Trà Ôn
|
|
Bài hoặc đoạn này cần được wiki hóa theo các quy cách định dạng và văn phong Wikipedia. Xin hãy giúp phát triển bài này bằng cách liên kết trong đến các mục từ thích hợp khác. |
|
|
Thông tin trong bài (hay đoạn) này không thể kiểm chứng được do không được chú giải từ bất kỳ nguồn tham khảo nào. Xin bạn hãy cải thiện bài viết này bằng cách bổ sung chú thích tới các nguồn uy tín. Nếu bài được dịch từ Wikipedia ngôn ngữ khác thì hãy chuyển nguồn tham khảo từ phiên bản đó cho bài này. |
Trà Ôn là một huyện của tỉnh Vĩnh Long, nằm về hướng đông, cách thành phố Vĩnh Long khoảng 40 km. Diện tích tự nhiên là 265,3 km². Phía đông giáp huyện Vũng Liêm, tây giáp huyện Bình Minh, nam giáp huyện Cầu Kè và tỉnh Sóc Trăng, bắc giáp huyện Tam Bình qua sông Măng Thít.
Trà Ôn nằm cặp sông Hậu, cách Cần Thơ 17 km, trải dài theo sông Măng Thít (sông Măng Thít nối liền sông Tiền và sông Hậu) nằm trên thủy lộ quốc gia huyết mạch giữa đồng bằng nối với Thành phố Hồ Chí Minh và miền Đông Nam Bộ.
Mục lục |
[sửa] Hành chính
Huyện Trà Ôn có 14 xã, thị trấn đó là thị trấn Trà Ôn và các xã: Thiện Mỹ, Tân Mỹ, Tích Thiện, Vĩnh Xuân, Thuận Thới, Hựu Thành, Thới Hoà, Trà Côn, Nhơn Bình, Hoà Bình, Xuân Hiệp và hai xã cù lao Lục Sĩ Thành, Phú Thành.
[sửa] Địa hình
Trà Ôn có địa hình tương đối bằng phẳng, địa hình cao từ sông Hậu và sông Trà Ôn - Mang Thít thấp dần về phía đông bắc, cao trình biến thiên từ 1,25 - 0,5 m. vùng có cao trình từ 1 - 1,25 m gồm các xã ven sông Hậu và sông Trà Ôn - Mang Thít như Tích Thiện, Thiện Mỹ, thị trấn Trà Ôn và Tân Mỹ. vùng có cao trình từ 0,75 - 1 m gồm các xã Vĩnh Xuân, Thuận Thới, Hựu Thành, Trà Côn. Vùng có cao trình từ 0,5 - 0,75 m gồm các xã Hòa Bình, Xuân Hiệp, Nhơn Bình, Thới Hòa.
Tổng diện tích đất sản xuất toàn huyện là 25.839,12 ha (chiếm 17,52% diện tích tự nhiên toàn tỉnh), chia ra:
- Đất sản xuất nông nghiệp 21.657,06 ha, chiếm 83,82% diện tích đất sản xuất toàn huyện; trong đó, cây hàng năm chiếm 70%, chủ yếu là trồng lúa, còn lại là cây lâu năm, cây ăn quả, cây công nghiệp ngắn và dài ngày chiếm 30%, không có đất lâm nghiệp.
- Đất chuyên dùng 812,83 ha, chiếm 3,15%.
- Đất thổ cư 730,01 ha, chiếm 2,82% và đất chưa sử dụng 2.639,22 ha, chiếm 10,21% diện tích đất tự nhiên.
Về tính chất cơ hóa, đất đai của huyện được chia thành 3 nhóm chính: đất phèn, phù sa và cát giồng:
- Nhóm đất phèn có 8.512 ha, chiếm 32,9% diện tích đất sản xuất, phân bố chủ yếu ở các x vùng trũng như Hòa Bình, Xuân Hiệp, Nhơn Bình, Thới Hòa và 1 phần của Thuận Thới, Hựu Thành. Tuy đất phèn, nhưng tầng sinh phèn ở rất sâu (đất phèn nông chỉ chiếm 34%), được cải tạo và canh tác khá thuần thục, bố trí 2, 3 vụ lúa trong năm cho năng suất khá cao.
- Nhóm đất phù sa: 17.140 ha, chiếm 66,3% diện tích đất sản xuất, phân bố tập trung ở các xã vùng cao ven tuyến sông Hậu và sông Mang Thít. Đây là vùng đất phì nhiêu, những vùng đất cao thuận tiện cho trồng cây ăn quả, còn những vùng đất thấp hơn trồng lúa cho năng suất cao và luân canh lúa màu.
- Nhóm đất cát giồng: 185 ha, chiếm 0,7% diện tích đất sản xuất, phân bố tập trung ở 3 giồng cát: giồng Thanh bạch (xã Thiện Mỹ), giồng La Ghì (xã Vĩnh Xuân) và giồng Gòn (xã Thuận Thới),chủ yếu là đất thổ cư, trồng cây lâu năm và rau màu.
[sửa] Khí hậu - Thủy văn
Trà Ôn nằm giữa vĩ độ Bắc từ 9052'40" đến 10005'30" và kinh độ Đông từ 105050'30" đến 106006'00". Cũng như các vùng Nam Bộ, mang tính chất khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình 26-27 °C (tháng 4 nóng nhất: 36 °C, tháng giêng nhiệt độ thấp nhất: 29 °C), bình quân hàng năm có 2.600 giờ nắng, ẩm độ trung bình 80-83% (độ ẩm tối đa khoảng 92% và tối thiểu khoảng 62%). Hàng năm có 2 mùa rõ rệt:
- Mùa khô kéo dài từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, đây là mùa nắng gay gắt, thường gây ra hạn hán, ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông nghiệp.
