T-80

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
T-80
T-80 in Saint-Petersburg.jpg
T-80B ở bảo tàng St Petersburg Artillery
Loại Tăng chủ lực (MBT)
Nguồn gốc  Soviet Union
Lược sử hoạt động
Trang bị 1976–Nay
Quốc gia sử dụng
Sử dụng trong
Lược sử chế tạo
Nhà thiết kế Nikolay Popov, LKZ (T-80)[2], Morozov (T-80UD)
Năm thiết kế 1967–1975
Nhà sản xuất LKZOmsk Transmash tại Nga, Malyshev tại Ukraina[3]
Giá thành $2,2 triệu USD T80U được xuất khẩu năm 1994.[4]
Giai đoạn sản xuất 1976–
Số lượng chế tạo 5.404 (tới năm 2005)[3]
Các biến thể engineering & recovery, cầu phao di động, phá mìn với hệ thống xới đất KMT-6 hay KMT-7.
Thông số kỹ chiến thuật (T-80B / T-80U)
Khối lượng
  • 42,5 tấn T-80B
  • 46 tấn T-80U[5]
Chiều dài
  • 9,9 m (32 ft 6 in) T-80B
  • 9,654 m (31 ft 8,1 in) T-80U (tính luôn nòng súng)
  • 7,4 m (24 ft 3 in) T-80B
  • 7 m (23 ft 0 in) T80U[5]
Chiều rộng
  • 3,4 m (11 ft 2 in) T-80B
  • 3,603 m (11 ft 9,9 in) T-80U[5]
Chiều cao 2,202 m (7 ft 2,7 in) T-80B, T-80U[5]
Kíp chiến đấu 3[5]

Bọc giáp T-80B tháp pháo dày 550mm,500 mm giáp, T-80U tháp pháo dày 780 mm để chống đạn xuyên giáp và 1.320 mm chống đạn nổ chống tăng[6]
Vũ khí chính Pháo 2A46-2 125 mm nòng trơn,[9] 36 viên đạn với T-80B, 2A46M-1 cùng 45 viên đạn với T-80U
4 tên lửa 9M112 Kobra ATGM với T-80B, 6 tên lửa9M119 Refleks ATGM với T-80U[5]
Vũ khí phụ
  • Súng máy PKT 7.62 mm
  • Súng máy NSVT 12.7 mm
  • Hay súng máy PKT phòng không
Động cơ Động cơ tua bin xăng SG-1000 T-80B,Tua bin GTD-1250 T-80U, hay 1-3 động cơ diesel T-80UD[7][8]
1.000 mã lực T-80B, 1.250 mã lực T-80U[5]
Công suất/trọng lượng
  • 25,9 mã lực/tấn T-80B
  • 27,2 mã lực/tấn T-80U
Hệ truyền động
  • Bằng tay
  • 5 bánh lái phía trước, 1 phía sau T-80B
  • 4 bánh lái phía trước, 1 phía sau T-80U[5]
Hệ thống treo Bánh xich[5]
Khoảng sáng gầm
  • 0,38 m (1,2 ft) T-80B
  • 0,446 m (1,46 ft) T-80U[5]
Sức chứa nhiên liệu
  • 1.100 lít (240 imp gal) bình xăng chính
  • 740 lít (160 imp gal) bình xăng phụ
Tầm hoạt động
  • 335 km (208 mi) trên đường thẳng, không dùng bình xăng phụ
  • 440 km (270 mi) trên đường thẳng, dùng bình xăng phụ[5]
Tốc độ
  • 70 km/h (43 mph) trên đường thẳng
  • 48 km/h (30 mph) trên địa hình gồ ghề[7]
Mẫu tăng T-80BV trưng bày năm 1991

T-80 là xe tăng chiến đấu chủ lực (MBT- Main Battle Tank) được sản xuất tại Liên Xô và được đưa vào sử dụng năm 1976. Nó là một bản nâng cấp của T-64, nhưng trái với T-64, T-80 được sản xuất với số lượng lớn hơn và được xuất khẩu, vì vậy nó xuất hiện ở nhiều quốc gia ngoài Liên Xô: đảo Síp, Pakistan, Hàn Quốc, Trung Quốc. 320 chiếc T-80UD đã được Pakistan đặt hàng từ Ukraina, và đang được chuyển giao. Tháng 8 năm 2002, có thông báo rằng Hàn Quốc đang mua một số tăng T-80 từ Nga. Nga từng có kế hoạch bán một lô hàng khoảng 150 xe tăng T-80B cho Việt Nam nhưng không thành do ngân sách quốc phòng của Việt Nam không đáp ứng nổi. Chỉ huy nhóm thiết kế là kỹ sư Liên Xô Nikolay Popov.

Thông số kỹ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

  • Loại: tăng chủ lực MBT
  • Nước sản xuất: Liên Xô
  • Năm phục vụ: 1976 – nay
  • Nặng:
    • 46 tấn (T-80, T-80UD)
    • 49,1 tấn (T-80B)
    • 43,7 tấn (T-80BV)
    • 51,9 tấn (T-80A)
    • 50,7 tấn (T-80U)
  • Dài:
    • 7 m (T-80)
    • 6,98 m (T-80B)
    • 7,01 m (T-80U)
    • 7.085 m (T-80UD)
  • Rộng:
    • 3,58 m (T-80B)
    • 3,60 m (T-80U, T-80)
    • 3,56 m (T-80UD)
  • Cao:
    • 2,22 m (T-80B)
    • 2,20 m (T-80U, T-80)
    • 2,74 m (T-80UD)
  • Tổ lái: 3 người (xa trưởng, lái xe, pháo thủ)
  • Giáp trụ: composite + gạch ERA Kontakt-1 (T-80BV hay T-80 BK) hoặc Kontakt-5 (T-80U)
  • Vũ khí chính:
    • Pháo nòng trơn 125 ly 2A46-1 (T-80)
    • Pháo nòng trơn 125 ly 2A46-2 (T-80B)
    • Pháo nòng trơn 125 ly 2A46M-1 (D-81TM "Rapira-3") (T-80A, T-80U)
    • Pháo nòng trơn 125 ly KBA3 (T-80UD)
39 viên đạn (T-80B, T-80U)
45 viên đạn (28 trong hệ thống nạp tự động) (T-80UD)
  • Vũ khí phụ:
    • Đại liên đồng trục 7,62 ly PKT (1250 viên)
    • Đại liên đồng trục 7,62 ly PKT KT-7.62 (1250 viên) (T-80UD)
    • Đại liên phòng không 12,7 ly NSVT (500 viên)
    • Đại liên phòng không 12,7 ly KT-12.7 (450 viên) (T-80UD)
    • Các loại tên lửa 9M112 Kobra (AT-8 Songster), ATGM (6 quả) (T-80, T-80B); 9M119 Svir (AT-11 Sniper) và 9M119M Refleks (AT-11B Sniper), ATGM (6 missiles) (T-80U)
  • Động cơ: các loại động cơ tuốc bin khí đa nhiên liệu:
    • GTD-1000T 1000 mã lực (746 kW) (T-80, T-80B, T-80BK)
    • GTD-1000TF 1100 mã lực (820 kW) (T-80B, T-80BK; đến năm 1980 thì trang bị cho T-80BV, T-80BVK)
    • GTD-1000M 1200 mã lực (895 kW) (T-80A)
    • GTD-1000F 1100 mã lực (820 kW) (T-80U)
    • GTD-1250 1250 mã lực (932 kW) (T-80U, dùng từ năm 1992)

