Quân đội Quốc gia Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Quân đội Quốc gia Việt Nam
Drapeau de l'Armée Nationale Vietnamienne.png
Quân kỳ.
Hoạt động 1950 - 1955
Quốc gia Flag of South Vietnam.svg Quốc gia Việt Nam
Phân loại Lực lượng vũ trang
Colours Vàng, đỏ
Tham chiến Trận Điện Biên Phủ
Trận Sài Gòn
Các tư lệnh
Chỉ huy
nổi tiếng
Bảo Đại

Nguyễn Văn Hinh
Lê Văn Tỵ
Cao Văn Viên
Trần Văn Đôn
Dương Văn Đức

Quân đội Quốc gia Việt Nam (tiếng Pháp: Armée Nationale Vietnamienne, ANV) là lực lượng vũ trang của Quốc gia Việt Nam, được sự bảo trợ tài chính của Liên hiệp Pháp, tồn tại từ 1950 đến 1955.

Hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 8 tháng 3 năm 1949, Hiệp ước Elysée công nhận chính phủ Quốc gia Việt Nam nằm trong Liên hiệp Pháp, cùng với lực lượng quân đội riêng của quốc gia này. Theo Nghị định Quốc phòng ngày 13 tháng 4 năm 1949, một lực lượng quân đội của Quốc gia Việt Nam được thành lập, lấy tên là Vệ binh Quốc gia[1][2][3] sẽ cùng phối hợp với quân Pháp để đánh lại Việt Minh.

Ngày 11 tháng 5 năm 1950, Thủ tướng Trần Văn Hữu tuyên bố chính thức thành lập Vệ binh Quốc gia Việt Nam với quân số lúc đó là 60.000 người [4].

Áp phích tổng động viên.

Ngày 8 tháng 12, 1950, Quốc gia Việt Nam và Pháp ký Hiệp định quân sự thành lập Quân đội Quốc gia Việt Nam bằng cách đặt một số đơn vị quân đội Pháp tại Việt Nam dưới quyền chỉ huy của Quốc gia Việt Nam. Dự kiến quân đội này sẽ bao gồm 120.000 quân và 4.000 sĩ quan, tất cả sĩ quan đều phải là người Việt. Tuy nhiên, điều này không được thực hiện cho đến cuối năm 1951 khi Bộ Tổng tham mưu Quân đội Quốc gia Việt Nam được thành lập và dường như không có việc bổ nhiệm cho những đơn vị cụ thể cho đến cuối năm 1953.[5] Quốc trưởng Bảo Đại là tổng chỉ huy của Quân đội Quốc gia Việt Nam từ năm 1950 đến 1955.

Về việc thành lập Quân đội Quốc gia Việt Nam, tướng Jean de Lattre de Tassigny nhận xét người Việt có khả năng trở thành những chiến binh xuất sắc. Chỉ cần vài tuần huấn luyện là có thể tạo ra những đơn vị có khả năng tác chiến. Với số thanh niên đông đảo tại Việt Nam, nếu Quốc gia Việt Nam không tuyển mộ thì Việt Minh sẽ thu hút nguồn nhân lực đó. Vấn đề của Quân đội Quốc gia Việt Nam là thiếu chỉ huy người Việt. Để giải quyết vấn đề này cần sự trợ giúp của Mỹ. Nếu đặt dưới sự chỉ huy của sĩ quan Pháp thì đơn vị đó sẽ bị suy yếu.[5]

Trong nỗ lực thành lập Quân đội Quốc gia Việt Nam, vấn đề cơ bản là đào tạo sĩ quan và hạ sĩ quan. Quốc gia Việt Nam thừa nhận tình trạng thiếu những người được huấn luyện quân sự nhưng tuyên bố vì lý do chính trị, việc sử dụng sĩ quan Pháp là trở ngại. Pháp có trách nhiệm hỗ trợ Việt Nam trong công tác huấn luyện sĩ quan. Trong khi đó, Pháp lại không chấp nhận trang bị vũ khí cho những đơn vị Quân đội Quốc gia Việt Nam mới thành lập trừ khi Việt Nam chấp nhận một tỷ lệ nhất định sĩ quan Pháp trong Quân đội Quốc gia Việt Nam trong thời gian sĩ quan Việt Nam đang được đào tạo tại những cơ sở huấn luyện mới thành lập.[5]