- Mùa mưa, từ tháng 5 đến tháng 11, trung bình có khoảng 115 ngày mưa, với lượng mưa khoảng 1400 - 1500 mm. hàng năm, lũ thường xảy ra vào mùa này.
Trà Ôn có hệ thống sông ngòi chằng chịt, hoạt động theo chế độ bán nhật triều, có nguồn nước ngọt quanh năm , chất lượng nước tốt (trừ một số xã như Tích Thiện, Vĩnh Xuân, Hựu Thành bị ảnh hưởng nhẹ do nước mặn xâm nhập vào mùa khô), kết hợp với thời tiết mưa thuận gió hòa là các điều kiện hết sức thuận lợi và là tiềm năng to lớn cần đầu tư khai thác phục vụ cho sản xuất và đời sống dân cư.
[sửa] Kinh tế, nông sản
Trà Ôn có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển nông nghiệp toàn diện, tài nguyên thiên nhiên phong phú, đất đai màu mỡ. Trà Ôn có 2 xã cù lao Lục Sỹ Thành và Phú Thành thuận lợi cho trồng cây ăn trái, nuôi trồng thuỷ sản, đặc biệt hiện nay phong trào nuôi cá tra xuất khẩu đang phát triển mạnh. Chợ nổi Trà Ôn nằm trên sông Hậu là đầu mối tiêu thụ, trao đổi hàng hoá nông sản. Hệ thống giao thông thuận lợi cả đường bộ và đường thuỷ là điều kiện để phát triển kinh tế xã hội và phát triển du lịch sinh thái.
Các loại nông sản đặc trưng: Lúa, cam, bưởi, chôm chôm. Ngành truyền thống : nông nghiệp, mộc, hồ, đánh bắt thuỷ sản ...
[sửa] Lịch sử
Năm 1784 Trà Ôn là một làng thuộc tổng Bình Lễ thuộc dinh Long Hồ. Trà Ôn xưa còn có tên gọi là làng Tuân Ngãi ( Nghĩa) thuộc đạo Trà Vang ( Trà Vinh)trung tâm hành chính của huyện vẫn đặt tại làng Thiện Mỹ đến năm 1975 mới lập ra thị trấn Trà Ôn. Năm 1877 chính quyền Pháp lập huyện Trà Ôn thuộc hạt Cần Thơ.
Năm 1950 Trà Ôn nằm trong huyện Ba thuộc tỉnh Trà Vinh, năm 1951 thuộc tỉnh Vĩnh Trà. Ngày 17 tháng 8 năm 1951, huyện Ba đổi thành huyện Tam Bình. Năm 1955 thuộc tỉnh Trà Vinh.
Ngày 9 tháng 2 nnăm 1956 chính quyền Việt Nam Cộng hòa thành lập tạm thời tỉnh Tam Cần, lấy chợ Trà Ôn làm tỉnh lỵ. Ngày 22 tháng 10 năm 1956, tỉnh Tam Cần hợp nhất với tỉnh Trà Vinh thành tỉnh Vĩnh Bình, thì quận Trà Ôn thuộc tỉnh Vĩnh Bình. Quận Trà Ôn có 3 tổng: Bình Lễ, Bình Thới, Thành Trị; quận lị: Tân Mỹ.
Ngày 14 tháng 1 năm 1967 theo sắc lệnh số 06/SL/ĐUHC chính quyền Đệ nhị Cộng hòa đã tách hai quận Vũng Liêm và Trà Ôn ra khỏi tỉnh Vĩnh Bình nhập vào tỉnh Vĩnh Long.
Từ tháng 2 năm 1976 huyện Trà Ôn thuộc tỉnh Cửu Long. Theo quyết định số 62-CP của Hội đồng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 11 tháng 3 năm 1977, huyện Trà Ôn bị nhập vào huyện Cầu Kè, riêng 3 xã của huyện nhập vào huyện Vũng Liêm. Ngày 29 tháng 9 năm 1981, tái lập huyện Trà Ôn trên mặt hành chính giấy tờ, thực tế trước đó vẫn là huyện Trà Ôn.
Đến tháng 2 năm 1992 Trà Ôn thuộc tỉnh Vĩnh Long cho đến nay.
[sửa] Danh lam thắng cảnh
| Bài hay đoạn này cần người am hiểu về chủ đề của nó biên tập lại. Bạn có thể giúp chỉnh sửa bài hoặc nhờ một ai đó. Xem trang thảo luận để biết thêm chi tiết. |
[sửa] Lăng Ông Tiền quân Thống Chế Điều Bát Nguyễn Văn Tồn
Hàng năm, vào ngày mồng ba và mồng bốn tháng giêng, bà con các nơi về Trà Ôn vui Tết và tham dự lễ giỗ quan Tiền quân Thống Chế Điều Bát Nguyễn Văn Tồn (1763 – 1820).
Ông Nguyễn Văn Tồn là người Khmer, quê làng Nguyệt Lãng, xã Bình Phú, huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh. Ông tên thật là Thạch Duồng. Thuở nhỏ ông theo Chúa Nguyễn, hết lòng tận tụy trung thành nên được cho chuyển làm Cai đội và cho phép chuyển sang mang “quốc thích”. Từ năm 1786 đến 1789, ông theo chúa Nguyễn chạy sang Vọng Các (Băng cốc). Khi Nguyễn Ánh khá mạnh trở về nước, ông được phân công đi chiêu mộ thành lập một đội quân người Khmer và ông lãnh nhiệm vụ thống quản đội quân đó. Ông lại được lệnh theo Võ Tánh giữ thành Bình Định, bị Tây Sơn bắt. Nhưng ông hết dạ trung thành với chúa Nguyễn tìm cách trốn về Nam.
