Ung Văn Khiêm
Ung Văn Khiêm (hoặc Uông Văn Khiêm), tên khác là Nhường, Huân (13 tháng 2 năm năm 1910 - 20 tháng 3 năm 1991) là một nhà chính trị Việt Nam.
Ông là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam từ tháng 2 năm 1961 đến tháng 4 năm 1963, sau đó làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ Việt Nam đến năm 1971. Trong thời gian đảm nhận chức vụ này, ông là Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam.
Mục lục |
Quê quán [sửa]
Ông sinh ra tại làng Tân Đức (xã Tân Mỹ), huyện Chợ Mới, Long Xuyên (ngày nay là tỉnh An Giang). Ông nội là Ung Văn Tre, bà con trong vùng gọi là ông Chủ Tre, người đầu tiên đến đây chống thú dữ, khai phá vùng đất hoang vu này trở thành vùng cù lao trù phú, xinh tươi, từng được mệnh danh là “Đệ nhất Cù lao”. Ông Ung Văn Tre sinh ra ông Ung Văn Quản,thân phụ của ông Ung Văn Khiêm.Do thân phụ từng theo Trương Định kháng Pháp nên từ nhỏ, nên Khiêm đã được giáo huấn về lòng yêu nước.
Học tập [sửa]
Học xong trường làng, Khiêm quyết tâm thi vào Trường Collège de Can Tho (nay là trường THPT Châu Văn Liêm). Chợ Mới năm ấy có hai học sinh đậu cao được cấp học bổng là Ung Văn Khiêm và Trần Văn Thạnh. Vốn ham học hỏi để tiến bộ và ghét cảnh bất công nên Khiêm tham gia các phong trào bãi khóa và đấu tranh với hiệu trưởng Tây nên bị đuổi học.
Về quê, Khiêm được Châu Văn Liêm, một thầy giáo tiểu học yêu nước dìu dắt. Được tiếp xúc nhiều với sách báo tiến bộ, Khiêm nhanh chóng gia nhập nhóm “đồng tâm, đồng chí” tại Chợ Mới.
Quá trình hoạt động cách mạng [sửa]
| Thông tin trong bài này không thể kiểm chứng được do không được chú giải từ bất kỳ nguồn tham khảo nào. Xin bạn hãy cải thiện bài viết này bằng cách bổ sung chú thích tới các nguồn uy tín. Nếu bài được dịch từ Wikipedia ngôn ngữ khác thì hãy chuyển nguồn tham khảo từ phiên bản đó cho bài này. |
- Cuối năm 1927, Khiêm gia nhập tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Sau khi đã vào tổ chức, Khiêm được tổ chức điều về Cần Thơ, làm Ủy viên Ban Chấp hành Tỉnh bộ Việt Nam Cách mạng Thanh niên tỉnh Cần Thơ, phụ trách công nhân.
- Tham dự lớp huấn luyện do Nguyễn Ái Quốc tổ chức ở Quảng Châu (Trung Quốc), sau khi về nước được chỉ định làm Bí thư Đặc uỷ miền Hậu Giang, tham gia Xứ uỷ Nam Kỳ khi hợp nhất 3 tổ chức Cộng sản (1928);
- Tháng 9/1929 giữ chức vụ Bí thư Đặc ủy An Nam Cộng sản Đảng miền Hậu Giang, sau đó được phân công là ủy viên thường vụ xứ ủy Hậu Giang.
