Cộng hòa Nhân dân Hungary

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Magyar Népköztársaság
Cộng hòa Nhân dân Hungary
Quốc gia vệ tinh của Liên Xô[1]

1949–1989
Quốc kỳ Quốc huy
Quốc kỳ Quốc huy
Quốc ca
Himnusz[a]
Hymn
Vị trí của Hungary
Thủ đô Budapest
Ngôn ngữ tiếng Hungary
Tôn giáo không chính thức
Chính thể nhà nước độc đảng Marxist–Leninist
Tổng bí thư
 - 1949–1956 (đầu tiên) Mátyás Rákosi
 - 1989 (cuối cùng) Rezső Nyers
Nguyên thủ quốc gia
 - 1949–1950 (đầu tiên) Árpád Szakasits
 - 1988–1989 (cuối cùng) Brunó Ferenc Straub
Nguyên thủ chính phủ
 - 1949–1952 (đầu tiên) István Dobi
 - 1988–1989 (cuối cùng) Miklós Németh
Lập pháp Quốc hội
Thời đại lịch sử Chiến tranh Lạnh
 - Thành lập 18 tháng 8, 1949
 - Cách mạng Hungary 23 tháng 10 năm 1956
 - Cơ chế kinh tế mới 1 tháng 1 năm 1968
 - Kết thúc 23 tháng 10
Diện tích
 - 1989 93.030 km²; (35.919 mi²)
Dân số
 - 1989 ước tính 10.397.959 
     Mật độ 111,8 /km²  (289,5 /mi²)
Tiền tệ Forint
a. ^ "Himnusz" được sử dụng làm quốc ca trước và sau thời kỳ cộng sản ở Hungary. Do trong lời bài hát có từ "Thượng đế", những người cộng sản cố gắng sáng tác một bài hát thay thế song thất bại, họ quyết định sử dụng "Himnusz" song loại bỏ từ "Thượng đế".

Cộng hòa Nhân dân Hungary (tiếng Hungary: Magyar Népköztársaság) là quốc hiệu chính thức của nước Hungary xã hội chủ nghĩa từ năm 1949 đến năm 1989, do Đảng Công nhân Xã hội chủ nghĩa Hungary lãnh đạo với sự chỉ đạo của Liên Xô.[1] Thể chế này tồn tại cho đến năm 1989, khi các lực lượng đối lập buộc chế độ cầm quyền phải từ bỏ chủ nghĩa cộng sản. Nhà nước này tự xem mình là chế độ kế thừa của Cộng hòa Xô viết Hungary được thành lập vào năm 1919.

Thành lập[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi giải phóng Hungary khỏi Đức Quốc Xã, Hồng quân Liên Xô tiếp tục chiếm đóng quốc gia này. Sau khi tịch thu hầu hết tài sản của lực lượng Đức, Liên Xô nỗ lực và đạt được mục đích ở một mức độ nhất định trong việc kiểm soát các vấn đề chính trị của Hungary.[2] Thông qua áp chế bằng vũ lực, Liên Xô lập ra các cơ quan công an để ngược đãi phe đối lập, giúp họ có thể kiểm soát cuộc bầu cử sắp tới, tuyên truyền mạnh mẽ về chủ nghĩa cộng sản.[3] Bất chấp các nỗ lực này, Đảng Cộng sản Hungary chỉ nhận được 17% tổng số phiếu, đứng sau liên minh do Đảng Tiểu chủ- lãnh đạo dưới quyền Thủ tướng Zoltán Tildy, do đó làm thất bại kỳ vọng của Liên Xô về việc nắm giữ quyền lực bằng một chính phủ được bầu cử dân chủ.[4]

Tuy nhiên, Liên Xô một lần nữa lại dùng vũ lực để can thiệp, kết quả là một chính phủ không có mặt Tildy, với những người cộng sản nắm giữ các chức vụ bộ trưởng quan trọng, và áp dụng một số biện pháp hạn chế, như cấm đoán chính phủ liên minh chiến thắng và buộc nó phải nhường Bộ Nội vụ cho một người do Đảng Cộng sản Hungary đề cử.