Năm Gia Long thứ nhất (1802), ông được thăng Cai Cơ, trấn giữ đồn Trà Ôn (thuộc Trấn Giang), kiêm quản phủ Trà Vinh và Măng Thít (thuộc Vĩnh Trấn); Ông có công giúp nhà Nguyễn dẹp loạn ở biên giới Tây Nam. Năm Gia Long thứ bảy (1808) và năm Gia Long thứ mườI (1811) hai lần ông được triệu về kinh để nhận ban thưởng và được thăng Thống Chế, Dung Ngọc Hầu. Công đức lớn của ông là giúp dân vùng Trà Ôn, Trà Vinh, Măng Thít khai khẩn đất hoang, thành lập xóm làng. Ngoài ra, năm 1819, ông được ThoạI Ngọc Hầu phân công đốc thúc dân phu đào kênh Vĩnh Tế. Do lao tâm, lao lực, ông bị bệnh mất đầu năm Canh Thìn (1820). Triều đình cử người đến ban cấp, điếu phúng. Ông được truy tặng Tiền Quân Thống Chế, được tống táng theo nghi lễ. Sau đó triều đình còn cấp mộ phu quét dọn mồ mả, từ đường. Theo nhiều tài liệu lịch sử, vào mùa hè năm canh Thìn (1820) nước ta bị một trận dịch lớn chết hàng vạn người. Đầu tiên trận dịch bắt đầu từ Trấn Tây, lan qua Nam Bộ rồI lan ra tận Thừa Thiên. Trong lúc nguy ngập này, ông được người dân địa phương xem là một vị thần linh bảo hộ. Ông được người dân địa phương xem là một vị Tiền hiền (người Hoa xem ông như ông Bổn ở địa phương), được thờ cúng dướI dạng “Báo hổ tư nguyên”. Theo Đại Nam liệt truyện, Thống Chế Nguyễn Văn Tồn có một người con Yên Vy, làm Vệ úy ở đồn Tịnh Biên (Châu Đốc). Có người tố cáo Vy đã theo Lê Văn Khôi. Nhưng rồI Vy mất, Minh Mạng nghĩ tình cha con nên bỏ qua, không truy cứu. Có lẽ do nguyên cớ ấy nên hậu duệ của ông bị suy sụp, việc hương hỏa phó mặc cho dân địa phương. Mãi đến đầu thế kỷ XX, dân địa phương nghĩ công đức, trùng tu miếu mộ và thành lập hội “ Mỹ Thanh” để lo việc hương hỏa cho vị công thần này. Từ đó đến nay lăng Thống Chế Điều Bát được trùng tu tôn tạo vào các năm 1937,1953, 1960, 1994 và gần đây nhất là năm 2005. Hiện nay lăng và mộ phần quan Thống Chế Điều bát cùng phu nhân ở tại giồng Thanh Bạch, ấp Mỹ Hòa, xã Thiện Mỹ, cách thị trấn Trà Ôn khoảng hai cây số. Toàn khu vực này ở trên khu đất trống trảI, xung quanh có nhiều cây cao bóng mát và hoa quả tươi đẹp. Khu miếu thờ có ba ngôi: chính điện, võ ca và nhà khách. Tất cả các công trình kiến trúc đều làm bằng gỗ, lợp ngói, nền gạch, vách gạch. Trong miếu thờ vợ chồng Thống Chế Điều Bát và các danh nhân như Tả Quân Lê Văn Duyệt, Bình Tây Tướng quânTrương Định, Bình Tây Phó tướng Nguyễn An (Phó tướng Trương Định, sau khi thất bạI ở Gò Công, trở về tiếp tục nổi dậy và hi sinh Tại Trà Ôn). Anh hùng Nguyễn Trung Trực, Quan Thống Chế Điều Bát Nguyễn Văn Tồn được nhà Nguyễn phong Trung đẳng Thần vào năm 1944. Phần mộ Thống Chế Điều Bát Nguyễn Văn Tồn và phu nhân làm theo kiểu song hồn, nằm phía sau lăng. Xung quanh mộ có tường hoa, có bình phong, trụ liễu,... trang trí hình lá, giao long và có cặp kỳ lân đứng hầu. Trên rặng liễu có câu đối ngắn đã thể hiện được đức độ người đã mất:
Hoa di cộng ngưỡng
Mân Quảng đồng tri ân
(Người Hoa, người Khmer đồng ngưỡng mộ
Người Phúc Kiến, người Quảng Đông đều nhớ ơn).
Hàng năm, tại lăng Thống Chế Điều Bát Nguyễn Văn Tồn có các ngày lễ:
- Giỗ Tiền Quân phu nhân: 16 và 17 tháng hai âm lịch.
- Giỗ Phó Soái Nguyễn An, giỗTiền Hiền và Hậu Hiền: 20 tháng 12.