Ngày 12 Tháng Tư, 1952 theo Nghị định 147/QĐ/NĐ thì chính phủ Quốc gia Việt Nam chính thức thành lập Bộ Tổng tham mưu cho Quân đội Quốc gia Việt Nam.[6] Quân đội Quốc gia Việt Nam có tổng tư lệnh là Quốc trưởng Bảo Đại và được đặt dưới quyền quản trị của Bộ Tổng Tham mưu. Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Quốc gia Việt Nam đầu tiên là một sĩ quan người Việt quốc tịch Pháp, nguyên Đại tá Chánh Võ phòng của Quốc trưởng, tân Thiếu tướng Nguyễn Văn Hinh. Trụ sở Bộ Tổng Tham mưu đặt tại số 1 đường Galiéni, tức thành Ô Ma (Camp Aux Mares), Sài Gòn [7].

Trước khi quân đội của chính thể Quốc gia Việt Nam được thành lập thì "Quân đội Quốc gia Việt Nam" đã được sử dụng với tư cách danh xưng chính thức của quân đội Việt Minh từ năm 1946 (Theo Sắc lệnh 71/SL của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 22 tháng 5 năm 1946).

Thái độ của Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Một mặt, Pháp cho thành lập các đơn vị cấp tiểu đoàn Quân đội Quốc gia Việt Nam với chỉ huy tiểu đoàn là người Việt; mặt khác, vai trò chỉ huy ở cấp cao hơn của quân Pháp vẫn được Hiệp ước Elysee đảm bảo bằng quy định: "Trong thời chiến, toàn thể quân đội Quốc gia Việt Nam và Liên hiệp Pháp được đặt chung dưới quyền chỉ huy của Uỷ ban quân sự mà Tư lệnh sẽ là một sĩ quan Pháp có một Tham mưu trưởng phụ tá."

Đa số các chỉ huy lực lượng Liên hiệp Pháp tại Đông Dương ủng hộ sự phát triển của Quân đội Quốc gia Việt Nam. Marcel Carpentier, vị chỉ huy lực lượng Liên hiệp Pháp tại Đông Dương (1949-1950), ủng hộ sự lớn mạnh quân sự của Quân đội Quốc gia Việt Nam mà Pháp đã hứa hẹn, nhưng ông bác bỏ dự án của Mỹ để viện trợ trực tiếp cho Quân đội Quốc gia Việt Nam.

Người kế nhiệm, tướng Jean de Lattre de Tassigny, chỉ huy cao nhất của lực lượng Liên hiệp Pháp tại Đông Dương giai đoạn 1950-1951 thì cố gắng hỗ trợ xây dựng và huấn luyện các đơn vị binh sĩ người Việt. Ông bắt đầu thực hiện chương trình tăng quân số và trang bị thêm các đơn vị thiết giáp và pháo binh. Tuy nhiên, cố gắng này có phần muộn màng vì de Lattre phải trở về Pháp năm 1951.

Tướng Henri Navarre, chỉ huy cao nhất của lực lượng Liên hiệp Pháp tại Đông Dương vào những năm 1953-1954, tiếp tục ủng hộ sự phát triển Quân đội Quốc gia Việt Nam. Thời kỳ này Quân đội Quốc gia Việt Nam tăng số quân, lập đơn vị lớn hơn. Trong việc phối hợp với quân đội Pháp chống lại Việt Minh, Quân đội Quốc gia Việt Nam được giao thêm trách nhiệm và thêm quyền tự quyết. Nhờ sự ủng hộ của Henri Navarre 107 tiểu đoàn mới được thành lập gồm 95.000 binh sĩ.

Mục đích của Pháp đối với Quân đội Quốc gia Việt Nam như tướng Henri Navarre đã viết: "...cuộc chiến tranh này phải được chỉ đạo và muốn như vậy sự thống nhất hành động chính trị và quân sự phải được thực hiện trong hàng ngũ của chúng ta cũng như bên đối phương đã từng làm… Cuối cùng, tôi yêu cầu là cần phải làm tất cả để các quốc gia liên kết (trong đó có Quốc gia Việt Nam) phải thực sự tham gia chiến tranh... Đồng thời Mỹ phải từ bỏ ý định thay thế ảnh hưởng của họ."[8]

Quá trình phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc diễn hành của một tiểu đoàn Quân đội Quốc gia Việt Nam. Ảnh chụp tại Hồ Gươm ngày 14 tháng 7 năm 1951.

