Đông Triều

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đông Triều
Đông Triều.JPG
1 góc ngã tư Đông triều
Địa lý
Diện tích 397,2 km²
Dân số  
 Tổng cộng {{{dân số}}}
Múi giờ G (UTC+7)
Hành chính
Quốc gia  Việt Nam
Vùng Bắc Bộ
 Chủ tịch UBND Vũ Văn Học
 Chủ tịch HĐND Nguyễn Thị Huân
Phân chia hành chính 2 Thị Trấn 19 xã
Mã bưu chính 36
Mã điện thoại 33
Biển số xe 14
Website Cổng thông tin Đông Triều

Đông Triều là một huyện cực tây của tỉnh Quảng Ninh.

Vị trí địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Nằm ở phía Tây của tỉnh Quảng Ninh, phía Bắc giáp huyện Lục Nam, Sơn Động (Bắc Giang), phía Tây giáp thị xã Chí Linh (Hải Dương), phía Nam giáp huyện Kinh Môn (Hải Dương), phía Đông giáp thành phố Uông Bí.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Đông Triều là vùng đất ghi đậm nhiều dấu ấn lịch sử và văn hoá. Đây là vùng đất cổ, thời Bắc thuộc thuộc châu Giao, thời Ngô Đinh - Tiền Lê thuộc lộ Nam Sách Giang, thời Trần thuộc phủ Tân Hưng, thời Hậu Lê thuộc phủ Kinh Môn trấn Hải Dương. Do ở cửa ngõ ra Đông Bắc nên thời Trần huyện Đông Triều là trung tâm của châu Đông Triều. Thời Pháp thống trị, toàn quyền Pháp đã cho lập Đạo Đông Triều (10-11-1890) sau đó lại đưa Đông Triều vào khu quân sự Phả Lại (24-8-1891) rồi lại đưa về tỉnh Hải Dương (10-10-1895).

Tên cổ của vùng đất này là An Sinh, đời vua Trần Dụ Tông mới đổi thành Đông Triều. Xưa huyện Đông Triều rất rộng, bao gồm cả một phần huyện Kinh Môn và tổng Bí Giàng, năm 1896 tổng Bí Giàng cắt về huyện Yên Hưng. Do vậy, trong sử sách vùng danh sơn Yên Tử thuộc Đông Triều. Sau Cách mạng, đến 9-7-1947, Đông Triều mới về tỉnh Quảng Hồng, 28-1-1959 Đông Triều trở về Hải Dương. Từ 27-10-1961 Đông Triều nhập lại vào khu Hồng Quảng (từ 30-10-1963, Hồng Quảng hợp nhất với Hải Ninh thành tỉnh Quảng Ninh).