Nhưng ngày lễ quan trọng nhất là ngày giỗ quan Thống Chế Điều Bát Nguyễn Văn Tồn vào ngày mồng ba và mồng bốn tháng giêng âm lịch. Trong các ngày này, hàng ngàn người Việt, Hoa, Khmer ở vùng Trà Ôn, Cầu Kè,Trà Vinh, Sóc Trăng... về tham dự. Lễ giỗ quan Thống Chế mang ý nghĩa là lễ cầu phước vào những ngày đầu xuân. Ngoài ra, người dân đến lễ bái còn có ý nghĩa uống nước nhớ nguồn. Do đó, tuy là lễ giỗ nhưng cũng có đầy đủ nghi tiết: Túc Yết, Chánh Tế, đế Tiền Hiền, Hậu Hiền, xây chầu, Đại BộI và Hát Bội. Ngoài ra, vì đây là những ngày đầu xuân nên bà con người Hoa thường tổ chức múa lân, bà con ngườI Khmer trình diễn nhạc ngũ âm hoặc múa hát theo phong cách của họ. Quan Thống Chế Điều Bát Nguyễn Văn Tồn trở thành vị phúc thần của ba dân tộc: Việt, Hoa và Khmer tại Trà Ôn. Bộ Văn hóa Thông tin đã quyết định xếp hạng di tích lịch sử văn hóa (Quyết định số 310 QĐ ngày 13/2/1996).
[sửa] ĐÌNH LÀNG THIỆN MỸ
Ở Trà Ôn đình làng Thiện Mỹ (nay thuộc Thị Trấn Trà Ôn) là ngôi đình cổ được xây dựng từ lúc hình thành làng Thiện Mỹ cách nay trên 150 năm. Năm 1852 được vua Tự Đức đời ngũ niên sắc phong Thành hoàng bổn cảnh. Đình tọa lạc ở vị trí biệt lập, tiền diện nhìn xuống sông Hậu, đình có diện tích gần 3.000 m², kiến trúc đình gồm có 3 gian: võ ca, võ quy và chính điện, mái lợp ngói âm dương, nền cát lót gạch tàu to bản. Chống đỡ mái là các cột kèo bằng danh mộc quí, bên trong đình ngoài các hiện vật thờ giống như nhiều đình ở Nam bộ: hương án thần ở giữa, hai bên hương án tả ban, hữu ban, trước hương án thần là bàn hội đồng, hai bên vách là các hương án thờ: tiên sư, tổ sư, bạch mã, thái giám, tiền hậu hiền. Các vật thờ có tráp đựng sắc thần chạm trổ khéo léo, bộ lễ, bộ binh khí, cờ lộng, mỏ, chiêng, trống tượng bạch mã…1 long đình bằng gỗ quí được chạm trổ mỹ thuật sơn son thép vàng, đặc sắc là 4 cột "tứ trụ" chính điện được chạm móc nổi rồng, phụng, chim chóc, hoa, lá, mây nước… tinh xảo và mấy bức tranh thủy mạc lớn được vẽ trên tường cách nay gần 100 năm, mô tả người xưa bên Trung Hoa: Quan Công, Phước-Lộc-Thọ, Bát tiên..., các liễn đối hoành phi chữ nho thếp vàng, cặp hạc chầu…tất cả tạo nên một khung cảnh trang nghiêm, tôn kính.
Trên nóc của ba gian đình có đôi rồng chầu nhật nguyệt, gian trước có đôi phụng và tượng bát quái đồ, ở mỗi đầu mái có hoa văn, gian võ ca giữa có sân khấu dùng để hát tuồng, ngoài sân phía trước và khu vực thờ thần nông, gợi lên hình ảnh đây là vùng đất mà người xưa lấy nông nghiệp là chính, ngoài ra còn có bình phong "Long hổ" miếu thờ thổ địa, ngũ hành…xung quanh đình có hàng rào và 1 cổng chính lớn chạm nổi chữ "Đình thần làng Thiện Mỹ", trên các hàng cột có nhiều câu đối nho, trong đó nổi bật là câu đối ở đường lên bậc thềm (phía tả) "Trà Ôn địa chiếm giang sơn cổ, Thiện Mỹ thiên tồn sự nghiệp kim".
Đình Thiện Mỹ được tạo dựng khoảng năm 1850, lúc đầu bằng cây lá đơn sơ, đến năm 1852 được Tự Đức ngũ niên sắc phong Thành Hoàng bổn cảnh, lúc này đình được bá tánh xây dựng lại bằng vật liệu kiên cố (vôi, ô dước, mật đường), lần trùng tu quy mô có thể vào khoảng 1928 có dáng dấp tồn tại đến nay, theo các cụ cao niên, mặc dù trải qua nhiều lần trùng tu nhưng ngôi đình vẫn giữ được kiến trúc cổ kinh.
Hàng năm vào ngày lễ kỳ yên (16/3 âm lịch) được tổ chức long trọng với đầy đủ nghi thức văn hóa dân gian: tế lễ, múa lân, rước sáo….thu hút người dân đến cúng tế chiêm bái mục đích cầu "quốc thái dân an" các trò chơi dân gian được tổ chức vui nhộn.
Năm 2005 đình làng Thiện Mỹ (thị trấn Trà Ôn) được xếp hạng là di tích lịch sử-văn hóa cấp tỉnh.
[sửa] Chùa Gò Xoài
Chùa Gò Xoài toạ lạc tại ấp Mỹ Bình, xã Tân Mỹ, huyện Trà Ôn. Chùa Gò Xoài được xây dựng vào năm Phật lịch 2074 (tức năm 1530) khoảng giữa thế kỷ 16. Đây là một trong những ngôi chùa cổ của người Khmer ở tỉnh Vĩnh Long. Chùa còn lưu giữ nhiều hiện vật có giá trị lịch sử văn hoá như bia đá, lá sima, tượng Phật Thích Ca... Bên cạnh đó, chùa Gò Xoài còn là trung tâm sinh hoạt văn hoá, tín ngưỡng của đồng bào Khmer xã Tân Mỹ và còn là nơi xây dựng tình đoàn kết giữa hai dân tộc Kinh - Khmer. Ngoài các nghi lễ tôn giáo, chùa cũng là nơi tổ chức các lễ hội cộng đồng. Chùa được công nhận là di tích văn hóa cấp tỉnh.