Riêng T-80 UD dùng động cơ diesel 6TD 1.006 mã lực (750 kW), 2 thì 6 xilanh, đa nhiên liệu, làm mát bằng chất lỏng

  • Hệ thống giảm xóc: bánh xích
  • Sức kéo:
    • 21,7 mã lực/tấn (16,2 kW/tấn) (T-80)
    • 20,4 mã lực/tấn (15,2 kW/tấn) and 22,4 mã lực/tấn (16,7 kW/tấn) (kể từ năm 1980, T-80B)
    • 25,2 mã lực/tấn (18,8 kW/tấn) (T-80BV)
    • 26,5 mã lực/tấn (19,8 kW/tấn) (T-80A)
    • 24,7 mã lực/tấn (18,4 kW/tấn) (T-80U)
  • Tầm hoạt động:
    • 335 km, 600 km with extra tanks (đường nhựa) (T-80)
    • 370 km, 500 km with extra tanks (đường nhựa) (T-80B)
    • 500 km, 900 km with extra tanks (đường nhựa) (T-80U)
    • 580 km (đường nhựa) 450 km (đường gồ ghề) (T-80UD)
  • Tốc độ:
    • 70 km/h (đường nhựa), 48 km/h (đường gồ ghề) (T-80)
    • 70 km/h (đường nhựa), 40 km/h (đường gồ ghề) (T-80B, T-80U)
    • 65 km/h (đường nhựa), 45 km/h (đường gồ ghề) (T-80UD)

Lịch sử sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Sự ra đời của T-80 có liên quan tới quá trình đưa động cơ tuốc bin khí vào sử dụng trong bộ đội tăng thiết giáp Liên Xô. Chúng ta được biết T-80 là loại tăng chủ lực đầu tiên của Liên Xô dùng động cơ tuốc bin khí. Nhưng kế hoạch chế tạo xe tăng dùng động cơ loại này đã có từ năm 1949, thiết kế bởi kỹ sư nhà máy Kirov tên là A. Ch. Stariostienko. Có điều, chất lượng của động cơ tuốc bin khí lúc đó lại quá tệ hại, rối cục dự án chỉ là dự án. Nhưng năm 1955 cũng tại nhà máy Kirov, hai động cơ mẫu công suất 1000 mã lực đã được chế tạo thành công dưới sự chỉ đạo của G.A.Oglobin. Đến năm 1957 thì đội thiết kế xe tăng của kỹ sư nổi tiếng Z.J.Kotin lại cho ra đời hai mẫu tăng dùng tuốc bin khí tên là Obyekt 278 (kế hoạch 278) dựa trên các mẫu tăng hạng nặng IS-7T-10. Động cơ mới đã nâng tốc độ xe lên 57,3 km/h nhưng xe chỉ chạy được 300 km do bình xăng nhỏ (1950 lít). Obyekt 178 sau đó bị đình chỉ và được xem như mẫu thử nghiệm. Năm 1963 ở nhà máy Uralvagonzavod nhóm của L.N.Kracew thiết kế mẫu Obyekt 167 động cơ tuốc bin khí GTD-3T 801 mã lực.

Khi T-64 đã thay thế vai trò của xe tăng hạng nặng như IS-7 và T-10 thì người ta cũng thử sản xuất những mẫu T-64 mới mang động cơ tuốc bin khí. Cùng năm 1963 tại cục thiết kế Morozov mẫu T-64T thử nghiệm dùng động cơ GTD-3TL 700 mã lực được sản xuất đồng thời với T-64 dùng động cơ truyền thống. T-64T được thử nghiệm cho đến năm 1965. Năm sau mẫu tăng bắn tên lửa Obyekt 288 ra đời, mang 2 động cơ GTD-350 với tổng công suất 691 mã lực. Tuy nhiên, ngay sau đó người ta nhận ra rằng hệ thống 2 động cơ cũng không tốt hơn hệ 1 động cơ, nhất là những động cơ được sản xuất tại nhà máy Kirov KB-3 (LKZ) hay WNII Transmasz kế từ năm 1968 trở đi. Thí dụ như mẫu T-64T "Obyekt 291 SP1" (1969) do nhà máy LKZ chế tạo trang bị động cơ GTD-1000T công suất tới 1000 mã lực. Đến đây thì một vấn đề mới phát sinh: hệ thống bánh xích cũ không còn phù hợp với các loại động cơ mới công suất cực lớn và việc xe tăng Liên Xô càng ngày càng nặng. Thế là, cùng năm, mẫu T-64 "Obyekt 291 SP2" ra đời với đĩa bánh xích truyền động (drive sprocket) to hơn, thêm trục lăn hồi chuyển (return roller) và số bánh xích tăng từ 4 lên 5 cặp. Cấu trúc tháp pháo, súng chính 2A46 125mm, hệ thống nạp đạn tự động, nơi chứa đạn và một số trang bị khác được thiết kế giống T-64A. Obyekt 291 SP2 được LKZ liên tục cải tiến suốt bảy năm sau đó, rồi cuối cùng chính thức đi vào hoạt động dưới cái tên T-80.

Như vậy, rõ ràng T-80 là một hậu duệ trang bị động cơ tuốc bin khí của T-64 nên, dĩ nhiên nó mang những tính năng đặc trưng của dòng họ mình. Có một điều thú vị là nhiều chuyên gia quân sự, nhất là phương Tây hay lầm lẫn giữa T-64, T-80 với một xe tăng nổi tiếng khác của Liên Xô: T-72. Lầm cũng phải, vì các xe tăng Liên Xô từ T-62 trở đi thường hao hao như nhau. Đặc biệt bộ ba T-72, T-64, T-80 nếu không để ý thì cứ tưởng là cùng một xe (mặc dù T-64 ngắn hơn T-80 chừng 90 cm), các mẫu nâng cấp về sau lại càng khó nhận biết. Nhưng thực chất là hai dòng này khác nhau hoàn toàn. Chúng chỉ giống nhau vẻ bề ngoài mà thôi.