Bộ trưởng Nội vụ László Rajk thành lập công an mật ÁVH, trong một nỗ lực nhằm đàn áp lực lượng chính trị đối lập thông qua đe dọa, vu cáo, tống giam và tra tấn.[5] Đến đầu năm 1947, Liên Xô thúc ép lãnh tụ cộng sản Hungary là Mátyás Rákosi phải tiến hành "phương pháp đấu tranh giai cấp rõ ràng hơn." Rákosi tuân theo bằng cách buộc các đảng khác phải loại bỏ các đảng viên không muốn làm theo mệnh lệnh của Đảng Cộng sản, trên danh nghĩa vì họ là "kẻ phát xít." Sau khi những người Cộng sản giành được đủ quyền lực, ông gọi hành động này là "chiến thuật xúc xích." [6] Thủ tướng Ferenc Nagy bị buộc phải từ nhiệm để thành viên Đảng Tiểu chủ mềm dẻo hơn là Lajos Dinnyés tựu nhiệm. Trong cuộc bầu cử tổ chức trong năm 1947, Đảng Cộng sản trở thành đảng lớn nhất, song không chiếm đa số. Liên minh được duy trì với Dinnyés là thủ tướng. Tuy nhiên, đến thời điểu này thì hầu hết các thành viên can đảm hơn trong các đảng khác đã bị loại bỏ, khiến họ trở thành các đảng đồng cảm với cộng sản.[7]

Đảng Cộng sản tiếp tục củng cố quyền lực, làm suy yếu các đảng khác, điều này lên đến đỉnh điểm vào nửa sau năm 1948. Tháng 6 năm 1948, những người Cộng sản buộc những người Dân chủ Xã hội phải hợp nhất với họ để lập ra Đảng Nhân dân Lao động Hungary. Rákosi sau đó buộc Tildy phải chuyển giao chức chủ tịch cho Árpád Szakasits (người chuyển lập trường sang cộng sản). Vào tháng 12, lãnh tụ đảng Tiểu chủ là Dinnyés bị thủ lĩnh phe tả trong đảng là István Dobi thay thế, đây là người công khai ủng hộ cộng sản. Quá trình này ít nhiều hoàn thành với cuộc bầu cử vào tháng 5 năm 1949. Ngày 18 tháng 8, Quốc hội mới thông qua một bản hiến pháp mới—gần như là một bản sao của hiến pháp Liên Xô. Khi nó được ban hành chính thức vào ngày 20 tháng 8, tên nước được đổi thành Cộng hòa Nhân dân Hungary.

Tình hình chính trị cũ vẫn tiếp diễn, với việc Liên Xô thúc bách và điều khiển nền chính trị Hungary thông qua Đảng Nhân dân Lao động Hungary, tiến hành can thiệp khi cần thiết, thông qua áp chế vũ lực và các hoạt động bí mật. Rajk (người về sau bị hành quyết) gọi đây là "một chế độ độc tài của giai cấp vô sản nằm ngoài mô hình Xô viết" gọi nó là một "nền dân chủ nhân dân."[8] Hungary tiếp tục đi trên con đường cộng sản cho đến cuối thập niên 1980, khi các náo động nổ ra khắp khối phía Đông, với đỉnh điểm là sự sụp đổ của Bức tường BerlinLiên Xô tan rã.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kỳ Stalin (1949–1956)[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà lãnh đạo mới của Hungary là Mátyás Rákosi yêu cầu các đồng chí trong Đảng Nhân dân Lao động Hungary phải hoàn toàn phục tùng ông. Đối thủ cạnh tranh quyền lực chính của Mátyás Rákosi là László Rajk, người này khi đó đang là Ngoại trưởng Hungary. Rajk bị bắt giữ và phái viên NKVD của Stalin phối hợp cùng Tổng Bí thư Hungary Rákosi và công an mật ÁVH để sắp xếp phiên tòa mang tính hình thức giành cho Rajk.[9]

Trong phiên tòa vào tháng 9 năm 1949, Rajk buộc phải nhận tội, nói rằng ông là tay sai của Miklós Horthy, Leon Trotsky, Josip Broz Tito và chủ nghĩa đế quốc phương Tây. Ông cũng thừa nhận rằng mình tham gia một kế hoạch ám sát nhằm vào Mátyás Rákosi và Ernő Gerő. Rajk bị tuyên bố là có tội và bị hành quyết.[9]