- Tham gia Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1930
- Bị thực dân Pháp bắt và bị tù ở Khám lớn Sài gòn và Côn Đảo (1931-1936);
- Hoạt động công khai, tổ chức Mặt trận bình dân ở các tỉnh miền Tây Nam bộ (1936-1939);
- Bị bắt giam tại Long xuyên (1939-1941);
- Hoạt động ở miền tây Nam bộ chuẩn bị cho sự thành lập Xứ ủy Nam kỳ (1944-1945);
- Bí thư Xứ uỷ Nam kỳ (08/1945 - 12/1945);
- Đại biểu Quốc hội Việt Nam khoá I, đơn vị tỉnh Long Xuyên (1946); Uỷ viên nội vụ Uỷ ban Kháng chiến hành chính Nam bộ;
- Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam; Uỷ viên Trung ương Cục miền Nam (tại Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam II tháng 02/1951);
- Bí thư, kiêm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến hành chánh tỉnh Bạc Liêu - Cà Mau 1951-1954
- Thứ trưởng Bộ Ngoại giao; Trưởng Ban Đối ngoại Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (1955);
- Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng - 1960);
- Đại biểu Quốc hội Việt Nam các khoá I, II, III;
- Bộ trưởng Bộ Nội vụ Việt Nam (30/4/1963 - 1971).
Sau 30 tháng 4 năm 1975, Ung Văn Khiêm trở về miền Nam, sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 20/3/1991, sau nhiều năm bệnh tật, Ung Văn Khiêm từ trần, thọ 81 tuổi.
Những đóng góp chính cho ngành Ngoại giao [sửa]
Bộ trưởng Ung Văn Khiêm đã có những đóng góp nổi bật vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của Ngành trong những năm đầu thập kỷ 1960, phục vụ sự nghiệp khôi phục và phát triển đất nước, tiếp tục đề cao Hội nghị Giơ-ne-vơ, tranh thủ sự ủng hộ quốc tế đối với cuộc chiến tranh cách mạng ở miền Nam, tăng cường đoàn kết 3 nước Đông Dương, mở rộng quan hệ với các nước XHCN và dân tộc chủ nghĩa, đồng thời tích cực phối hợp với các hoạt động đối ngoại của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam.
Về xây dựng Ngành, Bộ trưởng Ung Văn Khiêm đã đưa Bộ Ngoại giao phát triển thêm một bước mới bằng việc xây dựng bộ máy tổ chức, nội dung công tác của Bộ, của từng đơn vị và quy định chế độ, lề lối làm việc, phối hợp thống nhất công tác đối ngoại theo Nghị định 157/CP của Chính phủ.
Theo thông tin từ Bộ Ngoại giao Trung Quốc, ngày 15 tháng 6 năm 1956, tức khi đang là Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Ung Văn Khiêm đã nói với đại biện lâm thời của lãnh sự quán Trung Quốc tại Việt Nam, Lý Chí Dân, rằng: "Căn cứ vào tư liệu của phía Việt Nam, về mặt lịch sử thì quần đảo Tây Sa và Nam Sa nên là một phần lãnh thổ của Trung Quốc".[1]
Vinh danh [sửa]
Do quá trình đóng góp của mình, ông đã được Nhà nước Việt Nam tặng thưởng nhiều huân chương như:
- Huân chương Hồ Chí Minh.
- Huân chương Kháng chiến hạng Nhất.
- Huân chương Hữu nghị Lê-Nin.
- Huy hiệu Thành đồng Tổ quốc;
- Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng;
- Và nhiều huân huy chương cao quý khác.
Tên của ông được Ủy ban nhân dân TP Hồ Chí Minh đặt cho 1 con đường tại phường 25 quận Bình Thạnh.
Liên kết ngoài [sửa]
- Bộ trưởng Ung Văn Khiêm trên trang web chính thức của Bộ Ngoại giao Việt Nam
Chú thích [sửa]
- ^ “五、中国对南沙群岛的主权得到国际上的承认”. 中华人民共和国外交部. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2012.
- Hoàn toàn không có nguồn tham khảo
- Người An Giang
- Người Sài Gòn
- Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam
- Bộ trưởng Bộ Nội vụ Việt Nam
- Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa 1
- Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa 2
- Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa 3
- Thứ trưởng Việt Nam
- Chủ tịch tỉnh Việt Nam
- Bí thư Tỉnh ủy Bạc Liêu
- Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
- Ban Đối ngoại Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
- Huân chương Hồ Chí Minh
- Huân chương Hữu nghị Lê-Nin
- Huân chương Kháng chiến
- Sinh 1910
- Mất 1991