Nguyễn Văn Hinh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nguyễn Văn Hinh
Nguyenvanhinh.jpg
Nguyễn Văn Hinh trong quân phục Thiếu tướng Quốc gia Việt Nam
Tiểu sử
Quốc tịch Flag of South Vietnam.svg Việt Nam
Flag of France.svg Pháp
Sinh

20 tháng 9, 1915(1915-09-20)

Mỹ Tho, Định Tường, Việt Nam
Mất

26 tháng 6 năm 2004 (89 tuổi)

Suresnes, Paris, Pháp
Binh nghiệp
Thuộc Flag of France.svg Quân đội Pháp
Drapeau de l'Armée Nationale Vietnamienne.png Quân đội Quốc gia Việt Nam
Năm tại ngũ 1936-1975
Cấp bậc Trung tướng
Chỉ huy Flag of France.svg Quân đội Pháp
Drapeau de l'Armée Nationale Vietnamienne.png Quân đội Quốc gia Việt Nam
Tham chiến Chiến tranh Đông Dương
Công việc khác Chánh võ phòng Quốc trưởng (Quốc gia Việt Nam)
Tổng tham mưu trưởng (Quốc gia Việt Nam)
Tham mưu phó Không quân (Pháp)

Nguyễn Văn Hinh (1915-2004), nguyên là một tướng lĩnh đầu tiên của Quân đội Quốc gia Việt Nam (Tiền thân của Quân lực Việt Nam Cộng hoà) và cũng là Tổng tham mưu trưởng đầu tiên của tổ chức Quân đội Việt Nam Cộng hoà. Xuất thân từ Trường Võ bị Không quân Pháp vào giữa thập niên 30 của thế kỷ 20. Sau khi đã là một tướng lĩnh của Quân đội Quốc gia, ông trở về Không quân Pháp và sau đó cũng trở thành một viên tướng của quân chủng này.[1].

Ông là một trường hợp đặc biệt trong lịch sử quân sự Việt Nam thế kỷ 20. Về danh nghĩa, ông đã từng được phong tướng của hai Quốc gia khác nhau, tuy nhiên khác với "Lưỡng quốc tướng quân" Nguyễn Sơn, Nguyễn Văn Hinh không cùng làm tướng của 2 quốc gia trong cùng một thời điểm.

Tiểu sử & gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nguyên gốc họ Trương Duy, về sau cải tộc thành họ Nguyễn Văn.

Ông sinh ngày 20/5/1915 tại Mỹ Tho, Định Tường, miền Nam Việt Nam.

Do có Quốc tịch Pháp, ông được du học từ nhỏ bên Pháp từ Tiểu học cho đến tốt nghiệp chương trình Trung học phổ thông, đậu Tú tài toàn phần Pháp.

  • Thân phụ: Cụ Nguyễn Văn Tâm (1895-1983) (Nguyên là Thủ tướng Quốc gia Việt Nam (1952-1954). Xem tiểu sử cùng tên).
  • Phu nhân: Người Pháp là Giám đốc Sở Xã Hội (Ái nữ của Cụ Jean Letourneau, Bộ trưởng Hải ngoại Pháp)
  • Thứ thất: Nguyễn Thị Cẩm Vân (Ái nữ của Cụ Ký giả Nguyễn Kỳ Nam, Chủ nhiệm Nhật báo Thần Chung)

Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1936: Nhập ngũ vào Quân đội Pháp tại Đông Dương. Theo học khoá 2 Trường Võ bị Không quân Salon de Provence Pháp (Cùng với Nguyễn Văn Hai (tử nạn phi cơ khi mang cấp bậc Trung uý), là 2 khoá sinh Việt Nam đầu tiên theo học khoá này). Tốt nghiệp năm 1937 với cấp bậc Chuẩn uý. Ra trường được làm phi công oanh tạc cơ B.26.

Năm 1944-1945: Ông tham dự Đệ nhị Thế chiến ở Châu và được thăng cấp hàm Thiếu uý, Chỉ huy trưởng Liên Phi đoàn oanh tạc và chiến đấu tại Blida, Algerie, Bắc Phi. Sau Thế chiến, ông theo đoàn quân Viễn chinh khắp các xứ thuộc địa của Pháp trước khi trở về quê hương.