  • T-80 là hậu duệ trực tiếp của T-64, còn T-72 là bản nâng cấp của T-62 cộng thêm một số trang thiết bị của T-64. Vì vậy cấu trúc bên trong của T-72 khác biệt rõ rệt so với T-64 và T-80.
  • T-80 và T-64 chỉ được sản xuất hạn chế, hiếm xuất khẩu, thường trang bị cho những lực lượng tinh nhuệ của Liên Xô và chỉ đóng ở những vùng xung yếu của các nước khối Warswav (như Đông Đức). T-72 thì được sản xuất đại trà, đóng vai trò như xương sống của bộ đội tăng thiết giáp Liên Xô cùng nhiều quốc gia khác. Vì vậy T-80, T-64 mạnh hơn nhưng đắt, nặng, phức tạp, khó sản xuất hơn T-72.
  • T-72 cùng hậu duệ của nó là T-90 được sản xuất tại nhà máy Uralvagonzavod tại Niznhy Tagil, còn T-64, T-80 được thiết kể bởi cục SKB-2 tại nhà máy Kirov ở Leningrad (LKZ), về sau chuyển giao cho cục Omsk Transmask ở Siberia.

Do các tính năng mới ưu việt của nó, T-80 xứng đáng là người viết tiếp những huyền thoại về T-64. Thật vậy, trong suốt hơn một phần tư thế kỷ tồn tại, T-80 cùng với T-72 và T-90 là những xe tăng chủ lực của quân đội Liên Xô và Nga sau này. Tuy nhiên, dù được liên tục cải tiến và nâng cấp, T-80 và T-72 đang dần dần trở nên lạc hậu trong khi T-90 chỉ là giải pháp tình thế (mặc dù là giải pháp tình thế rất hiệu quả). Hiện tại, giới quân sự Nga đang chán ngán dòng T-80, nhất là do động cơ tuốc bin khí của nó tốn quá nhiều nhiên liệu (đặc biệt trong cuộc các chiến tranh Chechnya gần đây, điều này càng không thế chấp nhận được. Các mẫu T-80BV thật sự thể hiện rất kém cỏi trong mặt trận này). Thêm nữa, T-90 mặc dù là giải pháp tình thế nhưng đã tỏ ra hiệu quả hơn, nó đã được trang bị rộng rãi cho quân đội Nga và được nhiều nước ưa chuộng. Nhu cầu trong nước về T-80 giảm nhanh chóng trong khoảng thời gian gần đây khiến cục Omsk Transmask, nơi sản xuất T-80 gặp rất nhiều khó khăn. Vì vậy, không ngạc nhiên khi Omsk đang cố gắng hướng tới những khách hàng ngoại quốc tiềm năng hơn, dẫn tới việc là T-80 đang dần được sản xuất theo hướng chủ yếu là xuất khẩu (một điều thú vị là việc này lại trái với truyền thống xưa nay của T-64 và T-80: xe tăng tinh nhuệ sản xuất trong nước, ít xuất khẩu).

T-80UD "Beryoza" (cây bulô)[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: T-84

Song song với T-80U, năm 1985 cục Morozov ở Ukraina cũng cho ra đời mẫu T-80UD dùng động cơ diesel 6 xilanh 6TD-1 1000 mã lực. Mặc dù công suất thấp hơn động cơ tuốc bin khí nhưng hiệu suất cao hơn, đảm bảo hành quân tốt trên những chặng đường dài. Động cơ có thể chịu nóng tới 55 độ C và vẫn hoạt động tốt khi xe lặn sâu 1,8m. Mẫu xe tăng mới này mang tên T-80UD Beryoza (có nghĩa là cây bulô). T-80UD giống như T-80U, nhưng khoang động cơ, ống phun khói và nơi sắp xếp đồ vật ở tháp pháo có thiết kế khác. Khác T-80U, T-80UD vẫn dùng khẩu súng máy phòng không điều khiển từ xa của xa trưởng.

T-80UD được sản xuất chủ yếu ở nhà máy Malysheva đường phố Morozova Kharkov UA. Trong khoảng 1987-91 có 500 chiếc được chế tạo, trong đó đến 300 chiếc phục vụ trong quân đội Ukraina – nơi nó ra đời – sau khi Liên Xô tan rã. Vì vậy hình ảnh T-80UD gắn liền với Ukraina. Tuy nhiên, Nga lại chia sẻ bản quyền của T-80UD, thế là việc hợp đồng bán 320 chiếc T-80UD cho Pakistan bị đình trệ giữa chừng do Nga từ chối cung cấp tháp pháo cùng nhiều chi tiết khác cho Ukraina. Ukraina buộc phải tự phát triển các mẫu T-80UD 100% trong nước để có thể tự do bán "cây bulô" của mình. Đó cũng là lí do ra đời của T-84.

T-80UM2[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Xe tăng Black Eagle

Phiên bản mới nhất của T-80U đang được phát triển là loại T-80UM2 hay Black Eagle, nhằm mục đích có khả năng chống lại các mục tiêu khi đang dừng hay đang chuyển động. Nó có tháp pháo thép đúc liền với giáp ERA ở trước thân và quanh tháp pháo, một hệ thống nạp đạn tự động và vị trí xếp đạn dược được dời ra khung tháp pháo để tăng tỷ lệ sống sót. Các cải tiến khác gồm một hệ thống kiểm soát bắn computer, ống ngắm hình ảnh nhiệt cho chỉ huy và pháo thủ và hệ thống Antene trả đũa tích cực.

Cùng với việc tìm kiếm khách hàng ngoại quốc, Omsk Transmask đang cố gắng lấy lại lòng tìn của quân đội Nga bằng những mẫu tăng mới hiện đại. Rất có thể T-80 sẽ lại tung cánh trên bầu trời Nga, nhưng xét tình hình Omsk Transmask hiện nay, việc chú đại bàng lông đen bị bán ra nước ngoài cũng không nằm ngoài dự đoán.

Thông tin kỹ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Vũ khí[sửa | sửa mã nguồn]

Tháp pháo của T-80BV

T-80 cũng được trang bị 6 tên lửa có điều khiển chống tăng: T-80B dùng hỏa tiễn chống tăng 9119 Korba (NATO gọi là AT-8 Songster) của T-64, T-80U thì dùng 9M119 Svir (AT-11 Sniper), 9M119M (AT-11B Refleks).Tầm hoạt động của tên lửa từ 100 đến 4.000m. Hệ thống được thiết kế để chống lại các xe tăng có trang bị ERA (Lớp bảo vệ nổ phản ứng) cũng như các mục tiêu bay thấp như máy bay trực thăng, trong phạm vi lên đến 5 km. Hệ thống tên lửa bắn ra cả hai loại tên lửa 9M119 hay 9M119M, có hướng dẫn bán tự động bằng chùm laser.