Sự kiện lịch sử sớm nhất trên đất này sử sách còn ghi được là cuộc khởi nghĩa của Lê Chân. Lê Chân quê ở làng An Biên nay thuộc xã Thuỷ An. Năm 39, đang căm ghét bọn quan quân đô hộ nhà Hán, được tin Hai Bà Trưng dấy binh khởi nghĩa, Lê Chân đã chiêu tập nam nữ thanh niên Đông Triều rồi cả vùng Kinh Môn, Thuỷ Nguyên ngày nay đứng lên đánh đuổi quân giặc và lập căn cứ bên sông Cửa Cấm. Lê Chân đã lập nhiều chiến công và trở thành nữ tướng tâm phúc của Hai Bà Trưng. Cùng hưởng ứng cuộc khởi nghĩa chống giặc Đông Hán. Đông Triều còn có những tấm gương phụ nữ lẫm liệt khác như Thánh Thiên, Vĩnh Huy, chị em Nguyệt Thai - Nguyệt Độ. Đông Triều cũng góp nhiều chiến công ở thời Trần. Trong trận Bạch Đằng năm 1288 hai vua Trần đã phục binh ở vùng Yên Đức rồi khoá đuôi đánh dồn đoàn binh thuyền Nguyên Mông xuống trận địa cọc, dân Đông Triều đã phá các cầu chặn đứt đường hộ tống trên bộ của giặc. Nhờ địa thế hiểm yếu, Đông Triều là căn cứ của nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân: Ngô Bệ (1344-1345), Trần Cao (1516-1527), Nguyễn Tuyển - Nguyễn Cừ (1743). Đầu thế kỷ XIX, Đông Triều là nơi nóng bỏng phong trào Cần Vương chống Pháp. Các cuộc khởi nghĩa nối tiếp của Đốc Tít (1884-1889), Lưu Kỳ (1890-1892), Lãnh Pha (1892-1895), Đốc Thu (1893-1895)v.v. Tiếp đến là phong trào đấu tranh của công nhân mỏ Mạo Khê. Năm 1926 đồng chí Hoàng Quốc Việt đã tổ chức trong công nhân tổ chức đoàn kết, tương trợ lẫn nhau đặt tên là Long Sương Đoàn. Tháng 3-1929, chi bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên được thành lập. Ngày 23-2-1930 chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam ở Mạo Khê ra đời trước sự chứng kiến của đồng chí Nguyễn Văn Cừ và đồng chí Nguyễn Đức Cảnh thay mặt Xứ uỷ và Thành uỷ Hải Phòng công nhận. Đây là chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam đầu tiên ở Quảng Ninh. Đông Triều là quê hương của một chiến khu oanh liệt trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 (sau được gọi là Chiến khu thứ tư hoặc Chiến khu Trần Hưng Đạo). Trong cao trào cách mạng tiền khởi nghĩa, sau ba tháng xây dựng lực lượng, ngày 8-6-1945 Du kích quân Đông Triều từ căn cứ Hổ Lao, Bác Mã đã tiến quân hạ đồn và chiếm huyện lỵ Đông Triều, hạ đồn Chí Linh, đồn Tràng Bạch, buộc đồn binh Nhật ở Mạo Khê đầu hàng và chính thức thành lập uỷ ban quân sự cách mạng của Chiến khu. Chiến khu Đông Triều đã nhanh chóng phát triển lực lượng, đầu tháng 7 giải phóng Uống Bí, cuối tháng 7 giải phóng tỉnh lỵ Quảng Yên rồi thừa thắng tiến quân giải phóng Hải Phòng, Hải Dương, Kiến An, Hòn Gai, Cẩm Phả. Riêng ở Đông Triều, ngay cuối tháng 6, Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời đã được thành lập ở huyện và tất cả các xã.

Trong kháng chiến chống Pháp, Đông Triều là vùng chiến tranh du kích nổi tiếng, điển hình là chiến công và gương hy sinh của du kích xã Yên Đức. Sau trận chiến đấu quyết liệt 5 ngày 5 đêm làm địch thiệt hại nặng, du kích cố thủ ở hang núi Canh đã bị chúng hun lửa khói vào hang, 73 du kích hy sinh. Đông Triều nằm trong khu tập kết 100 ngày, ngày 31-10-1954 những tên lính Pháp cuối cùng rút khỏi thị trấn Đông Triều, Mạo Khê. Riêng 4 xã phía đông nằm trong khu tập kết 300 ngày nên 14-4-1955 mới được giải phóng. Ngày 11/12/2013, Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam ký Quyết định xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt (đợt 4) đối với 14 di tích trong đó có Di tích lịch sử Khu di tích Nhà Trần tại Đông Triều.

Ngày 18 tháng 05 năm 2011, Bộ Xây Dựng công nhận thị trấn Mạo Khê, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh là đô thị loại IV.

Ngày 7 tháng 7 năm 2014, Bộ Xây Dựng đã công nhận đô thị Đông Triều mở rộng là đô thị loại IV trực thuộc tỉnh Quảng Ninh.[1]

Diện tích, dân cư, giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện có diện tích 397,2 km², dân số là 179.902 người. người (năm 2012). Huyện lỵ là thị trấn Đông Triều nằm trên quốc lộ 18 cách thành phố Hạ Long khoảng 60 km về hướng Tây. Cách thủ đô Hà Nội khoảng 100 km.

