1.205 mét, núi Nam Hu 1.186 mét, núi B'Nom Pang Ko 734 mét; ở giữa tỉnh gần Tánh Linh có núi Ông cao 1.302 mét, núi Đen cao 507 mét; phía Tây và phía Nam có những ngọn núi thấp như núi La A 332 mét, núi Dinh (Djinh) 295 mét, núi Hok 157 mét, núi Giang Cò 352 mét, núi Bà 871 mét, núi Ky 736 mét, núi Đất 166 mét, núi Nhọn 570 mét, núi Tà Cú 666 mét.

Sông La Ngà là sông chính của tỉnh, chảy từ Lâm Đồng xuống Bình Tuy theo hướng bắc-nam, đi ngang qua quận Tánh Linh, rồi vào địa phận quận Hoài Đức và chảy dọc theo ranh giới với tỉnh Long Khánh, sau đó chảy qua phía bắc Long Khánh để nhập vào sông Đồng Nai. Các chi lưu quan trọng của sông La Ngà là sông Da Rgna, Da R'Gnao và sông Các. Ngoài ra, Bình Tuy còn các sông khác ở phía đông và nam là sông Kabat, sông Phan, sông Dinh, sông Giêng, sông Gia Ót, sông Cỏ Chi, sông Cô Kiều. Và một số suối lớn như suối Vàng, suối Kiết, suối Tre. Ở Hiệp Hòa có suối nước nóng trên 70 °C.

Tổng diện tích tỉnh Bình Tuy là 3.696 km².

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Khí hậu Bình Tuy giống Bình Thuận, không chênh lệch nhiệt quá lớn. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4. Quốc lộ 1 và liên tỉnh lộ 3 là những đường giao thông quan trọng nối liền Bình Tuy với các tỉnh khác. Sân bay có ở tỉnh lỵ Hàm Tân.

Dân cư[sửa | sửa mã nguồn]

Dân tộc sinh sống đông nhất ở đây là người Kinh, kế đó đến người Ra Glai và người Chàm. Các tôn giáo chính tại đây là đạo Thiên Chúa, đạo Phật, đạo Tin Lành, thờ cúng ông bà.

Dân số tỉnh Bình Tuy tính đến năm 1971 là 74.315.

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Ruộng lúa phần lớn có tại vùng đồng bằng phía tây-nam, các hoa màu phụ là ngô, khoai lang, sắn, đậu phụng, vừng, mía.... Vùng Hoài Đức và Tánh Linh trồng nhiều mía. Mía Trà Tân nổi tiếng. Tỉnh có nhiều rừng với các loại gỗ quý như: , hoàng đàn, trắc, cẩm lai, lá buông và nhiều rừng dầu có cây rất to. Lá buông là được dùng để lợp nhà, dệt đệm, dệt buồm, chắn phên, đan cặp, đan nón, đan vỏ chai rượu. Cọng lá buông dùng đan mành sáo chắn gió. Cành lá buông đập tơ lấy sợi đan thảm. Rừng Bình Tuy cũng có nhiều thú như voi, cọp, beo, heo rừng, nai...

Do có nhiều sông và gần bờ biển nên ở đây có nhiều người theo nghề đánh cá và làm nước mắm, ruộng muối.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]