T-80 sử dụng các phiên bản của khẩu pháo chính 125 ly nòng trơn 2A46 cùng với một hệ thống nạp đạn tự động (giống như "mốt" của dòng họ T trong nửa cuối thế kỷ 20) với ống bọc cách nhiệt bên ngoài, có thể bắn từ 6 đến 8 viên/phút. Nạp đạn thuỷ cơ học với băng đạn 28 viên. Trong xe có 45 viên đạn. Súng chính bắn đạn liều rời đặt trong vỏ chống bắt lửa. Đạn có thể là AP (Armour Piercing), APDS (Armour Piercing Discarding Sabot), HEAT (High Explosive Anti-Tank) và HE-FRAG (High Explosive-Fragmentation). T-80UD của Ukraina cũng trang bị khẩu 125 ly, nhưng kiểu KBA3.

Ngoài pháo chính, T-80 được trang bị một đại liên đồng trục PKT 7,62 ly và đại liên phòng không Utes (NVST-12.7) 12,7 ly điều khiển từ trong buồng của xa trưởng.Ngoài ra còn đại liên đồng trục PKT KT-7.62 7,62 ly và đại liên phòng không KT-12.7 12,7 ly dành cho T-80UD.

Giáp trụ và hệ thống bảo vệ[sửa | sửa mã nguồn]

Kế tục T-64, T-80 cũng dùng giáp composite. Composite T-80 dày hơn, có các lớp thép đúc + sợi thủy tinh và lớp thép đúc + phi kim, có thể chống đạn 120 ly. T-80B dùng giáp composite K với lớp gốm. T-80 U có váy bảo vệ với những tấm cao su chống mìn. Váy trước bọc giáp và dùng vỏ bọc hút sóng radar. Có 5 ống phóng lựu đạn khói nằm ở bên phải tháp pháo và 7 cái bên trái. T-80BV và T-80VK có thêm hệ thống hỗn hợp bảo vệ nổ phản ứng (gạch ERA) Kontakt-1, còn T-80U dùng Kontakt-5. UK, UE, UM dùng hệ thống bảo vệ Shtora. T-80UM1, UM2 trang bị hệ thống phòng thủ chủ động ARENA và Drozd.

Nói chung là giáp trụ của T-80 rất chắc chắn, đúng như trường phái tăng Liên Xô hiện đại. Việc này là nhờ vào kích cỡ thon gọn và dung tích tối ưu (đặc trưng của xe tăng T). Mặc dù to và nặng hơn T-72, T-90 khá nhiều nhưng so với xe tăng phương Tây và Mĩ như M1 Abrams, Leopard 2, Challenger,... thì T-80 vẫn rất "mi nhon". Nhờ đó mà diện tích bề mặt cần bọc giáp nhỏ, nên mật độ giáp rất cao, lượng nguyên liệu cần dùng giảm, khối lượng xe tăng giảm đáng kể. Giống T-64, T-80 to hơn T-72 để cho khoang lái rộng, tổ lái được thoải mái, vì thế nó cũng nặng hơn.

Cũng như xe tăng Liên Xô, hòm đạn được đặt ở nơi an toàn nhất: trong khoang lái, dưới tổ lái, nằm trong ổ quay đạn. Bản thân ổ quay đạn cũng ở vị trí an toàn. Tuy nhiên, việc này lại gây nguy hiểm tính mạng cho tổ lái: khi hòm đạn bị bắn nổ thì mảnh đạn sẽ văng trúng binh sĩ gây thương vong, thậm chí còn hất tung tháp pháo lên trời. Viên đạn nằm ngoài thiết bị nạp cũng nguy hiểm: tổ lái hầu như không được bảo vệ khỏi những mảnh kim loại nóng phừng phừng khi chỗ nạp đạn bị bắn nổ, nhất là khi dùng vỏ đạn bằng chất bán cháy thay vì dùng đồng. Vì vậy thường người ta chỉ cho phép mang 28 viên đạn trong 1 xe (dù chứa được tới 40-45 viên), mặc dù điều này khiến T-80 tác chiến bất lợi hơn trong những nhiệm vụ có cường độ cao. Nhưng một số mẫu T-80UD của Uy Kiên dùng tháp pháo kiểu Phương Tây nên không có nhược điểm này.

T-80 cũng được bảo vệ các thanh vỏ giáp kiểu yếm xung quanh. Các biện pháp đối phó khác còn gồm chế độ chạy ít tiếng ồn và động cơ tuốc bin khí chạy nhiên liệu không khói, hệ thống cách nhiệt bên trên và bên dưới đã được cải tiến, thông gió cho hệ thống truyền động động cơ, hệ thống làm mát, hệ thống phun khói và quạt khói.

Hệ thống kiểm soát bắn và quan sát[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ thống kiểm soát bắn và quan sát của xe là loại 1A42 gồm hệ thống computer dẫn đường 1V517, hai hệ thống ổn định vũ khí thuỷ điện hai trục, ống ngắm tầm xa được ổn định trên hai trục cũng như một dụng cụ chỉ thị góc phương vị GPK-59 hydro-semicompass và một dụng cụ chỉ thị góc phương vị cho sự quay của tháp pháo. Hệ thống này cho phép bắn khi đang chuyển động.

T-80 có máy đo khoảng cách dùng laser, vị trí nhìn (visual key) to hơn. T-80 U được trang bị hệ thống ngắm hồng ngoại TO-1 KO-4 Buran-R và hệ thống ngắm ban ngày 1G46M cho pháo thủ; kênh tăng cường hình ảnh thay cho đèn hồng ngoại ở nóc tháp pháo dành cho xa trưởng.

Tính cơ động và tốc độ[sửa | sửa mã nguồn]

Như đã nói, T-80 được trang bị động cơ tuốc bin khí, nên công suất của nó thuộc loại cực cao của quân đội Liên Xô. Ban đầu là GT-1000T 1000 mã lực, sau đó tăng dần đến đỉnh điểm là GTD-1250 1250 mã lực của T-80U (chú ý là động cơ T-72 và T-90 hiện đại nhất chỉ là 1100 mã lực). Xung lực của T-80 có thể lên tới 26,5 mã lực/tấn (T-90 là 24 mã lực/tấn). GTD-1250 là động cơ ba trục với hai tầng nén khí. Có một động cơ GTA-18 phụ trợ độc lập khác dùng khi xe tăng đứng yên.

Vì vậy không ngạc nhiên khi T-80 cực kỳ cơ động (vận tốc tối đa 70 km/h, trong khi T-90 là 65 km/h). Nó chia sẻ danh hiệu "xe tăng bay" của xe tăng Leopard 2. Tất nhiên một số xe tăng phương Tây cũng dùng động cơ tuốc bin khí (M1 Abrams có công suất 1500 mã lực) nhưng kích thước và khối lượng của T-80 nhỏ hơn (nặng nhất là 50 tấn, còn M1 Abrams mi-nhon nhất là 61 tấn với kích thước gấp đôi) nên T-80 vẫn "bay" tốt hơn.