Quân số[sửa | sửa mã nguồn]

Ban đầu, người Pháp từ chối hỗ trợ thành lập Quân đội Quốc gia Việt Nam. Khi đã chấp nhận hỗ trợ, họ không chịu trang bị pháo binh, thiết giáp và không quân cho Quân đội Quốc gia Việt Nam. Vì vậy Quân đội Quốc gia Việt Nam chỉ toàn bộ binh hạng nhẹ.[5]

Trong thời gian tồn tại, quân đội này phát triển nhanh nhưng cũng gặp rất nhiều khó khăn. Vào tháng 5 năm 1951, Quân đội Quốc gia Việt Nam có quân số chưa đầy 40.000. Tháng 6, chính phủ Trần Văn Hữu phát động "tổng động viên" để lấy thêm 60.000 người cho đợt huấn luyện 2 tháng. Đến Tháng Chạp năm 1951 thì quân số đạt 128.000 người.[9]

Tính đến năm 1952, Quân đội Quốc gia có 135.000 người được tổ chức thành 36 tiểu đoàn bộ binh, 3 đội thiết giáp trinh sát, 2 đại đội pháo binh.[9] Tính đến mùa đông năm 1953 Quân đội Quốc gia có 200.000 quân chính quy (trong đó có 50.000 quân dự bị) và 78.000 địa phương quân. Vào Tháng Chạp năm 1954 thì quân số trong Quân đội Quốc gia Việt Nam tổng cộng là 230.000 người, trong đó có 165.000 quân chính quy và 65.000 quân địa phương.[6] Số tiền người Pháp bỏ ra để viện trợ cho hoạt động của quân đội này là: 524 tỉ francs năm 1952, 585 tỉ năm 1953, 575 tỉ năm 1954. Viện trợ quân sự của Pháp chiếm 60% ngân sách quốc phòng của Quốc gia Việt Nam.

Sĩ quan[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 1 tháng 12 năm 1948. chính phủ Quốc gia Việt Nam lập ra Trường Sĩ quan Việt Nam ở Đập Đá, Huế để đào tạo nhân sự chỉ huy cho Quân đội Quốc gia Việt Nam. Hai năm sau, trường sở được chuyển lên Đà Lạt với tên mới là Trường Võ bị Liên quân Đà Lạt có 200 học sinh, khai giảng ngày 5 tháng 11 năm 1950.[9]

Hai Trường Sĩ quan Trừ bị (Écoles d'officiers de Réserve) Thủ Đức và Nam Định được thành lập ngày 11/5/1950 và chính thức hoạt động ngày 1/10/1951, có trách nhiệm đào tạo sỹ quan cho Quân đội Quốc gia Việt Nam. Số lượng học sinh của hai trường là 600.[9] Số sỹ quan đào tạo được trong giai đoạn 1951 - 1954 của hai trường này là:

  • Trường sỹ quan Trừ bị Thủ Đức: 5.368 sỹ quan
  • Trường sỹ quan Trừ bị Nam Định: 255 sỹ quan (trường này chỉ mở một khóa duy nhất từ 1/10/1951 đến 1/6/1952)

Tổng số sỹ quan hai trường đào tạo được trong giai đoạn 1951 - 1954 là 5.623 người. Sau khi tốt nghiệp, các sỹ quan được phong hàm Trung úy.[10] Trường Sĩ quan Địa phương ở Huế, Sài Gòn, và Hà Nội với 300 học sinh.[9]

Đối với nhân sự chỉ huy thì Tháng 1 năm 1952, chính phủ đã phải giảm thời gian huấn luyện sĩ quan từ 12 tháng xuống 8 tháng để đào tạo kịp sĩ quan. Trong số 1.000 người được tuyển huấn luyện làm sĩ quan trong cuộc tổng động viên năm trước, chỉ có 690 người tham gia huấn luyện.[cần dẫn nguồn] Trong thời gian này Quân đội Quốc gia Việt Nam vẫn còn thiếu sĩ quan cao cấp: chưa có Bộ Quốc phòng và sĩ quan cấp tướng.

Nguyễn Văn Hinh được phong Thiếu tướng quân đội chính quy vào năm 1951. Khi Bộ Tổng tham mưu Quân đội Quốc gia Việt Nam được thành lập, ông được bổ nhiệm vào chức vụ Tổng tham mưu trưởng.[11]

Các quân khu[sửa | sửa mã nguồn]

Về mặt chiến thuật, Việt Nam được chia thành bốn quân khu:[6]

  1. Quân khu 1: Nam phần
  2. Quân khu 2: Trung phần
  3. Quân khu 3: Bắc phần
  4. Quân khu 4: Cao nguyên Trung Phần (Tây Nguyên).