Năm 1948: Tháng 8, Hồi hương được thăng cấp Trung uý và được cử làm sĩ quan tuỳ viên cho Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân (Xem tiểu sử cùng tên)

Năm 1949: Thăng cấp Đại uý, giữ chức Chỉ huy trưởng Phi đoàn Vận tải GT/62 (Cùng với Thiếu uý Nguyễn Đình Thái là 2 sĩ quan Không quân đầu tiên tình nguyện gia nhập vào Quân đội Quốc gia)

Quân đội Quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1950: Ông được thăng cấp Thiếu tá, giữ chức Tổng thư ký thường trực Quốc phòng.

Năm 1951: Đầu năm thăng cấp Trung tá. Tháng 3, được cử giữ chức Chánh võ phòng của Quốc trưởng Bảo Đại tại Đà Lạt. Trung tuần tháng 12, Tổng chỉ huy cuộc duyệt binh tại Hà Nội.

Năm 1952: Đầu năm thăng Đại tá. Tháng 3, vinh thăng Thiếu tướng làm Tổng tham mưu trưởng Quân đội quốc gia đầu tiên.

Năm 1953: Vinh thăng Trung tướng.

Năm 1954: Tháng 9, được Thủ tướng Ngô Đình Diệm cử sang Pháp công cán trong 6 tháng để nghiên cứu việc cải tổ và canh tân Quân đội Quốc gia. Ngày 20/9, âm mưu đảo chính Thủ tướng Diệm nhưng bất thành. Ngày 29/11, bị Quốc trướng Bảo Đại giải nhiệm chức Tổng tham mưu trưởng, lý do không tuân lệnh của Quốc trưởng.

  • Chống đối thủ tướng Ngô Đình Diệm
  • Sau thất bại ở Điện Biên Phủ (1954), chính quyền và quân đội Liên hiệp Pháp phải tập kết về miền Nam. Các lực lượng quân sự Pháp phải rút về nước và bàn giao lại chính quyền cho chính phủ thủ tướng Ngô Đình Diệm. Tuy nhiên, sau đó tướng Hinh dựa vào lực lượng Quân đội, cùng với các lực lượng quân sự của các giáo phái, đã dự tính làm đảo chính để nắm lại chính quyền. Tuy nhiên, do sự can thiệp của người Mỹ và sự thờ ơ của người Pháp, tướng Hinh buộc phải từ bỏ ý định và quay trở lại Pháp.
  • Cuối năm 1954, ông nhận được lệnh của Quốc trưởng Bảo Đại, giao chức Tổng tham mưu trưởng cho Thiếu tướng Nguyễn Văn Vỹ và sang Pháp để "trình diện Quốc trưởng". Ngay lúc đó, Ngô Đình Diệm đã bổ nhiệm Thiếu tướng Lê Văn Tỵ vào chức vụ Tổng Tham mưu trưởng và lần lượt tiêu diệt các phe phái đối lập, giành được chính quyền. Một năm sau đó, Ngô Đình Diệm tuyên bố phế truất Quốc trưởng Bảo Đại và lên làm Tổng thống của quốc gia Việt Nam Cộng hòa mới được thành lập.

Sau năm 1954[sửa | sửa mã nguồn]

Được phong tướng ở Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi trở về Pháp, ông tái ngũ trong quân đội Pháp với quân hàm Trung tá Không quân. Năm 1960, ông được thăng Đại tá và điều chuyển làm Chỉ huy trưởng một căn cứ không quân ở Algerie. Năm 1962, được phong Thiếu tướng và đến 1964 là Trung tướng Không quân (Général de corps aérien) với chức vụ Tham mưu phó lực lượng Không quân cho đến khi về hưu.

Ông mất tại Pháp năm 2004, thọ 89 tuổi.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ The young army of Vietnam (Vietnamese National Army footages), French newsreel archives (Les Actualités Françaises) ngày 26 tháng 11 năm 1953

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bổ sung theo Nguồn:
  • "Lược Sử QL VNCH - Trần Ngọc Thống & Hồ Đắc Huân 2011