[sửa] Đình Hậu Thạnh
Đình Hậu Thạnh tọa lạc tại ấp Tân Thạnh, xã Lục Sỹ Thành, huyện Trà Ôn (Vĩnh Long). Từ bến đò xã Lục Sỹ Thành, theo đường lộ lớn hơn 1 km qua cầu chữ Y một đoạn gặp 2 hàng sao dầu cổ thụ về phía trái là đến ngôi đình cổ này.
Theo các bô lão trong Ban bảo vệ di tích, cuối thế kỷ 18, nhiều lưu dân đến đây lập nghiệp, lần hồi đông đúc, lập thành làng xóm, họ nghĩ đến xây dựng các thiết chế phục vụ đời sống sinh hoạt. Tiên khởi đình được dựng lên bằng cây lá, dần dà mới được xây cất khang trang. Năm Tự Đức ngũ niên (1852) đình được sắc phong "Thành Hoàng bổn cảnh". Đình được kiến trúc theo đình làng Nam Bộ còn giữ đến ngày nay, gồm 3 gian: võ ca, võ quy, chính điện, trên nền cao chạy viền gạch đại, mặt lát gạch tàu. Chống đỡ mái vòm ngoài là hàng cột gạch tường vôi, bên trong là các cột, kèo, rui mè bằng gỗ quí. Nóc lợp ngói miếng, trên đầu mái võ quy là tấm hoành phi "Hộ quốc tùy dân" (có nghĩa là giúp nước vì dân) và 7 cặp liễn đối chữ nho, ca ngợi những người có công tạo dựng. Ở đây võ ca, võ quy được thiết kế kiểu bát dần, còn chính điện cao hơn, gồm 3 tầng mái hình tháp, trên đầu nóc có tượng "lưỡng long châu nguyệt". Qua 3 cửa tiền điện phía trên tường có gờ cuốn hoa văn hoa tiết kheo léo. Vào bên trong, trên cao bệ thờ Thành Hoàng, trang trọng treo tấm hoành phi lớn 4 chữ "hậu dụ tiền tiên" (nghĩa là rạng danh đời trước, đời sau nêu gương). Các cột tứ trụ cao 10 m, có bề hoành gần 1 m, ốp vào cột là các tấm liển đối móc chữ nho "thịnh danh truyền vũ trụ an ban tế thế thiên thu đẩu thường tân", "hậu đức phối càn khôn, hộ quốc tỳ dân vạn cổ anh linh như cựu". Còn 3 bên tường là các bệ thờ theo tín ngưỡng dân gian như: bạch mã, thái giám, tiên sư, tổ công tiền hậu hiền, tổ sư, tiên triều. Nhưng đáng chú ý là 2 bệ thờ thủy thần mà nhiều đình khác không có, có thể xưa kia ở đây có một bộ phận cư dân sống nghề "hạ bạc" trên con sông Hậu mênh mông, họ ra đi cầu được phò trợ bình an, đánh bắt được nhiều thủy sản. Ở mỗi bệ thờ có khánh bằng gỗ tốt, có liển chữ nho nhũ vàng bóng loáng. Trong đình còn trang trí bộ binh khí, gươm lệnh, tàn lộng, cặp hạc trên lưng quy, tráp đựng sắc... Đặc biệt trên tầng mái thứ hai và trong chính điện có các bức tranh mô tả phong cảnh, chim muôn... đã qua hơn 70 năm vẫn không phai mờ. Bước xuống bậc thềm sau chính điện là sân thờ Thần Nông mang ý nghĩa biểu trưng cuộc sống nông nghiệp là chính.
Đình Hậu Thạnh không chỉ là nơi ghi dấu ấn của việc hình thành làng Hậu Thạnh nay là xã Lục Sỹ Thành mà còn là nơi tạo dựng cơ sở cách mạng. Trong phong trào Cần Vương, nhiều sỹ phu yêu nước về đây mở lớp dạy học, truyền bá quốc ngữ. Lệ cúng Kỳ Yên vào ngày 146/4 âm lịch, ngoài lệ cúng theo nghi thức cổ truyền còn có hát bội, múa lân, nhạc lẽ thu hút đông đảo dân chúng trong vùng và các nơi.
Năm 2005 đình Hậu Thạnh được xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh.
[sửa] CHÙA GIA KIẾT
Chùa Gia Kiết còn có tên là chùa Bà Hét, chùa Mới để phân biệt vời chùa Cũ cũng tại xã Tân Mỹ, chùa Gia Kiết tọa lạc tại ấp Mỹ Thuận, xã Tân Mỹ (Trà Ôn-Vĩnh Long), chùa được xây dựng cách nay trên 100 năm, trong khuôn viên khoảng 3 ha do Bà Hét, người Kinh, gia đình giàu có sống tại đây, mộ đạo Phật hiến đất để bà con xây dựng chùa. Ngoài ra để bà con Khmer quanh đây thuận lợi đi lễ chùa trong các dịp lễ, tết thay vì phải đi xa đến các chùa cũ (ấp Trà Mòn), chùa Gò Xoài (ấp Mỹ Bình).