Mặc dù có công giúp đỡ Rákosi thanh toán Rajk, song János Kádár và những người bất đồng quan điểm khác cũng bị thanh trừng khỏi đảng trong giai đoạn này. ÁVH đánh đập Kádár trong lúc thẩm vấn ông, bôi thủy ngân lên người ông để lỗ chân lông không thể trao đổi chất ra bên ngoài, người thẩm vấn còn đi tiểu vào miệng ông khi nó bị cạy ra.[10]

Rákosi sau đó áp đặt quyền thống trị độc đoán tại Hungary. Ở cao điểm trong thời gian nắm quyền của mình, Rákosi cho phát triển sự sùng bái cá nhân mạnh mẽ.[11] Được phong cho danh là "sát nhân hói", Rákosi phỏng theo các chương trình chính trị và kinh tế Stalinist, khiến Hungary nằm dưới quyền cai trị của một trong những chế độ độc tài khắc nghiệt nhất tại châu Âu.[12][13] Ông tự mô tả bản thân là "môn đệ người Hungary tốt nhất của Stalin"[11] và "học trò tốt nhất của Stalin".[14]

Hoạt động trấn áp tại Hungary gay gắt hơn so với các quốc gia vệ tinh khác trong những năm 1940 và 1950 do hoạt động chống đối tại Hungary mãnh liệt hơn.[12] Khoảng chừng 350.000 quan chức và đảng viên tri thức bị thanh trừng khỏi Đảng Nhân dân Lao động Hungary từ năm 1948 đến năm 1956.[12] Bất kỳ thành viên nào bị phát hiện có liên hệ với phương Tây đều bị tấn công ngay lập tức, trong số đó có một lượng lớn những người từng lưu vong nhiều năm ở phương Tây khi Hungary bị Đức Quốc Xã chiếm đóng.[9] Khoảng chừng 150.000 người bị tống giam, với 2.000 người bị hành quyết.[15]

Ngoài ra, trong quá trình "thanh lọc xã hội" các thành phần phi đảng phái, tại Budapest vào 2 giờ rạng sáng thứ 2, thứ 4, và thứ 6 có các chuyến xe chở các mục tiêu thanh trừng, với con số khoảng chừng 700.000.[16] Trong đó có 98.000 người bị quy là làm gián điệp và kẻ phá hoại, 5.000 trong số đó bị hành quyết.[16] Những cuộc thành trừng xã hội này sử dụng một nguồn lực lớn, bao gồm việc sử dụng gần một triệu người Hungary trưởng thành để ghi chép, kiẻm soát, tính toán, tuyên truyền, gián điệp hoặc đôi khi là giết các mục tiêu thanh trừng.[17]

Quốc kỳ Hungary trong giai đoạn 1949-1956

Rákosi nhanh chóng mở rộng hệ thống giáo dục tại Hungary, điều này phần lớn là nhằm có thể thay thế tầng lớp có học trước đây bằng những người được Rákosi gọi là một "giới tri thức lao động" mới. Ngoài một số tác động tích cực như điều kiện giáo dục tốt hơn dành cho người nghèo, cho con cái của giai cấp công nhân thêm nhiều cơ hội và nâng cao tỷ lệ biết chữ nói chung, biện pháp này cũng bao gồm cả việc phổ biến ý thức hệ cộng sản trong trường học. Ngoài ra, nhằm mục đích tách biệt Giáo hội ra khỏi chính quyền, việc giảng dạy tôn giáo bị tuyên bố là truyền giáo và dần bị loại bỏ khỏi trường học.

Chính quyền tiến hành tập thể hóa nông nghiệp và dùng lợi nhuận từ các nông trường quốc gia để cung cấp tài chính cho ngành công nghiệp nặng đang phát triển nhanh chóng, đầu tư cho công nghiệp nặng khi đó chiếm tới 90% tổng vốn đầu tư công nghiệp. Lúc đầu, Hungary tập trung chủ yếu vào các loại hàng mà nước này sản xuất từ trước chiến tranh, bao gồm đầu máy và toa xe lửa.