Ngã 4 Đông Triều

Các đơn vị hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Đông Triều gồm 2 Thị Trấn và 19 xã:

Tài nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Là vùng than nổi tiếng với cái tên Mạo Khê là một trong những mỏ than lớn.

Có nguồn tài nguyên đất sét vô cùng dồi dào...

Nhiệt điện Mạo Khê
Mỏ than Mạo Khê

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Đông Triều có khá nhiều thuận lợi cho phát triển tổng hợp các ngành kinh tế nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và khai thác khoáng sản (than atraxit) Từ những quy hoạch ban đầu, Đông Triều đã hình thành nhiều cụm công nghiệp tập trung, cụm vùng nghề, cụm bến bãi thuỷ nội địa với diện tích trên 250ha gồm các xã: Bình Dương, Thuỷ An, Hồng Phong, Đức Chính, Xuân Sơn, Mạo Khê, Yên Thọ, Hoàng Quế... Đến hết năm 2006, huyện đã thu hút gần 80 dự án đến đăng ký đầu tư với tổng số vốn là 3.190 tỷ đồng và hiện (2011) đã có 30 dự án đi vào sản xuất, giải quyết việc làm cho trên 3.150 lao động. Giá trị sản xuất công nghiệp của huyện năm 2005 đạt 558 tỷ đồng, bằng 228% so với năm 2001; trong đó giá trị sản xuất công nghiệp địa phương đạt 90 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 19% năm. Trong 11 tháng năm 2006, tổng giá trị sản xuất công nghiệp địa phương của huyện đạt hơn 84 tỷ đồng. Các doanh nghiệp Nhà nước từng bước thực hiện cổ phần hóa, tiếp tục sắp xếp lại đồng thời đầu tư nâng cao dây chuyền công nghệ, mở rộng sản xuất.

Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn huyện có bước phát triển, các ngành nghề truyền thống tiếp tục phát triển; diện mạo của các làng nghề sản xuất gốm, sứ thủ công mỹ nghệ đã thay đổi cơ bản về quy mô sản xuất, chất lượng, mỹ thuật và thị trường tiêu thụ sản phẩm; từng bước người thợ thủ công mỹ nghệ đã tự khẳng định được thương hiệu của gốm sứ Đông Triều trên thị trường. Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh phát triển mạnh như Công ty liên doanh gốm Hoàng Quế, Công ty TNHH Quang Vinh, Công ty TNHH Thắng Lợi, Công ty cổ phần Quang và Mỹ nghệ xuất khẩu, Công ty vận tải Thành Tâm... đã góp phần thúc đẩy kinh tế của địa phương. Năm 2006, một số sản phẩm chủ yếu tăng trưởng khá như sản xuất 66,8 triệu viên gạch nung, tăng 12%; đá xây dựng 27.000 m 3; sứ các loại đạt gần 5,5 triệu sản phẩm... Hệ thống bến, bãi bốc xếp hàng hóa đường sông được quy hoạch và đầu tư đã đi vào hoạt động, là đầu mối vận chuyển sản phẩm trên địa bàn huyện.

Nông nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Trong lĩnh vực sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp, ngành kinh tế chủ đạo của Đông Triều cũng đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ. Tuy đã phải dành khá nhiều diện tích đất canh tác để phát triển các cụm công nghiệp, làng nghề, bến bãi... song việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mùa vụ được thực hiện và hiệu quả. Đến 2010, 90,5% diện tích lúa trên đồng chủ yếu được cấy bằng giống mới, giống thuần có năng suất cao, chất lượng tốt.