Cũng như nhiều ngôi chùa Khmer khác, chùa Gia Kiết ban đầu được cất bằng cây lá đơn sơ, thời gian sau bà con xây lại bằng gạch, vôi, gỗ. Đến năm 1977 là đợt trùng tu lớn có kiến trúc liên hoàn; cổng, chính điện, giảng đường, sa-la và các tháp cốt, chung quanh có cổ thụ sao, dầu, thốt nốt, vườn cây xanh mát, công việc trùng tu chùa kéo dài nhiều năm liền cho đến đầu thập niên 2000 mới hoàn chỉnh, một lễ "xây ma" (khánh thành) được tổ chức long trọng, đánh dấu một quá trình đóng góp công của, của bà con Khmer trong việc tôn tạo kiến trúc cảnh quan ngôi chùa, nổi bật là chính điện được xây dựng trên nền cao 2 m, mái lợp tol giả ngói ba tầng. Trên nóc mái trên, ở giữs có 1 tháp nhỏ, hai bên đắp tượng 4 chiếc vòi và miệng con voi, ở mỗi đầu mái dưới là tượng đầu rồng, mặt trước mái trên chạm phù điêu "thiên hầu" (khỉ thần). Chống đỡ mái chính điện là 24 cột tròn (bên ngoài) trên đầu cột có tượng nữ thần cánh dơi Kâyno, tượng trưng cho sự bền vững của phật pháp. Bên trong chính điện là 8 cột tròn cao khoảng 10 m, mỗi bên 4 cột được vẽ hình rồng lượn uốn khúc trong mây rất tinh tế. Chính giữa chính điện có một bệ thờ cao 2,5 m với ba bậc, trên cùng là tượng phật Thích Ca Mâu Ni cao 2 m ngự trên đài sen. Bên cạnh là nhiều tượng phật lớn nhỏ làm bằng nhiều chất liệu được sơn phết sặc sỡ. Trên 4 mặt tường và vòm phống có 22 bức họa lớn miêu tả cuộc đời của Phật Thích Ca từ lúc xuất gia đến khi thành đạo. Trước mặt chính điện trên tường là bức tranh lớn mô tả Phật Thích Ca còn tại thế cùng đệ tử đi hành đạo tìm chân lý giác ngộ chúng sanh. Quanh chùa là sân lát gạch có hàng rào tường bao quanh. Phía ngoài, trong khuôn viên rải rác các tháp chứ xương cốt các sư sãi và phật tử đã qua đời.
Chùa Gia Kiết là một trong những 6 ngôi chùa Khmer của huyện Trà Ôn có kiến trúc đậm nét văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Thời gian qua, chùa được ngành Văn hóa thông tin hỗ trợ lập phòng đọc sách, báo, cấp bộ nhạc ngũ âm, một ghe ngo. Hằng năm vào dịp lễ, tết cổ truyền chùa hội tụ không chỉ bà con Khmer mà có cả người Hoa, người Kinh đến dự.
Năm 2005 chùa Gia Kiết được xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa và cách mạng cấp tỉnh.
[sửa] CHÙA GÒ XOÀI
Cách thị trấn Trà Ôn khoảng 3 km, theo quốc lộ 54 về phía trái là đầu hương lộ Mỹ Trung (xã Thiện Mỹ). Từ đây đi khoảng 2 km vào địa phận xã Tân Mỹ, nằm bên trái gặp một cổng chào của chùa Khmer Gòa Xoài, bên phía mặt con đường đal xi măng phẳng phiu vào chùa là phần đất Gò Xoài thuộc ấp Mỹ Bình, xã Tân Mỹ nơi có trên 320 người Khmer sinh sống trong tổng số dân của ấp trên 1.000 người mà phần đông sống nghề nông nghiệp.
Gò Xoài là đất nổi nằm giữa giồng Thanh Bạch (giồng bắt đầu từ chùa cũ Mangkok Bory ấp Đại Thọ, xã Loan Mỹ, huyện Tam Bình) kéo dài 5 km qua xã Tân Mỹ, Thiện Mỹ đến phía đông nam Thị Trấn Trà Ôn.
Xưa nay tên gọi Gò Xoài gắn liền với sự hình thành chùa Gò Xoài (còn gọi là Gò Soài), từ cổng chào theo đường đal gần 500 m đến chùa. Theo các cụ già sống cố cựu ở đây kể lại, đầu thế kỷ 20, khi đào đất canh tác gặp một số mảnh vở loại thuyền cổ và các trụ cây to bằng gỗ quí dài trên 10 m của cây cầu, có thể nơi đây là con rạch thông ra sông Măng Thít, lâu dần bị phù sa bồi lắp thành đất liền, các cột gỗ này được lấy trùng tu chính điện chùa.
Chùa nằm trên đất cao ráo, có diện tích 2,2 ha, trồng nhiều loại cây bóng râm mát mà nhiều nhất là cây xoài, trong chùa còn lưu giữ 1 bia đá vuông cạnh, cắm sâu dưới nền, phần trên cao 1m, mỗi cạnh rộng 0,25m, có khắc nhiều dấu tượng hình (như mẫu tự Ai Cập) đến nay chưa được giải thích, Sư cả Thạch Sang trụ trì chùa cho biết trụ bia đá này rất lâu đời có thể trên 500 năm, năm 1950 có 1 người Pháp vào xin mua nhưng chùa không đồng ý.
Tên gốc của chùa là MUNIDDOM (người cao thượng) năm 1972 có 1 sư cả ở Sóc Trăng về chùa đặt thêm chữ AMPẠVAN (Xoài) và phía sau cho xây 2 cổng vào chùa, cổng trái trên bảng ghi là: DDOM MUNI AMPẠVAN, không hiểu do lúc đó có nhiều cây xoài mà ông đặt thêm tên, nên từ đó gọi là chùa Gò Xoài, thay vì là Gò Soài thông dụng đến nay. Chùa được ngành VHTT tặng bộ nhạc ngũ âm, thành lập đội múa trống sa dăm, đầu tư kinh phí trùng tu, đến nay chùa Gò Xoài có 1 kiến trúc đậm nét nghệ thuật Khmer Nam bộ.