Rákosi gặp khó khăn trong việc quản lý nền kinh tế và mức sống của người dân Hungary giảm đi nhanh chóng. Chính phủ của ông càng trở nên không được ủng hộ, và khi Joseph Stalin qua đời vào năm 1953, Imre Nagy đã thay thế chức thủ tướng của Mátyás Rákosi. Tuy nhiên, Mátyás Rákosi vẫn là Tổng bí thư của Đảng Nhân dân Lao động Hungary trong ba năm sau đó, hai người tiến hành một cuộc đấu tranh quyền lực gay gắt.

Với vai trò là lãnh đạo mới của Hungary, Imre Nagy loại bỏ sự kiểm soát ngôn luận đối với các phương tiện truyền thông đại chúng và khuyến khích thảo luận công khai về thay đổi hệ thống chính trị và tự do hóa kinh tế. Chính phủ mới hứa hẹn nâng cao sản lượng và phân phối các mặt hàng tiêu dùng. Nagy cũng cho phóng thích những người cánh hữu đối lập khỏi nhà tù và thảo luận về việc tổ chức bầu cử đa dảng và rút Hungary khỏi khối Warszawa.

Ngày 9 tháng 3 năm 1955, Uỷ ban Trung ương của Đảng Nhân dân Lao động Hungary chỉ trích Nagy thiên hữu. Các tờ báo Hungary cũng tham gia công kích Nagy và buộc tội ông phải chịu trách nhiệm cho các vấn đề kinh tế của quốc gia. Ngày 18 tháng 4, Imre Nagy bị loại bỏ khỏi chức vụ trong một cuộc bỏ phiếu của Quốc hội, Rákosi lại trở thành lãnh đạo của Hungary.

Quyền lực của Rákosi bị suy yếu sau bài phát biểu lên án Stalin của nhà lãnh đạo Liên Xô Nikita Khrushchev vào tháng 2 năm 1956. Ngày 18 tháng 7 năm 1956, Rákosi buộc phải rời khỏi quyền lực theo sau các chỉ thị từ Liên Xô. Tuy nhiên, Rákosi đã thành công trong việc tìm cách để đưa người bạn thân cận của ông là Ernő Gerő trở thành nhà lãnh đạo mới của quốc gia.

Ngày 3 tháng 10 năm 1956, Ủy ban Trung ương của Đảng Nhân dân Lao động Hungary tuyên bố rằng László Rajk, György Pálffy, Tibor SzőnyiAndrás Szalai bị hàm oan trong việc bị kết án mưu phản vào năm 1949. Đồng thời, Đảng Nhân dân Lao động Hungary cũng tuyên bố Imre Nagy được phục hồi đảng tịch.

Các mạng năm 1956[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Cách mạng Hungary 1956

Cách mạng Hungary 1956 bắt đầu vào ngày 23 tháng 10 khi các sinh viên tiến hành hoạt động tuần hành hòa bình tại Budapest. Trong cuộc nổi dậy Hungary 1956, ước tính có 20.000 người bị sát hại, gần như toàn bộ là trong quá trình can thiệp của Liên Xô. Một người thân Xô là János Kádár trở thành lãnh đạo mới của Hungary, với chức vụ là lãnh đạo của Đảng Công nhân Xã hội chủ nghĩa Hungary mới được thành lập.

Các thay đổi dưới thời Kádár[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu tiên, Kádár lãnh đạo các hành động trừng phạt chống lại những nhà cách mạng, 21.600 nhân vật bất đồng chính kiến bị tống giam, 13.000 người bị giam cầm, và 400 người bị hành quyết. Tuy nhiên, đến đầu những năm 1960, Kádár tuyên bố đại xá, dần kiềm chế một số hành động thái quá của công an mật, mở đầu đường lối văn hóa và kinh tế tương đối tự do nhằm khắc phục thái độ thù địch chống lại ông và chế độ của ông sau năm 1956.

Năm 1966, Ủy ban Trung ương thông qua "Cơ chế Kinh tế mới", qua đó tìm cách cải tổ nền kinh tế, tăng năng suất, khiến Hungary cạnh tranh hơn trên thị trường thế giới, tạo ra sự thịnh vượng để thúc đẩy ổn định chính trị. Trong hai thập niên kế tiếp, tình hình trong nước Hungary tương đối yên tĩnh, chính phủ của Kádár lần lượt tiến hành các cải cách nhỏ về kinh tế và chính trị.

