Súng chống tăng B41

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Súng phản lực diệt tăng B41 có lắp thêm ống kính quang học có thiết bị ngắm bắn ban đêm

RPG-7 là một loại súng chống tăng không giật dùng cá nhân, còn được gọi tại Việt NamB41. Gọi là B41 vì súng là đời sau của B40 (hay bazooka 40 mm), dù cho nó vẫn gọi là B41.

Trong tiếng Nga súng này có tên là ручной противотанковый гранатомёт, viết tắt là RPG-7 (РПГ-7), có nghĩa là "súng phóng lựu chống tăng xách tay" [1](nhưng một số người lại cho đó là viết tắt của реактивный противотанковый гранатомёт, tức "súng phóng lựu chống tăng phản lực"). Thuật ngữ quân sự trong tiếng Anhanti tank rocket launcher (có nghĩa là "súng phóng tên lửa chống tăng"), tuy nhiên, B40 dùng kỹ thuật tên lửa rất ít, chỉ đến B41 thì kỹ thuật này mới đóng vai trò lớn trong đẩy đạn.[2]

Sử dụng thực tế[sửa | sửa mã nguồn]

Lính Ba Lan đang luyện tập với súng diệt tăng B41

Ra đời[sửa | sửa mã nguồn]

B41 được sử dụng rộng rãi trong Chiến tranh Việt Nam từ đầu thập niên 1970. Phiên bản của Liên Xô sử dụng trong thời này còn được gọi là RPG-7V do sử dụng đạn PG-7V. RPG-7V ban đầu trang bị cho tổ chiến đấu AT-3 của Liên Xô.

RPG-7 được đưa vào trang bị năm 1959, sau đó, năm 1961 phiên bản đạn PG-7V được dùng phổ biến. B41 là khẩu súng RPG thành công nhất trong số các súng chống tăng cá nhân.

Uy lực[sửa | sửa mã nguồn]

Cho đến khi nó được thay thế ở Liên Xô vào thập niên 198x thì không một xe tăng nào của NATO chống lại được nó, kể cả các xe tăng hạng nặng[cần dẫn nguồn]. Loại xe tăng duy nhất lúc đó có một vài điểm chống đã được B41 là các xe tăng hạng nặng Is-3 đến Is-10 của Liên Xô, sau này hậu duệ của chúng là các xe tăng chiến đấu chủ lực.

Các xe tăng phổ biến của Mỹ hiện nay như M1A1, M1A2 chỉ đỡ được đạn B41 thường PG-7V ở một vài điểm trên mặt trước (là nơi giáp dày nhất), chưa tính đến đạn hạng nặng 105mm PG-7VR[cần dẫn nguồn]. Còn hai sườn và phía sau thì thậm chí đạn B41 bị kích nổ sớm cũng làm thủng. Trước đây, Đức thiết kế cho Mỹ xe MBT-70 khá tốt, với các thiết bị bố trí khéo léo thành giáp hộp chống đỡ B-41 khá hiệu quả. Nhưng giá thành đắt và Mỹ thiết kế lại thành M1, thay giáp đúc bằng giáp hàn và bỏ các giáp hộp phụ đi. Phần chống đỡ B41 khá tốt của M1 là xích với giáp diềm dày 70mm. Tuy nhiên khi bị B41 bắn trúng xích, mặc dù xe không bị cháy ngay nhưng đứt xích, xe sẽ phải đứng yên và rất dễ bị bắn tiếp.

Leopard-2 các phiên bản A4 trở lên đều có các giáp hộp phía trước rất tốt. Tuy nhiên, cũng còn nhiều điểm sơ hở mà B-41 có thể công phá, ví dụ hai sườn sau tháp pháo, sau xe...

Giáp hộp được thiết kế cho xe tăng Liên Xô từ T-64, nó cũng không dùng giáp hộp rỗng mà điền đầy khoảng trống bằng vật liệu composite đặc biệt, gồm nhựa và thép. Tuy nhiên, T-64 khá nhẹ. T-72 có các góc nghiêng tốt, giáp dày... và sau này lắp thêm các phương tiện khác như ERA, APS nên chống đỡ đạn B41 tốt. Kết quả được thể hiện rõ trong các chiến tranh Afghan và Chechnya, rất ít xe thế hệ T-72 hoặc T-80 cháy, kể cả khi quân Chechnya bắn cấp tập[cần dẫn nguồn]. Trong chiến tranh Chechnya lần thứ nhất, quân Nga thua rút lui, thiệt hại 62 xe tăng các loại, nhưng chỉ một chiếc T-80 có ERA bị bắn hỏng khi trúng liên tiếp nhiều quả đạn, làm bong hết ERA.

Để chống lại xe tăng hiện đại có trang bị ERA, B41 cũng có những phiên bản đạn hạng nặng 105mm tăng sức xuyên, nhưng bù lại tầm bắn hiệu quả tụt xuống do đạn nặng hơn.