Hơn nữa, động cơ của T-80 có thể sử dụng nhiều loại nhiên liệu: từ xăng dùng cho động cơ phản lực đến xăng có chỉ số octane thấp, cho dầu diesel cũng chạy tốt. Động cơ cũng hoạt động khá ổn định, tuổi thọ cao, và GTD-1250 thì có thêm hệ thống tự loại bỏ bụi bẩn.

Có điều, công suất nào xăng nấy, động cơ tuốc bin khí ngốn quá nhiều nhiên liệu, ngay cả lúc xe đứng yên nó cũng "ăn" nhiên liệu dữ dội, nên phía Ukraine đã phát triển các bản T-80 và T-84 dùng động cơ diesel công suất thấp hơn một chút nhưng hiệu suất cao hơn, ít hao nhiên liệu. Nói chung T-80 của Ukraine vẫn giữ được danh hiệu "xe tăng bay" của dòng họ mình.

Để phù hợp với động cơ mới, T-80 có một hệ thống truyền lực kiểu hành tinh với hệ thống dẫn nước phụ (hydraulic servo-system) để tăng tính cơ động. Xích và hệ thống treo được trang bị kiểu xích RMSh và các bánh xe cao su để chạy trên đường, các lò xo treo giảm xóc có hai tầng giảm chấn chất lỏng lồng vào nhau.

Các mẫu T-80 chủ yếu[sửa | sửa mã nguồn]