Diện tích cây vụ đông được mở rộng từ 1.293 ha năm 2001 lên 3.118 ha, trong đó cây ngô đông là 852 ha. So với năm 2001, hệ số quay vòng đất hiện đã tăng từ 2,45 lên 2,5 lần; giá trị sản xuất từ 16,5 triệu đồng ha lên 32,5 triệu đồng ha canh tác, năng suất lúa bình quân tăng từ 45,8 tạ/ha/vụ lên 57,5 ta/ha/vụ; sản lượng lương thực tăng từ 59.902 tấn lên 65.000 tấn, do đó đã đảm bảo an ninh lương thực trên địa bàn, một phần được chuyển sang hàng hóa. 100% số xã, thị trấn giờ đây đang xây dựng những cánh đồng với 1.219 ha theo mô hình cánh đồng đạt giá trị sản xuất trên 40 triệu đồng trở lên/ha, bước đầu có hiệu quả. Hệ thống chợ của huyện và các xã đều đã được quy hoạch, mở mang và đầu tư để tạo mở thị trường tiêu thụ hàng hóa cho nông dân, tạo thêm chỗ làm việc cho người kinh doanh thương mại, dịch vụ và cũng là để tạo nguồn thu cho ngân sách địa phương. Doanh thu của ngành thương mại, dịch vụ năm 2006 ước đạt 358 tỷ đồng tăng 27,5% so với năm 2005 và chiếm hơn 19% tỷ trọng kinh tế chung. Tỷ lệ hộ giàu có trong huyện đã chiếm 11%; số hộ khá và trung bình có 80,3%. Số hộ sản xuất giỏi và hộ giàu ngày càng tăng, đời sống vật chất tinh thần ngày được nâng cao; trên 90% số hộ có xe máy... Kết quả này đồng thời cũng chứng tỏ Đề án CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn giai đoạn từ 2001 đến 2010 đang đi đúng hướng.

Định hướng quy hoạch trở thành thị xã công nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Đô thị Đông Triều

Năm 2001, huyện Đông Triều được tỉnh Quảng Ninh chọn làm điểm thực hiện Đề án công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn. Theo đó huyện đã xác định: Phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp là yếu tố quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Trong giai đoạn 2 của đề án 2011, từ năm 2006 đến năm 2010, Đông Triều tiếp tục đi lên bằng cơ cấu kinh tế "công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp - nông nghiệp - thương mại - dịch vụ và du lịch", trong đó phát triển công nghiệp là chủ đạo. Mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế được gắn với việc giải quyết việc làm mới cho 1.500 lao động/năm; tiếp tục phát triển các làng nghề truyền thống tại xã Đức Chính và thị trấn Mạo Khê. Đến năm 2010, huyện sẽ có thêm làng nghề ở xã Bình Dương, Xuân Sơn, Kim Sơn; sản xuất sứ đạt sản lượng hàng năm từ 8,5 triệu đến 10 triệu sản phẩm, đồng thời tiếp tục đẩy mạnh phát triển các ngành nghề như dệt, may, thêu móc, hàng mỹ nghệ mây, tre đan; hỗ trợ nâng cao năng lực sản xuất đối với các doanh nghiệp; có chính sách thu hút hợp lý bằng quĩ đất, thủ tục giải phóng mặt bằng dự án, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư đến đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất vật liệu xây dựng, khai thác đá, khai thác cao lanh để sản xuất gốm sứ cao cấp xuất khẩu... kêu gọi thu hút các nguồn vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng; mở rộng không gian đô thị của 2 thị trấn Đông Triều và Mạo Khê theo qui hoạch; phát triển tiếp các thị tứ Bắc Mã, xã Bình Khê, xã An Sinh; gắn qui hoạch sử dụng đất với các qui hoạch chi tiết các đề án phát triển trong từng ngành và lĩnh vực; quản lý sử dụng đất có hiệu quả tài nguyên đất, khoáng sản, gắn với bảo vệ môi trường sinh thái... Thị xã công nghiệp trong tương lai tại vùng đất chiến khu cách mạng năm xưa đang được định hình với những bước đi vững chắc và toàn diện [4].