Ở cự ly xa, đạn B-41 bị lệch gió khá lớn. Một nghiên cứu của Trung tâm Đào tạo và Học thuyết chỉ huy quân sự của Quân đội Mĩ (TRADOC) vào năm 1975 đã cho thấy, ở cự li 500m bắn vào một bảng có kích thước 2,28 x 4,57 m bằng súng RPG-7 có xác suất trúng chỉ khoảng 4%, ở cự ly 200 mét thì xác suất trúng đích là 49%.[3]

Một số cách biên chế B41[sửa | sửa mã nguồn]

Cảnh sát Afganistan bắn súng B41. Quầng lửa phụt ra từ đuôi ống phóng. Người lính đứng bên phải bịt tai lại để tránh âm thanh cường độ lớn phát ra khi bắn.

Xe BMP-1 có các ổ bắn trên nóc như là công sự, sử dụng B41 và đạn tự hành chống máy bay vác vai. Một tiểu đội bộ binh cơ giới đi xe Liên Xô có một khẩu, đi xe bọc thép thì không cố định, có thể có đến 3 khẩu trên xe nhưng mỗi lính vẫn có một khẩu AK hay RPK. Thông thường B41 được lính Liên Xô dùng như súng trung đội. Mỗi tiểu đội bộ binh Liên Xô có 9 người, nếu cơ giới thì có thể có đến 11 người. Liên Xô và các nước Đông Âu trong huấn luyện còn có kiểu tổ chức tổ 3 người, mỗi người mang một AK, một người mang thêm đạn cho B41 và một người mang thêm một súng, tạo thành tổ săn tăng. Mỗi tiểu đội bộ binh Việt Nam thông thường mang ba súng mạnh, gồm trung liên và B41. Trong Chiến tranh Iran-Iraq, tiểu đội Iran 11 người mang 2 B41. Trong Chiến tranh Afghanistan, tiểu đội Mujahideen 10-12 người mang 1 khẩu (năm 1983) và tăng lên 2-3 khẩu (năm 1987). Trong Chiến tranh Việt Nam có những trận đánh với tổ 3 người mang 2 khẩu B41 và AK-47, bám sát đội hình xe địch, có những trận đánh cả tiểu đoàn biên chế như vậy, tạo thành hỏa lực chống tăng đáng sợ. Mujahideen thành lập những trung đội B41 mang đến 15 khẩu (từ 50% đến 80% lính mang B41), tạo thành đội săn tăng.

Cách biên chế phổ biến nhất ở Liên Xô[sửa | sửa mã nguồn]

Trang bị thông thường nhất của B41 là tổ chiến đấu 2 người. Tổ chiến đấu B41 2 người này mang mỗi người một ba lô đạn B41 ba viên và ba liều phóng, xạ thủ chính mang B41, xạ thủ phụ mang AK. Tộng cộng tổ mang được 6 viên B41, xạ thủ phụ cảnh giới cho xạ thủ chính diệt tăng, luôn đi bên cạnh, khi chiến đấu ở bên trái ngang xạ thủ. Ở Việt Nam, tổ này nằm trong tiểu đội, cùng với tiểu đội trưởng tạo thành tổ 3 người hỏa lực mạnh. Trong các trận đánh tiến công lớn, có thể tổ chức như Liên Xô, dồn trung liên và B41 về thành một tổ do trung đội trưởng chỉ huy. Xạ thủ phụ còn có nhiệm vụ giúp xạ thủ nạp đạn, tăng tốc độ bắn đến 6 phát phút.

Trung Quốc dùng kiểu súng họ sản xuất giống B41[sửa | sửa mã nguồn]

Trung Quốc tổ chức tổ dùng Type-69-1 ba người, mang 12 đạn.

Biên chế đạn tự hành chống tăng có điều khiển B-72[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài bộ binh, súng là một bộ phận của tổ chiến đấu dùng đạn tự hành chống tăng có điều khiển "Bé con" 9М14 Malyutka "Малютка" (tên phương Tây AT-3, tên Việt Nam B-72), đạn tự hành này không thể chiến đấu ở tầm gần, B-41 bù vào đó. Tổ chiến đấu "Bé Con" tạo ra một cuộc cách mạng trong kỹ thuật quân sự, đưa tầm tiêu diệt thiết giáp hạng nặng của bộ binh đi bộ vượt qua xe tăng. Lần đầu tiên tổ chiến dấu "Bé Con" áp dụng ở Việt Nam năm 1972, Việt Nam Cộng hòa đồn là quân Giải phóng có đạn biết ngửi (xem Trận Đắk Tô - Tân Cảnh, 1972). Tháng 10 năm 1973, B-41 và B-72 thực hiện một trận thắng trên bán đảo Sinai, diệt 800 xe Israel (gần như toàn bộ), bắt sống chỉ huy xe tăng Israel (xem Trận Sinai tháng 10-1973,[cần dẫn nguồn] (Ảnh bên, kết hợp B41 và các hỏa lực khác)

Sử dụng, sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

B41 là súng RPG phổ biến nhất thế giới, ít nhất 50 nước sử dụng, có mặt trong hầu hết những cuộc chiến tranh và xung đột từ khi nó ra đời. B41 cùng với B40, ĐKZ 82 mm và ĐKZ 75 mm tạo thành nhóm súng diệt nhiều xe cộ nhất sau Thế chiến thứ hai. Súng này được rất nhiều nước sản xuất, kể cả có được phép bản quyền hay không. Kể cả những nước không thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa như Pakisstan, Iran, Iraq. B41 cũng có nhiều phiên bản giống hệt nhưng khác tên, cải tiến khác chút ít. Type-69 của Trung Quốc không là B41 nhưng vẫn được nhầm là B41. B41 do Việt Nam sản xuất có tên B41 GIẢI PHÓNG, vẫn còn trưng bầy ở Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam tại Hà Nội.