Năm 2006 chùa được xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh.
[sửa] XÓM LƯỚI
Từ chợ Trà Ôn đi dọc xuôi bờ sông Hậu khoảng 300m là đến Xóm Lưới. Ngày nay Xóm Lưới bao gồm khu 4 và khu 10A, mở rộng đến quốc lộ 54 với diện tích…ha; có 459 hộ dân (2.500 nhân khẩu) thuộc Thị Trấn Trà Ôn huyện Trà Ôn.
Vài ba trăm năm trước đây có lác đác vài mái lá vài túp nhà sàn cạnh mé nước của những cư dân đầu tiên làm nghề hạ bạc. Dần theo thời gian, các ruộng lưới dài hàng chục mét cao gần 6m được dựng lên. Mỗi khi thuyền về bến, các tay lưới được giặt giũ, dàn ra phơi mình trên rượng, các cành cây trong xóm cũng lũng lẳng những miệng chài. Nhu cầu về lưới là tất yếu, ngư dân ra tận miền trung (Phan Thiết) mua gai về, mướn chấp, đánh thành nhợ, rồi tự đan lưới (song song đó xuồng ghe phương tiện cơ động cũng được nghiên cứu và đóng tại chỗ) do đó xóm này được gọi là Xóm Lưới.
Hàng ngày theo con nước, những người đàn ông rời bến đi đánh bắt, đàn bà trẻ con ở nhà phân loại cá cân bán. Sau có một số dân nghèo từ các vùng lân cận cũng gia nhập vào Xóm Lưới, bán cá lẻ sinh sống qua ngày. Xóm Lưới ngày một đông, nhà cửa san sát có tầng có lớp trãi dài hơn 1 km, vô sâu hơn 200 m. Đến năm 1910-1920 mở thêm một con lộ đất mới ở phía sau gọi là lộ Bang Chang.
Phương tiện chính của ngư dân Xóm Lưới là xuồng nhỏ đi một hai người, đến ghe 5-6 tấn, đi 4-5 người. Việc đánh bắt cũng phong phú, đa dạng. Gần bờ thì dùng: đăng, lưới, giăng lưới, lội…xa một chút thì chất chà, quăng chày, trữu…giữa dòng thì đóng đáy, thả lưới, cào….như vậy các loại thủy sản sống trên lớp mặt và tầng sâu đều được khai thác.
Nghề đánh cá ở đây mỗi năm có 2 mùa, từ tháng giêng đến tháng 3 (âm lịch) gió chướng từ ngoài biển thổi vào là mùa chính; đánh bắt cá cháy (từ biển vô), tôm, tép bạc (từ ruộng xuống), cá cơm (từ biển hồ qua). Tháng 5 nước son từ Nam Vang đổ về là hết mùa chính, kéo dài đến tháng 6, tháng 7, cá ít dần. Đến tháng 9 gió chướng lại thổi về là mùa chính thứ 2, kéo dài suốt tháng chín, mười, đánh bắt cá phèn, cá mè vinh, tôm, cá linh (từ biển hồ qua).
Ngoài việc đánh bắt tại chỗ và các địa phương gần như: Cầu Kè, Cầu Quan (Trà Vinh), Cái Đôi, Phú Hữu (Cần Thơ) tháng 3 giáo Tây Nam cá "rút ra biển", ngư dân ra cửa biển đánh bắt cá thu (lưới 20 cm) cá bẹ, cá bè, cá chéo, cá lẹp (lưới 8,5 cm)... ngư trường vòng quanh các cửa biển: Trà Kha, Kinh Láng Sắt, Bến Giá (Trà Vinh), Mỹ Thanh (Sóc Trăng), Gành hào, Sông Đốc (Minh Hải).
Cuối tháng 10, từng đoàn ghe đỗ qua Cái Côn (Cần Thơ) đón tàu dòng 3 ngày 3 đêm tới Nam Vang, gần biển hồ đánh bắt: cá duồn (lưới 11 cm), cá càng (lưới 8 cm), cá chài, cá heo... bán tại bãi cải (Campuchia), cá mè, cá éc, cá hú... thịt dùng làm khô, ruột nấu lấy dầu thắp đèn.
Từ năm 1959 nhà cá chợ Trà Ôn được xây dựng, chính thức cung ứng nhu cầu thủy sản cho nhân dân trong Huyện và quanh vùng. Ngư dân xóm lưới có mở rộng hình thức tiêu thụ: tự tiêu tự sản tồn tại song song với mạng lưới chủ vựa thu gom cá tại chỗ, chuyển cá từ ngã bảy (Cần Thơ). Đầu thập niên 1980, mặt hàng tôm được xuất khẩu rầm rộ, ngư dân xóm lưới triển khai mạng lưới thu mua tôm len lỏi khắp cùng sông rạch, số lượng cung ứng cho Cần thơ, Thành phố Hồ Chí Minh mỗi ngày có đến 300 kg.
Do sự mở rộng diện tích nuôi trồng, sự lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật và sự đánh bắt bừa bãi dùng điện, dùng bã độc... không có biện pháp bảo vệ nên trong tự nhiên thủy sản cạn kiệt dần. Bây giờ ngư dân chủ yếu dùng ghe cào, lưới dụi, lưới đăng... đánh bắt cá út, cá lưỡi trâu, cá phèn, tép... do đó người dân xóm lưới từng bước chuyển nghề. Bên cạnh nghề chài lưới họ chuyển dần sang những ngành nghề khác.