Danh lam thắng cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cụm di tích lịch sử, cách mạng, văn hóa Yên Đức - xã Yên Đức
    Hồ đập trại Lốc
  • Khu du lịch sinh thái hồ Khe Chè
  • Cụm di tích lịch sử nhà Trần, khu đập Trại Lốc
    Chùa Quỳnh Lâm
  • Đập Bến Châu
  • Chùa Ngọa Vân với phong cảnh hữu tình
Khu du lịch sinh thái Hồ Khe Chè

== Di tích lịch sử ==

Bãi Đá Chồng Ngọa Vân

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hơn sáu mươi năm trước, với thế đất hiểm yếu, Đông Triều được chọn làm căn cứ địa của Đệ tứ Chiến khu. Và từ đây, những chiến công lừng lẫy của quân và dân ta đã được ghi dấu tại mảnh đất này.Với những làng nghề truyền thống từ cha ông để lại, Đông triều có rất nhiều làng nghề được được phục vụ nhân dân và thị trường như: Làng nghề Gốm Sứ Đông triều, như xay xát gạo, mộc gia dụng, thợ nề, sản xuất vật liệu xây dựng, nấm ăn và nguyên liệu, dệt thổ cẩm, đan lát mây tre làm thúng, mủng, rèn, cơ khí nhỏ, sửa chữa, dệt may, thêu ren, điêu khắc than đá...
Đại hội TDTT Đông Triều 2013

Giáo Dục[sửa | sửa mã nguồn]

Các trường Đại Học và thpt trên địa bàn Huyện:

  • Đại học công nghiệp Quảng Ninh.
  • Trường thpt Đông Triều.
  • Trường thpt Hoàng Quốc Việt.
  • Trường thpt Hoàng Hoa Thám.
  • Trường thpt Lê Chân.
  • Trường thpt Dân Lập Trần Nhân Tông
  • Trường thpt Dân Lập Nguyễn Bình.
  • Trường thpt Dân lập Trần Hưng Đạo.
  • Trung tâm GDTX Huyện Đông Triều.

Các trường Trung học cơ sở, TH,trên địa bàn Huyện.

  • Trường Trung học cơ sở Yên Thọ
  • Trường Trung học cơ sở Yên Đức
  • Trường Trung học cơ sở Xuân Sơn
  • Trường Trung học cơ sở Việt Dân
  • Trường Trung học cơ sở TT Đông Triều
  • Trường Trung học cơ sở Tràng Lương
  • Trường Trung học cơ sở Tràng An
  • Trường Trung học cơ sở Thủy An
  • Trường Trung học cơ sở Tân Việt
  • Trường Trung học cơ sở Nguyễn Huệ
  • Trường Trung học cơ sở Nguyễn Đức Cảnh
  • Trường Trung học cơ sở Mạo Khê II
  • Trường Trung học cơ sở Mạo Khê I
  • Trường Trung học cơ sở Lê Hồng Phong
  • Trường Trung học cơ sở Kim Sơn
  • Trường Trung học cơ sở Hưng Đạo
  • Trường Trung học cơ sở Hồng Thái Tây
  • Trường Trung học cơ sở Hồng Thái Đông
  • Trường Trung học cơ sở Hoàng Quế
  • Trường Trung học cơ sở Đức Chính
  • Trường Trung học cơ sở Bình Khê
  • Trường Trung học cơ sở Bình Dương
  • Trường Trung học cơ sở An Sinh

__________________________________

  • TrườngTH Yên Thọ
  • Trường TH Yên Đức
  • TrườngTH Xuân Sơn
  • TrườngTH Vĩnh Khê
  • TrườngTH Việt Dân
  • TrườngTH TT Đông Triều
  • TrườngTH Tràng Lương
  • TrườngTH Tràng An
  • TrườngTH Thủy An
  • TrườngTH Tân Việt
  • TrườngTH Quyết Thắng
  • TrườngTH Nguyễn Văn Cừ
  • TrườngTH Nguyễn Huệ
  • TrườngTH Mạo Khê B
  • TrườngTH Mạo Khê A
  • TrườngTH Lê Hồng Phong
  • TrườngTH Kim Sơn
  • TrườngTH Hưng Đạo
  • TrườngTH Hông Thái Tây
  • TrườngTH Hông Thái Đông
  • TrườngTH Hoàng Quế
  • TrườngTH Đức Chính
  • TrườngTH Bình Khê II
  • TrườngTH Bình Khê I
  • TrườngTH Bình Dương
  • TrườngTH An Sinh B
  • TrườngTH An Sinh A

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ thống giao thông đường bộ và đường thủy trọng yếu gồm có:

....

