Lực lượng vũ trang

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Lực lượng vũ trang là lực lượng chiến đấu của nhà nước có nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, an ninh, quốc gia và giữ gìn trật tự an toàn xã hội.

Do tính chất nhiệm vụ đặc biệt cho nên lực lượng này được hưởng những chế độ đặc biệt. Nó được trang bị vũ khí cùng với những quyền hạn rất lớn. Thông thường ở các nước dù khác nhau về hệ thống chính trị hay địa lý nhưng lực lượng vũ trang vẫn bao gồm những lực lượng chính là quân đội, cảnh sátdân quân. Có nhiều nước chỉ tính quân đội.

Quân đội có nhiệm vụ bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền của quốc gia, chống ngoại xâm.

Cảnh sát có nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự nội địa.

Dân quân là lực lượng bán vũ trang, thường được các quốc gia tổ chức như là một lực lượng dự phòng nhằm huy động sức mạnh từ số đông quần chúng.

Ngoài ra, còn một lực lượng nữa cũng nằm trong lực lượng vũ trang là lực lượng an ninh, có trách nhiệm bảo vệ an ninh quốc gia.

Tùy theo tổ chức nhà nước mà các bộ phận này được đặt ở các cơ quan quản lý khác nhau. Thông thường, quân đội được đặt dưới quyền điều động của Bộ Tổng tham mưu (hay Hội đồng tham mưu liên quân), lực lượng an ninh do Ủy ban An ninh Quốc gia điều động, còn cảnh sát thuộc quyền của Bộ nội vụ.

Tổ chức lực lượng vũ trang ở các nước[sửa | sửa mã nguồn]

Không có một hình mẫu thống nhất cho việc tổ chức các lực lượng vũ trang ở từng quốc gia.

Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Việt Nam, lực lượng vũ trang nhân dân bao gồm Quân đội Nhân dân, Công an Nhân dânDân quân tự vệ.[1] Trong đó, lực lượng Quân đội bao gồm Lục quân, Hải quân, Không quân, Biên phòng, Tuần duyênPhòng không, đặt dưới sự quản lý của Bộ Quốc phòng và chịu sự điều động của Bộ Tổng tham mưu. Lực lượng Công an bao gồm An ninh và Cảnh sát, chịu sự quản lý của Bộ Công an. Riêng lực lượng Dân quân - Tự vệ là lực lượng quản lý hỗn hợp của Bộ Quốc phòng và cơ quan hành chính địa phương.

Tổng chỉ huy các lực lượng vũ trang Việt Nam là Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang. Chức vụ này thường do Chủ tịch nước đảm nhiệm, trừ một trường hợp ngoại lệ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp được trao chức Tổng Tư lệnh khi đang giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Luật Quốc phòng (2005) của Việt Nam, CSDLVBQPPL Bộ Tư pháp (Việt Nam)