Thuyết domino

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chuỗi sự kiện Domino được Mỹ giả định tại châu Á

Thuyết domino là một học thuyết chính trị – đối ngoại của chính phủ Hoa Kỳ trong cao trào của Chiến tranh Lạnhchủ nghĩa chống Cộng. Mục tiêu của nó là ngăn chặn sự phát triển của chủ nghĩa cộng sản tại châu Á. Tuy nhiên những người phản đối thì cho rằng đây chỉ là chiêu bài của chủ nghĩa thực dân mới, mục đích thực sự là kiếm lợi cho các tập đoàn Tư bản Mỹ.

Thuật ngữ "thuyết domino" (domino theory) lần đầu tiên xuất hiện dưới thời của Tổng thống Dwight D. Eisenhower để chỉ về nguy cơ phát triển của chủ nghĩa cộng sản tại Đông Dương mà trọng tâm là tại Miền Nam Việt Nam, theo đó: nếu Hoa kỳ không can thiệp để những người cộng sản "chiếm cứ" Nam Việt Nam thì đó sẽ là quân bài domino chìa khóa làm cho Lào, Campuchia, Thái Lan, Miến Điện "sụp đổ vào tay cộng sản" và sẽ tạo lợi thế lớn cho các phong trào cộng sản tại châu Á đe dọa các khu vực sống còn còn lại của "thế giới tự do" (chỉ những nước Tây Âu, Hoa Kỳ và những nước nằm trong sự ảnh hưởng của Hoa Kỳ[1]) như Philippines, Malaysia, Nhật Bản, Úc, New Zealand... Thuyết được đặt tên theo hiệu ứng domino với hình ảnh quân cờ đầu tiên đổ khiến các quân cờ kế tiếp nó đổ và phá hủy toàn bộ trạng thái ban đầu của hệ quân cờ.

Do đó, theo hệ quả của thuyết domino, Hoa Kỳ tự thấy cần phải giúp đỡ các đồng minh chặn đứng chủ nghĩa cộng sản tại Miền Nam Việt Nam và Đông Dương. Đó là tiền đề để giải thích cho sự can thiệp ngày càng sâu của Hoa Kỳ vào Chiến tranh Đông DươngChiến tranh Việt Nam và sau này dẫn đến sự tham chiến trực tiếp của Quân đội Hoa Kỳ tại chiến trường Đông Dương.

Sau này Tổng thống Ronald Reagan cũng áp dụng thuyết domino này để giải thích cho các can thiệp của Hoa Kỳ giúp đỡ các lực lượng Contras chống lại phong trào của mặt trận Sandinista (thân cộng sản) tại Trung Mỹ.

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Thuyết domino xuất hiện là hệ quả tất nhiên của tình hình thế giới sau Thế chiến thứ hai khi hai hệ tư tưởng cộng sảntư bản đều rất bị kích động trong đấu tranh không khoan nhượng, không đội trời chung, ra sức chống phá nhau bằng mọi hình thức đấu tranh xuất khẩu cách mạng và chống lại việc xuất khẩu cách mạng. Sau Thế chiến thứ hai, những người cộng sản đang trên đà tiến công rầm rộ. Các nước xã hội chủ nghĩaĐông Âu hình thành, Đảng cộng sản tại Trung Quốc thắng lợi và ngay sau đó Bắc Triều Tiên phát động Chiến tranh Triều Tiên với sự ủng hộ của Liên XôCộng hoà Nhân dân Trung Hoa.

Cuộc đấu tranh giữa 2 khối Xã hội chủ nghĩa và Tư bản chủ nghĩa đã mang tính toàn cầu một mất một còn, thế giới phân hẳn ra hai trận tuyến với sự căm thù tư tưởng cao độ. Mặc dù chính sách đối ngoại tổng thể của Hoa Kỳ sau thế chiến là phi thực dân hoá, nhưng tại Đông Dương, việc Mặt trận Việt Minh, tổ chức lãnh đạo cuộc chiến giành độc lập cho Việt Nam có liên hệ với Liên XôCộng hòa Nhân dân Trung Hoa khiến Hoa Kỳ quyết định hỗ trợ Pháp để dập tắt phong trào này, dù lãnh tụ Hồ Chí Minh từng viết thư kêu gọi Hoa Kỳ can thiệp khẩn cấp giúp đỡ nền độc lập non trẻ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Điều này lại đẩy Việt Minh phải tìm kiếm sự ủng hộ của Liên Xô và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa để chống Pháp, và khiến phong trào này càng cộng sản hoá sâu sắc hơn nữa.