Đầu thập niên 1980, Hungary đã có được một số cải cách kinh tế dài hạn và tự do hóa chính trị ở mức hạn chế, theo đuổi một chính sách đối ngoại khuyến khích thương mại với phương Tây. Tuy thế, Cơ chế Kinh tế mới dẫn tới nợ nước ngoài, chính phủ phải trợ cấp cho các ngành công nghiệp không sinh lợi nhuận.

Chuyển đổi sang nền dân chủ phương Tây[sửa | sửa mã nguồn]

Quá trình chuyển đổi Hungary thành một nền dân chủ phương Tây diễn ra êm thấm so với các nước khác trong khối Đông Âu. Đến năm 1988, các nhà hoạt động trong Đảng và bộ máy nhà nước và giới trí thức gia tăng áp lực yêu cầu thay đổi. Các hoạt động công dân được tăng cường ở mức chưa từng có kế từ năm 1956.

Năm 1988, Kádár phải rời khỏi chức vụ Tổng bí thư, nhân vật cộng sản cải cách Imre Pozsgay được bầu vào Bộ Chính trị. Năm 1989, Quốc hội thông qua một "gói dân chủ", bao gồm công đoàn đa nguyên, tự do lập hội, hội họp và báo chí, một luật bầu cử mới. Vào tháng 10 năm 1989, một bản hiến pháp cấp tiến được thông Công nhân Xã hội chủ nghĩa Hungary triệu tập Đại hội cuối cùng của mình và tái lập với tên Đảng Xã hội Hungary (MSZP). Trong một phiên họp lịch sử vào ngày 16-20 tháng 10 năm 1989, Quốc hội thông qua luật quy định bầu cử quốc hội đa đảng và một cuộc bầu cử tổng thống trực tiếp, đổi tên nước từ Cộng hòa Nhân dân Hungary thành Cộng hòa Hungary.

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Là một thành viên của khối Đông Âu, ban đầu Hungary tuân theo các chỉ thị của Joseph Stalin nhằm làm suy yếu thể chế kinh tế thị trường phương Tây, "dân chủ tư sản" phương Tây, ra các điều luật để nhà nước có thể can thiệp tùy ý.[18] Các nền kinh tế theo mô hinh Liên Xô tại Đông Âu, giống như Hungary, tuân theo các phương châm chỉ đạo kinh tế của Liên Xô.[19] Các hoạt động kinh tế được quản lý theo các Kế hoạch 5 năm, chia thành các giai đoạn hàng tháng, các nhà hoạch định của chính phủ tường cố gắng đạt được mục tiêu bất chấp thị trường của hàng hóa được sản xuất ra.[20]

Hoạt động sản xuất không hợp lý dẫn đến việc các mặt hàng tiêu dùng thiếu về số lượng và kém về chất lượng trong một nền kinh tế thiếu hụt.[21] Nhìn chung, các hệ thống yếu kém không có cạnh tranh trở nên tai hại, đặc biệt là trong bối cảnh kinh tế thế giới ngày càng phức tạp.[22] Trong khi đó, các quốc gia Tây Âu có được sự tăng trưởng về kinh tế sau Thế chiến thứ hai.

Trong khi hầu hết các nền kinh tế Tây Âu về cơ bản đạt đến GDP trên người gần với mức của Hoa Kỳ, Hungary thì không,[23] với GDP trên người của nước này tụt hậu đáng kể so với các đối tác Tây Âu như trong bảng:[24]

GDP/người (USD năm 1990) 1938 1990
Áo $1.800 $19.200
Tiệp Khắc $1.800 $3.100
Phần Lan $1.800 $26.100
Ý $1.300 $16.800
Hungary $1.100 $2.800
Ba Lan $1.000 $1.700
Tây Ban Nha $900 $10.900

GDP trên người theo sức mua tương đương:[25]

GDP/người (USD năm 1990) 1950 1973 1990
Áo $3.706 $11.235 $16.881
Ý $3.502 $10.643 $16.320
Tiệp Khắc $3.501 $7.041 $8.895(Czech)/
$7.762(Slovakia)
Liên Xô $2.834 $6.058 $6.871
Hungary $2.480 $5.596 $6.471
Tây Ban Nha $2.397 $8.739 $12.210