Hàng năm, vào ngày 12-13 tháng giêng và 15-16 tháng 4 theo truyền thống người dân xóm lưới tề tựu về miếu Thủy Nam Cung (miếu Bà Thủy) hành lễ cầu ngư và lễ cầu an.
[sửa] TẦM VU
Từ rạch Trà Côn chạy vào khoảng 500 m thì chia thành 2 nhánh, nhánh trái đi thẳng xuống Vàm Vòng, nhánh phải đi hướng ấp Mỹ An (xã Tân Mỹ) hòa cùng rạch Trà Mòn bên sông Trà Ôn qua rồi đi về hướng đông (rạch Bang Chang, rạch Trà Côn) khoảng 2 km ngọn rạch này gọi là rạch Tầm Vu. Ngày trước là ngọn cùn, năm 1978 được đào nối với kinh ngang và gặp lại nhánh bên trái của rạch Trà Côn, rạch Tầm Vu có chiều dài 4 km, rộng 22 m, sâu 4 m.
Rạch được gọi là Tầm Vu vì xưa kia ở hai bên rạch mọc nhiều cây Tầm Vu.
Tầm Vu còn là tên chỉ một vùng đất (nay là 1 ấp của xã Trà Côn). Trong Chiến tranh Việt Nam, Tầm Vu cùng với Bang Chang là vùng căn cứ kháng chiến của huyện Trà Ôn. Nhiều đơn vị của huyện, xã đóng quân ở đây để lãnh đạo phong trào cách mạng trong thời gian dài mà không bị đánh phá.
Tầm Vu bây giờ có 289 ha trồng lúa và vườn cây ăn trái cam sành ở Tầm Vu nổi tiếng cả 1 vùng, Tầm Vu có 379 hộ với 1.911 nhân khẩu, đa số sống với nghề nông. Ngoài ruộng, vườn, bà con phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm, nhiều hộ thực hiện thành công mô hình VACR trở nên khá giả.
Rạch Tầm Vu thường xuyên được nạo vét để đủ nước tưới cho những cánh đồng rộng lớn, đất đưa lên bờ xây dựng giao thông nông thôn. Đến nay, đường đi tuy chưa tráng xi măng nhưng được nâng cấp co ráo, mùa nắng xe máy chạy dễ dàng, điện đã kéo về khắp các khu vực ở Tầm Vu….đời sống của nhân dân ở Tầm Vu ngày càng được nâng cao về vật chất cũng như tinh thần.
[sửa] NHÀ ĐỒNG - NHÀ THÍ
Nằm cặp lộ đá (nay là quốc lộ 54) đoạn giữa giồng La Ghì và giồng Thanh Bạch có xóm nhà Đồng - nhà Thí. hai xóm này có vài chục hộ dân sinh sống bằng nghề nông, đều thuộc xã Vĩnh Xuân huyện Trà Ôn.
Nhà Đồng - nhà Thí cách nhau chừng 500 m. Ngày xưa xóm nhà đồng là vùng đất hoang hóa, lau sậy mọc um tùm quanh các bưng, đìa. Lúc đầu có một số người đến phát dọn cỏ cây dựn nhà cạnh con rạch sinh sống, ban đầu vài nhà, sau 5-7 nhà rồi thành xóm. Người qua lại đó gọi là xóm nhà Đồng (xóm nhà ngoài đồng).
Dân cư ngày càng đông đúc, ngoài làm ruộng, dân còn lập vườn trồng cây ăn trái như dừa, xoài, mận, ổi, nhãn... và đào ao nuôi cá. Nhiều nhà trở nên khá giả nuôi cả trân, bò, gà vịt, mua sắm máy cày, máy bơm, xe máy, xe hơi để đi lại và đưa rước khách, phát triển kinh tế gia đình. Nhà cửa khang trang, dù vậy bà con vẫn quen gọi là xóm nhà Đồng.
"Anh em" với nhà Đồng là nhà Thí, ngày xưa ở đây có con đường mòn từ lộ đá đi qua miệt Tân Mỹ, Trà Côn. Chỗ ngã ba này có gò đất cao ráo, vào thập niên 1920 thầy Ba Hinh là người giàu có ở La Ghì (Vĩnh Xuân) cất ngôi nhà tại đây để người đi đường nghỉ chân (như kiểu tha la của người Khmer). Nhà lợp ngói (ngói cất chùa Khmer), cột, kèo bằng gỗ quí. Trong nhà có mấy bộ ván, vài băng ngồi, ngoài hiên có lu hứng nước mưa... Thời đó người dân chủ yếu đi bộ nên thường ghé vào nhà uống nước, nghỉ mệt rồi lại đi tiếp. Có người nghỉ đêm ở nhà này. Ngôi nhà làm cái việc bố thí nên được gọi là nhà Thí.
Tương truyền nhà Thí tồn tại được hơn chục năm, một hôm có người đàn bà mang thai vào nghỉ qua đêm, nửa khuya hạ sinh rồi chết vì thiếu thuốc, thiếu thầy. Vài ngày sau mới có người phát hiện, hôi thối vô cùng. Từ đó người ta ít vào nghỉ chân, nhà cũng bị kẻ xấu phá hư.
Ngày nay nhà Thí chẳng còn dấu vết gì. Riêng đường mòn đi Tân Mỹ, Trà Côn nay được đắp cao ráo, rộng rãi, trải cát phẳng phiu, xe chạy dập dìu. Người ta gọi lộ nhà Thí và ngã ba ở đây gọi là ngã ba nhà Thí.