Đặc điểm các mẫu T-80 chủ yếu
T-80
(Ob'yekt 219)
T-80B
(Ob'yekt 219R)
T-80BV
(Ob'yekt 219RV)
T-80A
(Ob'yekt 219A)
T-80U
(Ob'yekt 219AS)
T-80UD "Beryoza"
(Ob'yekt 478B)
Nặng
(tấn)
46 42.5 43.7[10] 51.9[11] 50.7[12] 46[13]
Dài
(mét)
7 6.98[12] 7.01[12] 7.085[13]
Rộng
(mét)
3.60[12] 3.58[12] 3.60[12] 3.56[13]
Cao
(mét)
2.20[12] 2.22[12] 2.20[12] 2.74[13]
Pháo chính 125 mm 2A46-1 smoothbore[10] 125 mm 2A46M-1 (D-81TM "Rapira-3") smoothbore[10] 125 mm KBA3 smoothbore[13]
Súng máy 7.62 mm PKT coaxial tank (1.250 rounds)[12]
12.7 mm NSVT anti-aircraft heavy (500 rounds)[12]
7.62 mm KT-7.62 coaxial (1.250 rounds)[13]
12.7 mm KT-12.7 anti-aircraft heavy (450 rounds)[13]
Tên lửa chống tăng ATGM
(gọi tên bởi NATO)
Không 9M112 Kobra (AT-8 Songster) (6 missiles) 9M119M Refleks (AT-11B Sniper) 9M119 Svir (AT-11 Sniper) and 9M119M Refleks (AT-11B Sniper)
Động cơ GTD-1000T đa nhiên liệu[12] động cơ tuốc bin khí 1.000 mã lực (746 kW)[10] GTD-1000T (GTD-1000TF dùng cho T-80B bản 1980) multi-fuel[12] động cơ tuốc bin khí 1.000 mã lực (746 kW) (1.100 mã lực (820 kW) đối với GTD-1000TF)[10] GTD-1000TF đa nhiên liệu[12] động cơ tuốc bin khí 1.100 mã lực (820 kW)[10] GTD-1000M đa nhiên liệu[12] động cơ tuốc bin khí 1.200 mã lực (895 kW)[10] GTD-1000F (GTD-1250 dùng cho T-80U bản 1992) đa nhiện liệu[12] động cơ tuốc bin khí 1.100 mã lực (820 kW) (1.250 mã lực (932 kW) đối với GTD-1250)[10] 6TD twin-stroke, đa nhiên liệu, động cơ diesel 6 xi lanh làm mát bằng chất lỏng 1.006 mã lực (750 kW)[13]
Tốc độ
(cây số/giờ)
70 (đường nhựa)[12]
48 (đường gồ ghề)
65 (đường nhựa)[13]
45 (đường gồ ghề)[13]
Tầm hoạt động
(cây số)
500 (đường nhựa)
335 (đường gồ ghề)
600 (đường nhựa với bình nhiên liệu phụ)
500 km (đường nhựa)[12]
335 (đường gồ ghề)
900 (đường nhưạ với bình nhiên liệu phụ)[12]
580 km (đường nhựa)[13]
450 km (đường nhựa)[13]
Sức kéo
(mã lực/tấn (kW/tấn))
21.7 (16.2) 23.5 (17.6)
(25.9 (19.3) đối với T-80B bản 1980)
25.2 (18.8) 23.1 (17.2) 21.7 (16.1)
(24.7 (18.4) đối với T-80U bản 1992)
21.9 (16.3)
  • Obyekt 219: Việc thử nghiệm động cơ GTD-1000 đầu tiên được thực hiện trên thân xe T-64 với tên gọi Obiekt 219 sp.1 (sp là spetsifikatsiya, chi tiết), còn được gọi là Groza (Bão sấm). Trong suốt những lần thử nghiệm đầu tiên, Izotov than phiền rằng bộ phận chuyển động của T64 có thể hạn chế rất lớn tốc độ tiềm tàng của động cơ tua bin khí vì những bánh chịu lực và dải xích bằng kim loại bị rung lắc rất khủng khiếp khi xe chạy tốc độ cao. Vì vấn đề này, Obiekt được trang bị một hệ thống giảm sóc mới, nhưng nó vẫn chưa đạt được những tiêu chuẩn như của hệ thống giảm sóc của đối thủ T-72 từ Niszhni-Tagil. Phiên bản Obiekt 219 sp.2 đầu tiên với hệ thống giảm sóc mới được xuất xưởng năm 1971. Người ta đã chế tạo khoảng 60 xe tăng thử nghiệm được tiến hành từ 1968 đến 1971 nghiên cứu kết hợp rất nhiều hệ thống giảm sóc và linh kiện đi kèm. Vấn đề lọc bụi vẫn còn tồn tại, người ta khắc phục nó bằng cách sử dụng các diềm chắn cao su và nâmg cấp hệ thống lọc gió của động cơ. Năm 1973, đơn vị thử nghiệm giới thiệu một loại động cơ tua bin khí mới (để tăng cường khả năng cơ động của xe) có sức mạnh ngang bằng với T-64 nhưng động cơ này không đạt được yêu cầu thiết kế là 500 giờ hoạt động liên tục. Cuối 1972, chỉ 19 trên tổng số 27 động cơ được sản xuất hàng loạt đạt thời gian hoạt động khoảng 300 giờ. Trong những năm 1974-1975, tiểu đoàn thử nghiệm của Quân khu Volga than phiền rằng dù ngốn rất nhiều nhiên liệu như công suất hoạt động thực tế của động cơ lại quá thấp. Xe tăng mới cần bình xang phụ lớn để có thể đạt được tầm hoạt động cơ bản là 450 km. Ngay cả với phiên bản Obiekt 219 sp.8 mới nhất, lượng nhiên liệu tiêu vẫn thụ cao gấp 1.6 đến 1.8 lần so với T-64A. Nền công nghiệp xe tăng Xô Viết tiến lên rất chậm chạp, một phần lý do là việc giải quyết các vấn đề với các chương trình T-64 và T-72 trong khi vẫn phải sản xuất hàng loạt T-55 và T-62 sau khi Ai Cập va Syrya bất ngờ mất quá nhiều tăng vào năm 1973 trong cuộc hiến Yom Kippur. Tháng 11 năm 1975, Bộ trưởng bộ quốc phòng, nguyên soái Andrei Grechko đã bác bỏ kế hoạch đưa Obiekt 219 vào sản xuất dựa trên lý do, hao tốn nhiêu liệu gấp đôi T-64A nhưng khả năng giáp và hỏa lực không hề thay đổi. Obiekt 219 có thể đã rơi vào quên lãng như nhiều dự án thất bại khác nhưng tháng 4-1976, Grechko qua đời và Dmitry Ustinov được bổ nhiệm thay thế. Việc bổ nhiệm Ustinov là một trường hợp ngoại lệ đầu tiên trong truyền thống quân đội Xô Viết, Ustinov không phải là chỉ huy chiến trường, mà là người đứng đầu nền sản xuất quốc phòng Xô Viết kể từ thế chiến thứ 2. Ustinov là một trong những người ủng hộ hăng hái nhất việc chuyển đổi sử dụng động cơ tua bin khí thay từ giữa thập niên 60, và Obiekt 219 chính là đứa con cưng của ông ta. Kết quả đến khá nhanh, tháng 8 năm 1976, Obiekt 219 bất ngờ được chấp thuận được đưa vào sản xuất với tên T-80 do quân đội đặt.
  • T-80 (1976): Các vấn đề nổi cộm trong khi thử nghiệm được để sang một bên để được giải quyết khi sản xuất hàng loạt. Việc sản xuất T-80 bắt đầu tiến hành tại Leningrad(LKZ) thay thế cho T-64A. Đã từng có một kế hoạch chuyển đổi Nhà Máy Số 13 tại Omsk từ sản xuất T-55 thành sản xuất T-72, nhưng nó đã bị thay đổi, nhà máy cũng được chuyển sang sản xuất T80. Cuối cùng, Ustinov cũng đã lên kế hoạch chuyển nhà máy Kharkov sang sản xuất T-80. Ustinov không hề có hứng thú với T-72 chi phí thấp của Nizhni-Tagil nhưng công nhận sự cần thiết của một tùy chọn có tính kinh tế để thay thế các dòng xe tăng cũ hơn như T-54, cũng như là một sự huy động với giá rẻ trong trường hợp có chiến tranh. Nhưng Ustinov khẳng định sự ưu tiên hàng đầu trong đổi mới như hệ thống điều khiển hỏa lực mới được tích hợp trên T-80 chứ không phải cho T-72. Quyết định sản xuất T80 được đưa ra lúc Aleksandr Morozov về hưu tháng 5 năm 1976 và chương trình T-74 NST bị loại bỏ. Trên phiên bản gốc, T-80 được trang bị hỏa lực giống như T-64A, nó dùng đúng loại tháp pháo với máy đo xa quang học. Nhưng giá thành nó cực kì đắt: 480 000 rúp trong khi T-64A chỉ 143 000 rúp. Đối với việc điều khiển tháp pháp và hỏa lực, T-80 đã đi sau T-64 của Kharkov đã được nâng cấp thành T-64B với hệ thống điều khiển hỏa lực kết hợp một máy đo xa bằng laser và có khả năng phóng tên lửa điểu khiển Kobra từ năm 1976. Kết quả là việc sản xuất T-80 diễn ra rất ngắn, từ 1976 đến 1978 tại nhà máy Leningrad Kirov (LKZ). Tài liệu được giải mật từ Hiệp ước Các lực lượng vũ trang thông thường ở châu Âu tháng 11 năm 1990 cho thấy, chỉ khoảng 112 xe T-80 ở phía Tây dãy Ural, điều này chứng tỏ, tổng số lượng T-80 được sản xuất chỉ khoảng dưới 200 chiếc.