Về phía mình, Hoa Kỳ đã giúp đỡ cho Pháp và các lực lượng bản xứ (Quốc gia Việt Nam) chống lại Việt Minh. Đến cuối chiến tranh 80% chiến phí của Pháp là do Hoa Kỳ viện trợ, nhưng cuối cùng Pháp vẫn thất bại. Thắng lợi của Việt Minh trong Chiến tranh Đông Dương dẫn đến Hiệp định Geneva, theo đó Việt Nam bị chia cắt tạm thời trong 2 năm trước khi tổ chức tổng tuyển cử thống nhất đất nước.

Đối với người Mỹ, kế hoạch của họ là viện trợ cho chính phủ Ngô Đình Diệm để giúp miền Nam Việt Nam hoàn toàn độc lập với Pháp (đó là cách duy nhất để lôi kéo những người dân tộc chủ nghĩa rời xa Việt Minh và ủng hộ Quốc gia Việt Nam); Mỹ cũng thúc đẩy Ngô Đình Diệm thành lập một chính quyền đoàn kết quốc gia đại diện cho những xu hướng chính trị chính tại Việt Nam, ổn định miền Nam Việt Nam, bầu ra Quốc hội, soạn thảo Hiến pháp rồi sau đó phế truất Quốc trưởng Bảo Đại một cách hợp pháp; cuối cùng do Ngô Đình Diệm là một người quốc gia không có liên hệ gì trong quá khứ với Việt Minh và Pháp do đó miền Nam Việt Nam sẽ trở nên chống Cộng mạnh mẽ. Cuối cùng, để công thức này thành công, Mỹ và Pháp cần hợp tác để hỗ trợ Ngô Đình Diệm[2]. Tuy nhiên, Pháp không có thiện cảm với Ngô Đình Diệm, Ngoại trưởng Pháp Faure cho rằng Diệm "không chỉ không có khả năng mà còn bị tâm thần... Pháp không thể chấp nhận rủi ro với ông ta"[3], và sau đó Mỹ đã tiến hành kế hoạch một mình mà không có Pháp trợ giúp.

Miền Nam Việt Nam đã trở thành mũi nhọn đấu tranh của Hoa Kỳ trong chiến lược toàn cầu chống cộng sản mà thể hiện chính trị của nó là học thuyết domino. Nhà sử học Mortimer T. Cohen trích dẫn báo cáo của CIA rằng 80% dân số Việt Nam sẽ bầu cho Hồ Chí Minh và không một ai có thể thắng ông nếu nếu tổng tuyển cử thống nhất diễn ra[4], Hoa Kỳ quyết tâm ngăn chặn điều này. Người Pháp đã ra đi, nên Hoa Kỳ quay sang viện trợ cho chính phủ Quốc gia Việt Nam, sau này trở thành Việt Nam Cộng hòa để giúp nó có khả năng tiếp tục đứng chân tại miền Nam Việt Nam, qua đó muốn chia cắt lâu dài Việt Nam, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới chống Cộng thân Mỹ, đồng thời là căn cứ quân sự của Mỹ làm bàn đạp tấn công miền Bắc Việt Nam, lập phòng tuyến ngăn chặn Chủ nghĩa xã hội lan xuống Đông Nam Á.[5][6] (xem tại Quá trình can thiệp của Mỹ vào chiến tranh Việt Nam).

Sau đó thuyết domino được chính quyền của Tổng thống John F. Kennedy phát triển với cam kết mạnh mẽ hơn nữa: "Hoa Kỳ sẽ gánh vác mọi gánh nặng, liên kết với mọi đồng minh, chống lại mọi kẻ thù để bảo vệ thế giới tự do của chúng ta" và can thiệp ngày càng sâu hơn vào cuộc chiến tại Việt Nam. Chính sách này tiếp đến được Tổng thống Lyndon B. Johnson đưa lên đỉnh cao bằng cách đưa quân viễn chinh Mỹ tham chiến, tiến hành chiến tranh cục bộ tại Việt Nam.

Đánh giá[sửa | sửa mã nguồn]

Sau Chiến tranh Việt Nam, nhất là sau khi Trung Quốc và Việt Nam từ bỏ các luận điểm đối kháng, cải cách, đổi mới và bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ và thế giới tư bản chủ nghĩa, trong chính giới Hoa Kỳ có hai luồng đánh giá trái ngược nhau về thuyết domino:

Phía chỉ trích[cần dẫn nguồn]:

  • Thuyết này đã làm Hoa Kỳ bị lôi kéo vào một cuộc chiến tranh lâu dài không trực tiếp liên quan đến các quyền lợi của Hoa Kỳ và kết quả thất bại của cuộc chiến tranh này đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín và sức mạnh của Hoa kỳ trên thế giới.
  • Sự đe dọa của những người cộng sản đối với châu Á theo thuyết domino đã bị phóng đại: thực tế sau Chiến tranh Việt Nam, các nhà nước theo chủ nghĩa cộng sản chỉ giới hạn tại Đông Dương và không có sự đe dọa nào với các chế độ tư bản chủ nghĩa tại Thái Lan, Miến Điện hay các vùng châu Á xa hơn nữa.
  • Thuyết này không đánh giá được các mâu thuẫn nội tại ngày càng lớn trong lòng phong trào cộng sản giữa Liên Xô – Trung Quốc, Trung Quốc – Việt Nam, Việt Nam – Khmer Đỏ. Với những mâu thuẫn này sự lan rộng của chủ nghĩa cộng sản tại châu Á là không nghiêm trọng.
  • Thuyết domino của chính phủ Hoa Kỳ đã không nhìn nhận thấy được phong trào Việt Minh có bản chất quyết định là phong trào giải phóng dân tộc, chống chủ nghĩa thực dân vì sự độc lập của Việt Nam, với sự lãnh đạo của đảng Lao động Việt Nam, một đảng được đại đa số nhân dân Việt Nam ủng hộ do sự lãnh đạo thành công của họ trong kháng chiến chống Pháp. Chính phủ Hoa Kỳ do đó đã bác bỏ những cử chỉ tỏ thiện chí của Việt Minh, kiên quyết chống lại phong trào này cũng như tìm cách để chia cắt, gây phương hại đến sự độc lập thống nhất của Việt Nam. Điều này khiến Việt Minh phải ở vào thế đối lập với họ, đẩy nước Mỹ sa vào một cuộc chiến tai hại nhất trong lịch sử.
  • Thuyết domino theo nhiều người chỉ là chiêu bài của chủ nghĩa thực dân mới (cũng như chiêu bài "Chống khủng bố" mà Mỹ sử dụng ở đầu thế kỷ 21), mục đích thực sự của nó là khống chế các quốc gia trong tầm ảnh hưởng của Mỹ, kiếm lợi cho các tập đoàn Tư bản Mỹ.

Phía ủng hộ[cần dẫn nguồn]:

  • Thuyết domino ra đời trong hoàn cảnh thế giới trong thập niên 1950 – 1960; tình hình khi đó khác xa với những thay đổi của Trung Quốc và Việt Nam vào thập niên 1970 – 1980 và những phản ứng mãnh liệt của Hoa Kỳ theo nguyên tắc của thuyết domino đã góp phần làm nên những thay đổi này.
  • Sự lan rộng của chủ nghĩa cộng sản theo hiệu ứng domino là có thật, bằng hiệu ứng tâm lý và cả bằng sự hỗ trợ vật chất, ngoại giao, nhân sự... của các quốc gia Xã hội chủ nghĩa cho các đảng cánh tả tại nước khác có thể dẫn đến hiệu ứng "đổ vỡ dây chuyền". Sau thắng lợi của những người cộng sản tại Việt Nam năm 1975, những người cộng sản trên đà thắng thế với một loạt các thay đổi chính trị như tại Angola, Mozambique, Ethiopia của châu Phi với sự xuất khẩu cách mạng một cách thẳng thừng của Cuba, Liên Xô can thiệp vào Afghanistan tại châu Á, phong trào thân cộng sản Sandinista tại Nicaragua, Grenada tại châu Mỹ Latin...
  • Vì sự phản ứng mạnh mẽ của Hoa Kỳ theo thuyết domino, Việt Nam sau thắng lợi đã không thể xây dựng một tiềm lực mạnh để mô hình cộng sản lan rộng tại Đông Nam Á. Đồng thời các quốc gia Đông Nam Á liền kề như Malaysia, Thái Lan, Singapore trong thập niên 1980 vì lo ngại uy thế quân sự của Việt Nam nên đã cố kết lại về chính trị, khiến chính phủ Việt Nam phải mềm mỏng hơn trong các vấn đề đối ngoại với láng giềng.
  • Hoa Kỳ đã thất bại tại Việt Nam, nhưng tại nhiều quốc gia khác tại châu Á, châu Phi và Mĩ Latinh họ đã thành công, khi mà các chính phủ cánh tả hoặc dân tộc chủ nghĩa bị lật đổ và thay thế bằng các chính phủ thân Mỹ (bằng quân viễn chinh Mỹ hoặc bằng đảo chính nội bộ do Mỹ tài trợ)

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Countries of the First World, Nations Online Project
  2. ^ Pentagon Papers, Evolution of the War. U.S. and France's Withdrawal from Vietnam, 1954-56, The U.S. National Archives and Records Administration, page 5-6 available online
  3. ^ Pentagon Papers, Evolution of the War. U.S. and France's Withdrawal from Vietnam, 1954-56, The U.S. National Archives and Records Administration, page IV-V available online
  4. ^ From Prologue To Epilogue In Vietnam, Mortimer T. Cohen, 1979, p.227 and 251
  5. ^ LỜI NÓI ĐẦU - HIẾN PHÁP NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM NĂM 1980
  6. ^ Lịch sử Quốc hội Việt Nam, Lời mở đầu, Quốc hội Việt Nam