Giao chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Tiểu đoàn nhảy dù số 6

Quân đội Quốc gia Việt Nam phụ thuộc hoàn toàn vào hệ thống hậu cần của Pháp. Do thiếu sĩ quan người Việt nên, đến 20% đơn vị bộ binh và 50% đơn vị hỗ trợ và kỹ thuật vẫn còn sử dụng sĩ quan Pháp. Quân đội này thiếu những chỉ huy được huấn luyện tốt, thiếu kỷ luật, tinh thần chiến đấu thấp.[5] Trong các chiến dịch lớn như trận Nà Sản hay trận Điện Biên Phủ, các đơn vị của quân đội này trên danh nghĩa là do sĩ quan người Việt độc lập chỉ huy, nhưng thực tế các sĩ quan này vẫn nằm dưới sự điều đồng của Bộ Tư lệnh quân đội Liên hiệp Pháp (ví dụ như trận Điện Biên Phủ các tiểu đoàn Quốc gia Việt Nam phải chịu sự chỉ huy chung của trung tá Pháp Pierre Langlais).

Khi đối đầu với lực lượng Quân đội nhân dân Việt Nam, Quân đội Quốc gia Việt Nam thường bị đánh bại. Một số nơi Quân đội Quốc gia Việt Nam đạt được kết quả tốt nhưng nhìn chung Quân đội Quốc gia Việt Nam không đủ sức ngăn chặn sự thâm nhập của Quân đội nhân dân Việt Nam vào Đồng bằng Bắc Bộ.

Tháng 5 năm 1953, Việt Minh đã cho thấy khả năng thực sự của Quân đội Quốc gia Việt Nam, khi lần thứ hai trong vòng chưa đầy 2 năm, ba đại đội Việt Minh tấn công một trường huấn luyện tại Nam Định bắt phần lớn sĩ quan đang được huấn luyện tại đây và thu giữ toàn bộ vũ khí của trường mà không bị một thương vong nào.[12] Một ví dụ khác là trong Trận Điện Biên Phủ, khi thấy các đơn vị Pháp quanh đó bị tiêu diệt, nhiều binh sĩ Quân đội Quốc gia Việt Nam đã đồng loạt đào ngũ, hay tiểu đoàn Dù 5 được điều đi tái chiếm Đồi Độc Lập do bị nã pháo đã tự ý bỏ nhiệm vụ khi mới tiến được nửa đường.

Một trong những thành công của lực lượng Quốc gia là giữ yên vùng Bùi Chu cho đến năm 1954.[9]

Tập kết vào Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Sau Hiệp định Geneva, trong khi Quân đội Nhân dân Việt Nam của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở trong Nam tập kết ra Bắc thì Quân đội Quốc gia Việt Nam ở miền Bắc, trừ một số giải ngũ, cùng quân Pháp di chuyển dần xuống Nam vĩ tuyến 17. Vào Tháng Chạp năm 1954 thì quân số trong Quân đội Quốc gia Việt Nam tổng cộng là 230.000 người, trong đó có 65.000 quân địa phương trợ lực cho 165.000 quân chính quy.[6] Sang năm sau, tức 1955 Quân đội Quốc gia Việt Nam chuyển sang nằm dưới quyền chính phủ Đệ nhất Cộng hòa Việt Nam của tổng thống Ngô Đình Diệm và trở thành hạt nhân của Quân lực Việt Nam Cộng hòa.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  • Clayton, Anthony. Three Marshals of France: Leadership after Trauma (1992)
  • Đồng Văn Khuyên. The RVNAF (1980)
  • Duiker, William J. Historical Dictionary of Vietnam (1989)
  • Fall, Bernard B. The two Viet-Nams: A Political and Military Analysis. (1967)
  • Herring, George C. America's Longest War: The United Stated and Vietnam, 1950-1975 (1986)
  • Spector, Ronald H. Advice and Support: the Early Years, 1941-1960. The US Army in Vietnam. (1983)
  • Các đơn vị QLVNCH
  • (tiếng Pháp) Vietnamese National Army gallery (May 1951-June 1954) - French Ministry of Defense archives