T-80B
  • T-80B (1978): Từ khi Ustinov quyết định chuyển việc sản xuất xe tăng T-80 thay cho các loại khác (trừ nhà máy Uralvagon ở Nizhni Tagil), việc nâng tiêu chuẩn cho hệ thống điều khiển hỏ lực lên chuẩn của T-64B trở nên rất cấp bách. Do sự cạnh tranh giữa cá nhà máy, Leningrad tỏ ra thích đưa các tính năng tiên tiến của T-64B vào T-80 hơn là dùng loại tháp pháo nguyên bản của Kharkov. Kobra là loại tên lửa chống tăng có điều khiển đầu tiên bắn qua nòng pháo được trang bị trong quân đội Xô Viết. Nó bắt đầu được phát triển từ năm 1960 vì sự ám ảnh của Khruschev với tên lửa và niềm tin của ông ta vào tương lai của việc trang bị tên lửa trên xe tăng. Đầu tiên, Xe tăng được trang bị tên lửa chống tăng thông thường, nhưng việc áp dụng điều này đã làm cho các nhà thiết kế đặt ra câu hỏi liệu có nên để một chiếc xe tăng mang ít tên lửa hơn mang đúng số lượng đạn dược thông thường. Thế hệ đầu tiên của tên lửa bắn qua nòng pháo không được chấp thuậ, và thế hệ tiếp theo được bắt đầu vào ngày 20 tháng 5 năm 1968 dựa trên cấu hình pháo D-81 Rapira 125mm. Tên lửa dẫn bắn bằng vô tuyến Kobra được phát triển bởi A.E.Nudeman của viện thiết kế Tochmash ở Matxcơva, trong khi loại dẫn đường bằng hồng ngoại là Gyurza được phát triển bởi.P.Nepobidimy của Viện Thiết Kế Công Nghiệp(Konstruktorskoye Biuro Mashinostroeniya: KBM) ở Koloma. Gyurza bị đánh giá là có thiết kế quá cấp tiến, vượt xa công nghệ tại thời điểm đó có thể hỗ trợ nên bị dừng lại vào tháng 1 năm 1971 và tập trung tất cả vào phát triển Kobra. Lần bắn thử đầu tiên của Kobra trên T-64A cải tiến được tiến hành vào tháng 2 năm 1971, và hệ thống 9K112 Kobra được đồng ý trang bị cho loại T-64B mới vào năm 1976. Tên lửa 9M112 được chia thành hai phần trong băng chuyền của hệ thống nạp đạn tự động, phần phía trước mang đầu đạn và động cơ đẩy, phần đuôi mang hệ thống điều khiển bay và bộ vận dẫn đường cùng với ống phóng 9D129 dùng để tống tên lửa ra khỏi nòng. Khi tên lửa được đưa vào nòng bằng hệ thống nạp đạn tự động, cả hai phần sẽ được nối với nhau, tầm bắn hiệu quả của Kobra là 4 km đối với mục tiêu xe tăng, và 5 km với mục tiêu là máy bay trực thăng bay cao dưới 500m (nhưng phải bắn trong chế độ bắn đặc biệt). Hệ thống điều khiển tên lửa dùng 2 tầng số điều khiển từ ăng ten chỉ huy GTN-12 nằm trong một hộp bảo vệ đặt bên phải của mặt trước tháp pháo. Vì giá tên lửa rất cao nên mỗi xe tăng chỉ được trang bị vài tên lửa, thông thường mỗi xe có 4 tên lửa trong tình trạng chiến đấu. Năm 1975, giá mỗi tên lửa Kobra là 5000 rúp (thời điểm đó, một động cơ xe tăng chạy dầu diesel giá chỉ 9000 rúp). Thập niên 90, hệ thống tên lửa Kobra được nâng cấp lên tên lửa 9M128 Agona có đầu đạn xuyên 600 đến 650mm giáp. Phiên bản Obiekt 219R được nâng cấp thế hệ giáp tấm mới nhất của Liên bang Xô Viết lúc bấy giờ trên tháp pháo với tên gọi "Tổ hợp K", được cấu tạo từ một khoang trong lớp giáp thép đúc ở mặt trước tháp pháo với các que gốm từ loại sứ siêu bền (ultrafarforov) kết dính lại. Kiểu giáp tấm thế hệ 3 này là cuộc cách mạng của thế hệ giáp tấm, phát triển bởi Học viện Nghiên Cứu Khoa Học Thép (Nauchno Ispytatielniy Institut Stali: NII Stali), hai thế hệ đầu trên T-64 sử sụng nhôm trong khoang chứa, sau đó dùng các viên sứ kết dính bằng chất kết dính kim loại. Tổ hợp K cho khả năng bảo vệ tương đương 550mm thép ở mặt trước tháp pháo. Dốc nghiêng trước sử dụng một loại thép tấm khác bao gồm 80mm giáp thép, tiếp phía sau là 105m nhựa gia cố thủy tinh, sau là 20mm giáp thép, có khả năng bảo vệ tương đương 500mm thép bao gồm cả độ dốc. Tất cả các loại giáp composite này đều nhằm mục đích bảo vệ xe tốt hơn khi so sánh với các loại giáp thông thường khi chống lại các loại đạn chống tăng đầu nổ lõm (HEAT). Obiekt 219R được chấp thuận đưa vào trang bị của quân đội Xô Viết với tên gọi T-80B và bắt đầu được sản xuất tại nhà máy Leningrad Kirov (LKZ) cùng năm đó để thay thế cho dòng T-80. Nhà máy Omsk bắt đầu sản xuất T-80B năm 1979, thay thế cho việc sản xuất T-55 xuất khẩu.Nhà máy Omsk đồng thời được chỉ định phát triển Obiekt 630, phiên bản xe chỉ huy của T-80B, T-80BK. Phiên bản xe chỉ huy được tích hợp thêm hệ thống định vị mặt đất ăng ten chỉ huy. T-80B trở thành dòng xe thông dụng nhất trong các dòng sản phẩm T-80, và là phiên bản đầu tiên được quyết định trang bị cho các lực lượng Xô Viết đóng tại Đức (GSFG) năm 1981. NATO lần đầu tiên thấy T-80B tiến vào Đức tháng 4 năm 1983 gần Halle, là xe của Trung đoàn xe tăng số 29 thuộc sư đoàn tăng số 9, tập đoàn quân xe tăng cận vệ số 1 và các đơn vị của Tập đoàn quân xe tăng cận vệ số 8 vào năm 1984. Năm 1985, mỗi sư đoàn của tập đoàn quân xe tăng cận vệ số 1 và số 8 nhận thêm một ít T-80B. Theo tài liệu giải mật của Hiệp ước Các lực lượng vũ trang thông thường ở châu Âu tháng 11 năm 1990, có 3518 T-80B và 217 T-80BK chỉ huy phục vụ phía Tây dãy Ural, 217 T-80BK chỉ huy, cộng thêm 617 xe được nâng cấp lên chuẩn T-80BV, tổng cộng có khoảng 4352 xe, chiếm 90% toàn số lượng T-80. Có rất ít T-80 đóng ở phía Đông dãy Ural, ngoại trừ số lượng nằm tại Omsk trong các kho dự trữ và các trường tập lái.
T-80BV
