Bình Liêu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bình Liêu
Địa lý
Huyện lỵ Bình Liêu (thị trấn)
Vị trí: Phía bắc của tỉnh Quảng Ninh
Diện tích: 471,4 km²
Số xã, thị trấn: 1 thị trấn, 7
Dân số
Số dân: 27.629 người (2009) [1]
Mật độ: 56 người/km²
Thành phần dân tộc: Tày, Dao, Sán chỉ, Kinh, Hoa
Hành chính
Chủ tịch Hội đồng nhân dân: Lô Văn Chắn
Chủ tịch Ủy ban nhân dân: Đặng Sinh
Bí thư Huyện ủy: Cao Tường Huy
Thông tin khác
Điện thoại trụ sở: 84.33.3878246
Số fax trụ sở: 84.33.3878267
Website: Huyện Bình Liêu


Bình Liêu là một huyện thuộc tỉnh Quảng Ninh.

Vị trí địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Quảng Ninh; phía bắc giáp với huyện Ninh Minh, thành phố Sùng Tả và khu Phòng Thành, thành phố cảng Phòng Thành (Quảng Tây - Trung Quốc); phía Tây giáp với huyện Đình Lập (tỉnh Lạng Sơn); phía Đông giáp huyện Hải Hà, phía Nam giáp huyện Tiên Yên và huyện Đầm Hà (tỉnh Quảng Ninh).

Bình Liêu là huyện miền núi ở cực bắc của tỉnh, (có toạ độ từ 21027’ đến 210 39’ vĩ độ Bắc và từ 107017’ đến 107036’ kinh độ Đông), cách thành phố Hạ Long 108 km, cách thị trấn Tiên Yên 28 km; phía Bắc có 42,999 km đường biên giới với nước bạn Trung Quốc.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Bình Liêu được thành lập ngày 16 tháng 12 năm 1919, có 08 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 01 thị trấn và 07 xã (trong đó có 06 xã biên giới). Toàn Huyện có 104 thôn, bản, khu phố, với dân số khoảng trên 3 vạn người. Đảng bộ huyện có 29 chi, đảng bộ cơ sở với hơn 1.800 đảng viên (số liệu năm 2014).

  1. Bình Liêu (thị trấn): Huyện lỵ, trung tâm Chính trị và Hành chính
  2. Hoành Mô (Cửa khẩu Hoành Mô)
  3. Đồng Tâm
  4. Đồng Văn
  5. Húc Động
  6. Lục Hồn
  7. Tình Húc
  8. Vô Ngại

Kinh tế, xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Về kinh tế: Sau gần 30 năm thực thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, với sự cố gắng của cán bộ, đảng viên, quân và dân các dân tộc, diện mạo của Huyện đã có sự thay đổi tích cực; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân từng bước được nâng cao; hệ thống chính trị được củng cố vững mạnh từ huyện đến cơ sở; quốc phòng - an ninh trên trên địa bàn luôn được đảm bảo giữ vững; công tác đối ngoại và ngoại giao nhân dân được tăng cường; kinh tế - xã hội tiếp tục phát triển. Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Huyện trong nhiệm kỳ 2010 - 2015 luôn duy trì ở mức khá (bình quân 05 năm, nhiệm kỳ 2005 - 2010 đạt 11,15%/năm; đến 2013 đạt trên đạt 13%); cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ (số liệu tính đến hết năm 2013, nông nghiệp chiếm tỷ trọng 40,4%; công nghiệp 16,36%; dịch vụ 43,24%,); tỷ lệ hộ nghèo của huyện giảm từ 43,27% năm 2010, còn 16,53% năm 2013 (theo tiêu chí mới). Hệ thống cơ sở vật chất ngành giáo dục từng bước được đầu tư xây dựng với quy mô trường lớp hiện nay cơ bản đáp ứng được nhu cầu học tập của học sinh; toàn huyện có 27 trường (trong đó, 11/27 trường đạt chuẩn quốc gia, chiếm 40,7%), với 145 điểm trường. Đội ngũ giáo viên cơ bản đáp ứng đủ về số lượng, từng bước được nâng cao về chất lượng đáp ứng yêu cầu của công tác giáo dục, đào tạo trong giai đoạn mới. Là địa phương có đường biên giới trên đất liền với nước bạn Trung Quốc dài nhất Tỉnh, nên việc củng cố hệ thống chính trị, phát triển kinh tế - xã hội phải gắn với việc đảm bảo quốc phòng - an ninh là nhiệm vụ vô cùng quan trọng. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, phát triển kinh tế - xã hội chưa tương xứng với lợi thế và tiềm năng của địa phương. Điều kiện kinh tế - xã hội của Huyện trong những năm qua đã được nâng lên, nhưng vẫn còn nhiều khó khăn; vẫn là một trong những địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn nhất tỉnh (thu nhập bình quân đầu người của Huyện mới đạt khoảng 30% của Tỉnh; có 05 xã điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, chiếm 62,5%; mật độ dân cư thưa, không tập trung, các điểm dân cư cách xa nhau và xa trung tâm nên khó khăn trong việc đầu tư hạ tầng, cơ sở vật chất phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; trình độ dân trí không đồng đều, trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ nhất là cán bộ cấp cơ sở còn nhiều hạn chế.