Các công trình hạ tầng xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nhà ở: Đông Triều đã thực hiện có hiệu quả chương trình hỗ trợ và cải thiện nhà ở cho các hộ nghèo trên địa bàn và cải thiện nhà ở. Hiện nay, phần lớn nhà ở trên địa bàn huyện là nhà ở bán kiên cố với 77,2%, chỉ có 11,8% là nhà kiên cố và còn 11% là nhà tạm.
  • Các công trình phục vụ công cộng: y tế huyện Đông Triều có một bệnh viện đa khoa huyện với 135 giường bệnh, 1 trung tâm y tế than khu vực Mạo Khê (thuộc Tập đoàn CN than và khoáng sản VN) với 130 giường bệnh, 1 phòng khám đa khoa khu vực Mạo Khê, trung tâm y tế, trung tâm dân số, 21 trạm y tế xã, thị trấn. Ngoài ra, địa bàn huyện còn có 3 phòng khám đa khoa tư nhân và trên 100 cơ sở hành nghề Y, dược, y học cổ truyền tư nhân, có 21/21 xã, thị trấn trong huyện được công nhận đạt chuẩn quốc gia về y tế xã. Từ năm 2008, huyện Đông Triều là địa phương đầu tiên của tỉnh Quảng Ninh đã có 100% - 21/21 xã, thị trấn trong huyện được công nhận đạt chuẩn quốc gia về y tế xã. Bình quân số giường bệnh trên địa bàn huyện là 2,66 giường/1000 dân.
  • Giáo dục - đào tạo: có chuyển biến tích cực, quy mô giáo dục - đào tạo tiếp tục được mở rộng và phát triển, chất lượng dạy và học được nâng lên. Quy mô trường lớp được mở rộng, đội ngũ giáo viên được tăng cường và chuẩn hóa, từng bước đáp ứng được yêu cầu đề ra. Giáo dục mầm non phát triển ở tất cả các xã, thị trấn, đã tạo điều kiện cho các cháu trong độ tuổi đến lớp. Huyện hiện có 54 trường tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông và trung tâm giáo dục thường xuyên, với 959 lớp học, thu hút trên 30 ngàn học sinh các cấp, đáp ứng nhu cầu học tập của con em dân tộc trên địa bàn huyện.
  • Văn hóa: Đến năm 2008, huyện Đông Triều có 25 di tích được xếp hạng Quốc gia, cấp tỉnh, trong đó nhiều địa danh nổi tiếng như chùa Quỳnh Lâm, đền An Sinh và lăng mộ các vua Trần, chùa Ngọa Vân, am Long Động, chùa Hồ Thiên thuộc quần thể di tích Yên tử cùng với di tích lịch sử đền An Biên, chùa Bắc Mã, Đình chùa Hổ Lao nơi Bác Hồ dừng chân ở Hồng Thái Tây. Đặc biệt là cụm di tích lịch sử và danh thắng Yên Đức. Ngoài ra trong huyện cũng có nhiều thắng cảnh đẹp khác như đèo Voi, hồ Bến Châu, Trại Lốc, khe Chè, khe Ươn với gần 3000 ha cây ăn quả tập trung tạo ra vùng khí hậu mát mẻ, môi trường sinh thái trong lành, có thể sử dụng các khu du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng..
  • Thương mại, dịch vụ: có 19 chợ. Đông Triều là địa phương có mật độ chợ vào loại cao so với cả nước.
  • Công trình công cộng: Công viên mỏ Mạo Khê, công viên Hà Lan, Khu tượng đài quân và dân Đông Triều
Lễ hội Cùa Quỳnh Lâm

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]


Việt Nam Các đơn vị hành chính cấp huyện thị trực thuộc tỉnh Quảng Ninh, Việt Nam
Thành phố (4): Hạ Long | Móng Cái | Uông Bí | Cẩm Phả
Thị xã (1): Quảng Yên
Huyện (9): Ba Chẽ | Bình Liêu | Cô Tô | Đầm Hà | Đông Triều | Hải Hà | Hoành Bồ | Tiên Yên | Vân Đồn