    • T-80BV (1986): Trong suốt cuộc chiến tại Liban năm 1982, lần đầu tiên trong lịch sử Israel sử dụng tăng lắp giáp phản ứng nổ (ERA). Thế hệ ERA đầu tiên được thiết kế để vô hiệu hóa đầu đạn nổ lõm. Đầu đạn nổ lõm khác đầu đạn thông thường ở chỗ, nó định hình thuốc nổ trong một hình chóp nón trước đầu đạn. Khi đầu đạn chạm nổ, khối thuốc nổ sẽ phá vỡ chóp nón kim loại, tạo một thành luồng nổ hình mũi tên có hạt nhân thép bên trong, đâm xuyên qua các lớp giáp thép thông thường. Viên gạch ERA là gồm một hộp kim loại đặt tại những góc mà xe hay trúng đạn nhất. Nhân bên trong bao gồm thuốc nổ dẻo và các miếng thép. Khi đầu đạn HEAT chạm vào ERA, thuốc nổ dẻo bên trong phát nổ, đưa các miếng thép ra trước luồng xuyên của đầu đạn lõm, làm giảm ảnh hưởng của đầu đạn. Học viện nghiên cứu NII Stali đã phát triển loại giáp này từ thập niên 60 nhưng nó không được ưa chuộng và không được sử dụng. Sự xuất hiện của loại Blazer ERA của Israel năm 1982 đã làm quân đội Xô Viết chú ý và quyết định trang bị nó cho xe tăng chủ lực Xô Viết. Đặc biệt là lực lượng đồn trú tại Đức (GSFG). ERA của NII Stali được mật danh là "Kontakt" và đưa vào trang bị thế hệ đầu tiên 4S20. NII Stali ước tính giáp Kontakt có thể giảm thiệt hại đến khoảng 86% từ đầu đạn tên lửa 125mm, 58% với đạn HEAT, và 92% với đạn hỏa tiễn chống tăng hạng nhẹ (LAW-93mm). Kontakt nhẹ hơn Blazer của Israel và NII Stali nâng hiệu quả cao hơn 15%. Kontakt bắt đầu được trang bị trên xe tăng Xô Viết năm 1983 và được trang bị cho lực lượng đồn trú tại Đức năm 1984. Năm 1985, Leningrad Kirov bắt đầu sản xuất T-80B với giáp Kontakt, đặt tên là T-80BV (Obiekt 219RV), phiên bản xe tăng chỉ huy tên là T-80BVK. Kí tự V thêm vào để chỉ từ "Nổ" (vyzryvnoi). Trong thời gian bảo trì định kì, những chiếc xe cũ được lắp thêm các khối Kontakt. Theo tài liệu giải mật của Hiệp ước Các lực lượng vũ trang thông thường ở châu Âu tháng 11 năm 1990, có khoảng 594 T-80BV và 23 T-80BVK phục vụ phía Tây dãy Ural, chiếm khoảng 13% số lượng T-80. Xe T-80 BV được trang bị cho các sư đoàn ở tuyến đầu, trong đó có các sư đoàn thuộc tập đoàn quân Phương Bắc đóng tại BaLan, gồm sư đoàn Súng trường Cơ Giới Cận Vệ Vitebsk ở Paromenia và sư đoàn xe tăng số 20 Zvenigorod đóng tại Silesia. Trong ảnh là T-80BV trong cuộc tập trân của tập đoàn quân Phương Bắc tại Ba Lan, có thể thấy, trong thời bình, giáp Kontakt không được gắn diềm hai bên hông xe, mà chỉ gắn ở tháp pháo.
  • T-80A (1982): động cơ GTD-1000M 1200 mã lực, hệ thống 9K119 điều khiển bắn ATGM 9M119M Refleks, một số chốt trục cho đại liên phòng không NVST,... T-80 A chứa nhiều đạn hơn T-80B (40 so với 38). Có một số chi tiết của T-80U tương lai: giáp tốt hơn, hệ thống điều khiển bắn mới, thiết bị ngắm 1G46 của pháo thủ. Vì vậy T-80A nặng hơn 2,8 tấn. Năm 1984 dùng gạch ERA giống T-80BV (nhưng không có thiết bị điều khiển bắn trên nóc tháp pháo).
T-80U
  • T-80U (Uluschenniy) (1986): bản nâng cấp của T-80A. Trang bị gạch ERA Kontakt-5 chống được đạn động năng (một số bản cũ vẫn dùng Kontakt-1). Thiết bị ngắm 1G46, tháp pháo mới, động cơ GTD-1000F 1200 mã lực. Hệ thống 9K120 điều khiển 9M119M Refleks và 9M119 Svir. Đại liên phòng không NVST được điều khiển từ xa trong tháp pháo giống như T-64. kênh tăng cường hình ảnh thay cho đèn hồng ngoại ở nóc tháp pháo dành cho xa trưởng. Thiết bị chỉ định laser đặt ở nóc xe, phía trước chỗ của xa trưởng và nằm trong một cái hộp bảo vệ hình chữ nhật. Nó phóng ra một chùm laser đã được điều chỉnh. Váy bảo vệ hông được bọc giáp ở phần che phủ 3 bánh trước và có tay cầm để nhấc lên. Váy trước có giáp chống sóng ra-đa. Các núm cao su ở trước xe chống lại mìn (loại có ngòi nổ tay đòn nghiêng tilt-rod fuse) và đạn HEAT. Nóc tháp pháo có thêm lớp bảo vệ. Ghế lái xe được treo lên nóc để tránh mìn. Hai cụm ống xả khói mù 81 ly 902B Tucha nằm hai bên tháp pháo. Có những họa tiết ngụy trang. Năm 1992 có thêm ống thông hơi "Brod-M" và động cơ mới GTD-1250D.
T-80UK
    • T-80UK: Xe tăng chỉ huy T-80UK có thêm khả năng chỉ huy và kiểm soát trên chiến trường và có đường liên lạc lên cấp chỉ huy cao hơn. Nó tương tự như T-80U nhưng có một số tính năng phụ trợ. Nó được lắp bộ đối phó Shtora-1 cùng loại được lắp cho loại T-90. Shtora-1 do Electronintorg của Nga sản xuất. Hệ thống này gồm máy nhiễu âm hồng ngoại, hệ thống cảnh báo laser, hệ thống vô hiệu hoá lựu đạn và một hệ thống kiểm soát bắn computer. Tầm hoạt động 200m. Xe có một ăng ten tích hợp lưỡng cực đối xứng dùng được cho thông tin trên cả băng tần UHF và HF. Ăng ten này có tầm hoạt động tốt hơn khi xe đứng yên – lên tới 40 km cho sóng vô tuyến R-163-50U và 350 km cho sóng vô tuyến R-163-50K. Một máy phát điện chạy bằng benzene AB-1-P28 1 kW cung cấp năng lượng cho hệ thống thông tin khi xe đứng yên. T-80UK cũng có một hệ thống kiểm soát bắn hiện đại, nạp đạn tự động, bảo vệ tháp pháo ERA gắn liền và hỗ trợ lội nước TNA-4-3.
    • T-80UM: hệ thống điều khiển bắn mới đối với tên lửa 9M119M Refleks, thiết bị nhìn hồng ngoại "Agava-M1" (có thể "Agava-2" hoặc "Buran-R") thay cho L-4 "Luna".
      • T-80UM1 "Bars" (báo tuyết): mẫu thử nghiệm năm 1997 với hệ thống phòng thủ chủ động mới Zaloga 2000:4.
      • T-80UM2: xem xe tăng Black Eagle
  • T-80UD "Beryoza" (1985): Mẫu T-80 của Uy Kiên với động cơ diesel 6TD 1006 mã lực (750 kW). Dùng gạch ERA Kontakt-1 hoặc Kontakt-5.
    • T-84 (1994): Xem T-84.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ David Axe, "By Land, Air, Sea & PC, Georgia Tried to Match Russian Arsenal", in Popular Mechanics, August 13, 2008.
  2. ^ Foss 2005, p.89.
  3. ^ a ă Foss 2005, p. 94.
  4. ^ Dejong 1995
  5. ^ a ă â b c d đ e ê g h Foss 2005, p. 93.
  6. ^ T-80 Standard Tank, p14-24.
  7. ^ a ă Baryatinsky, p 95.
  8. ^ "T-80U Main Battle Tank" Army Technology
  9. ^ Baryatinsky, p 23.
  10. ^ a ă â b c d đ e "Czołgi Świata" (World's Tanks or Tanks Of The World) magazine issue 8
  11. ^ "JED The Military Equipment Directory"
  12. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Gary.27s_Combat_Vehicle_Reference_Guide
  13. ^ a ă â b c d đ e ê g h i "Kharkiv Morozov Machine Building Design Bureau", manufacturer's website

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

http://www.pancerni.abajt.pl/index.php?option=com_content&task=view&id=60&Itemid=72&limit=1&limitstart=1