Văn hoá, xã hội: Bình Liêu là huyện đa dân tộc (khoảng trên 96% là đồng bào dân tộc thiểu số), với 05 dân tộc chính (dân tộc Tày chiếm 58,4%, dân tộc Dao chiếm 25,6%, dân tộc Sán Chay chiếm 15,4%, dân tộc Kinh chiếm 3,7%, dân tộc Hoa chiếm 0,3%) tạo nên một bề dày văn hóa phóng phú, đa dạng, mang một bản sắc riêng. Huyện không có nhiều đền chùa, di tích lịch sử, chỉ có duy nhất di tích lịch sử cấp tỉnh là Đình Lục Nà, thuộc xã (Lục Hồn) vừa được phục dựng lại Lễ hội vào năm 2005. Vào ngày 16/3 âm lịch chợ có lễ hội tháng 3 (người ta quen gọi là Chợ tình giao duyên) của người Sán Chỉ. Đây là một lễ hội văn hoá rất đặc sắc, đang được địa phương phục dựng và phát triển.

Địa hình, điều kiện tự nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Bình Liêu có cấu trúc địa hình đa dạng của miền núi cao thuộc cánh cung bình phong Đông Triều - Móng Cái; có một số đỉnh núi cao trên 1.000m so với mực nước biển như đỉnh Cao Ba Lanh (cao 1.113m), đỉnh Cao Xiêm (cao 1.330m). Trong tổng diện tích tự nhiên 47.510,5ha,  diện tích đất nông nghiệp của huyện rất hẹp, khoảng 7.000ha, chiếm 15,6% tổng diện tích đất đai toàn huyện (trong đó, hơn 4.000ha là đồi cỏ có thể chăn thả đại gia súc, đất trồng lúa và hoa màu hơn 164ha chủ yếu là ruộng bậc thang trải dài theo các thung lũng, sườn dồi, bãi bồi ven sông); diện tích đất lâm nghiệp của Bình Liêu khoảng 34.683,78ha, chiếm 73% (trong đó, hơn 2.616,65ha là rừng tự nhiên, nhưng lâm sản nghèo kiệt do khai thác quá mức) phù hợp với trồng một số loại cây đặc sản như: hồi, quế, trẩu, sở; các loài cây lấy gỗ như: sa mộc, thông, keo và một số cây ăn quả.

Với điều kiện tự nhiên, khí hậu mát mẻ, trong lành, địa hình, cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp và có cửa khẩu Hoành Mô; văn hóa dân tộc vẫn được bảo tồn và phát huy như nghệ thuật diễn xướng Then của dân tộc Tày, Hội Sóong Cọ của người Sán Chỉ, Lễ hội Đình Lục Nà... là nguồn tài nguyên phong phú, điều kiện thuận lợi để huyện Bình Liêu phát triển du lịch văn hóa - lễ hội, du lịch sinh thái và du lịch nghỉ dưỡng gắn với các trung tâm du lịch lớn. Tuy nhiên, các điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch mới ở dạng tiềm năng.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương. Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Kết quả toàn bộ. Hà Nội, 6-2010. Biểu 2, tr.12.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]


Việt Nam Các đơn vị hành chính cấp huyện thị trực thuộc tỉnh Quảng Ninh, Việt Nam
Thành phố (4): Hạ Long | Móng Cái | Uông Bí | Cẩm Phả
Thị xã (1): Quảng Yên
Huyện (9): Ba Chẽ | Bình Liêu | Cô Tô | Đầm Hà | Đông Triều | Hải Hà | Hoành Bồ | Tiên Yên | Vân Đồn