Tình trạng thiếu nhà ở cũng diễn ra.[26] Các căn hộ trong những khối nhà lớn đúc sẵn có chất lượng thấp, như Panelház, là một biểu tượng phổ biến ở các thành phố Đông Âu thập niên 1970 và 1980.[27] Thậm chí đến cuối những năm 1980, các điều kiện vệ sinh thường là rất không phù hợp.[28] Chỉ có 60% nhà ở tại Hungary có điều kiện vệ sinh đầy đủ vào năm 1984, chỉ 36,1% nhà ở có đường ống nước.[29]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Rao, B. V. (2006), History of Modern Europe Ad 1789-2002: A.D. 1789-2002, Sterling Publishers Pvt. Ltd.
  2. ^ Wettig 2008, tr. 51
  3. ^ Wettig 2008, tr. 85
  4. ^ Norton, Donald H. (2002). Essentials of European History: 1935 to the Present, p. 47. REA: Piscataway, New Jersey. ISBN 0-87891-711-X.
  5. ^ UN General Assembly Special Committee on the Problem of Hungary (1957) Chapter II.N, para 89(xi) (p. 31)PDF (1.47 MiB)
  6. ^ Wettig 2008, tr. 110
  7. ^ Kontler, László. A History of Hungary. Palgrave Macmillan (2002), ISBN 1-4039-0316-6
  8. ^ Crampton 1997, tr. 241
  9. ^ a ă â Crampton 1997, tr. 263
  10. ^ Crampton 1997, tr. 264
  11. ^ a ă Sugar, Peter F., Peter Hanak and Tibor Frank, A History of Hungary, Indiana University Press, 1994, ISBN 0-253-20867-X, page 375-77
  12. ^ a ă â Granville, Johanna, The First Domino: International Decision Making during the Hungarian Crisis of 1956, Texas A&M University Press, 2004. ISBN 1-58544-298-4
  13. ^ Gati, Charles, Failed Illusions: Moscow, Washington, Budapest, and the 1956 Hungarian Revolt, Stanford University Press, 2006 ISBN 0-8047-5606-6, page 9-12
  14. ^ Matthews, John P. C., Explosion: The Hungarian Revolution of 1956, Hippocrene Books, 2007, ISBN 0-7818-1174-0, page 93-4
  15. ^ Bideleux & Jeffries 2007, tr. 477
  16. ^ a ă Crampton 1997, tr. 267
  17. ^ Crampton 1997, tr. 272
  18. ^ Hardt & Kaufman 1995, tr. 12
  19. ^ Turnock 1997, tr. 23
  20. ^ Crampton 1997, tr. 250
  21. ^ Dale 2005, tr. 85
  22. ^ Hardt & Kaufman 1995, tr. 1
  23. ^ Hardt & Kaufman 1995, tr. 16
  24. ^ Hardt & Kaufman 1995, tr. 17
  25. ^ Madison 2006, tr. 185
  26. ^ Sillince 1990, tr. 11–12
  27. ^ Turnock 1997, tr. 54
  28. ^ Sillince 1990, tr. 18
  29. ^ Sillince 1990, tr. 19–20

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bideleux, Robert; Jeffries, Ian (2007), A History of Eastern Europe: Crisis and Change, Routledge, ISBN 0-415-36626-7 
  • Crampton, R. J. (1997), Eastern Europe in the twentieth century and after, Routledge, ISBN 0-415-16422-2 
  • Dale, Gareth (2005), Popular Protest in East Germany, 1945-1989: Judgements on the Street, Routledge, ISBN 071465408 Kiểm tra giá trị |isbn= (trợ giúp) 
  • Hardt, John Pearce; Kaufman, Richard F. (1995), East-Central European Economies in Transition, M.E. Sharpe, ISBN 1-56324-612-0 
  • Sillince, John (1990), Housing policies in Eastern Europe and the Soviet Union, Routledge, ISBN 0-415-02134-0 
  • Turnock, David (1997), The East European economy in context: communism and transition, Routledge, ISBN 0-415-08626-4 
  • Wettig, Gerhard (2008), Stalin and the Cold War in Europe, Rowman & Littlefield, ISBN 0-7425-5542-9