Súng[sửa | sửa mã nguồn]

B41 (trên) so với B40 (dưới).

B41 sử dụng nguyên lý phóng khí động cân bằng, hoàn toàn khác phương pháp phóng của B40. Đầu đạn của B41 cũng có những cải tiến khác xa B40. Phương pháp khí động là phương pháp dùng các tuye thay đổi tốc độ áp suất dòng khí.

B41 có đường kính trong 40 mm, cỡ đạn to hơn cỡ nòng, đạn chỉ nhồi chuôi vào nòng súng. Giữa thân súng phình to ra thành một buồng rộng, đây là buồng đốt, chứa liều phóng, Việc tạo thành buồng đốt này sẽ đẩy súng về phía trước, nhưng lực này được cân bằng bởi lỗ thoát khí và tuye sau. Chỗ phình ra của nòng có ốp lót gỗ dán (về sau thay bằng nhựa tổng hợp) chống nóng vai xạ thủ. Súng có hai tay cầm, với người thuận bên phải thì tay phải đặt trước, trái sau.

Súng có kim hỏa, cò bấm giống B40. Cũng có lò xo đẩy kim hỏa về không cản trở đạn di chuyển.

Cấu tạo của B41 làm cho áp suất không tăng quá nhanh như B40. Khi áp suất cao, cấu tạo tuye xoáy trong nòng của đạn làm áp suất đồng đều và giảm chậm. Tuye sau súng làm giảm chiều dài súng. Nhờ áp suất tăng chậm nên dùng được liều phóng thuốc súng không khói, có năng lực mạnh hơn thuốc nổ đen của B40, nhồi cũng nhiều hơn. Nhờ cấu tạo này, sơ tốc đạn lớn nhưng tiếng nổ trầm do áp suất tăng giảm chậm. Tuy trầm, nhưng chấn động tiếng nổ đầu nòng rất mạnh và nguy hiểm.

B41 dài 953 mm khi không đạn và 1,340 mét với đạn RPG-7. Súng ban đầu nặng 7,9 kg, đạn PG-7 nặng 2,25 kg. RPG-7D là súng gọn nhẹ cho lính đổ bộ đường không, súng có nòng sau (phần có tuye sau) tháo ra được lắp vào bộ gá dưới buồng đốt, khi sử dụng cắm vào phần còn lại, các súng hiện đại nhẹ hơn.

Kính ngắm, thước ngắm[sửa | sửa mã nguồn]

Súngkính ngắm PGO-7, kính ngắm PGO-7V1 có thêm vạch chia cho đạn hạng nặng, kính nhìn đêm, phóng to 2,7 lần. Kính ngắm thường (không nhìn đêm) có một đèn nhỏ chiếu sáng thước ngắm quang trong kính, thước ngắm này kẻ ô chia dộ tỷ mỉ cao và rộng, thuận lợi khi tính toán bắn mục tiêu di động, bù gió, bù cao độ, bù tầm..., các vạch chia này cũng thuận lợi cho bắn viên thứ 2, căn cứ vào độ lệch viên trước. Trên lưới chia độ còn một thước đo độ xa dùng rất thuận tiện. Thước này xác định độ xa của xe tăng thông qua chiều cao ảnh của xe. Thước này dùng kiểu xe tăng có chiều cao 2,7 mét làm chuẩn (mẫu xe tăng Đức, phổ biến ở phương Tây). Kiểu 69-1 của Trung Quốc bổ sung một thước ngắm dùng độ cao của xe do Nga sản xuất làm chuẩn. Tầm xa ghi trên thước là 500 mét, sau cải tiến lên 600 mét. Máy ngắm quang học của RPG-7 đặt trong một túi vải bạt, khi dùng lắp vào trên súng.

Các thiết bị ngắm đêm đã sản xuất có NSP-3, NSP-2(tia hồng ngoại), NSPU, PGN-1(II), IPN58 (II). Từ kính RPG-7V trở đi, các thiết bị này kiêm thêm cả chức năng đo xa và tăng khả năng nhìn đêm. Kính nhìn đêm lớn PNG-1 trang bị cho quân Ả Rập cho phép nhìn xa tới hơn 400 mét.

Súng cũng có một bộ thước ngắm-đầu ruồi kim loại gập xuống được như của B40, do tầm xa cần chính xác hơn nên thước này làm vững chắc, không mỏng manh như của B40. Đầu ngắm có 2 chế độ: bắn ở nhiệt độ trên và dưới 0 độ c. Thước ngắm di chuyển được dọc thang, chứ không làm cố định như B40.

Đạn[sửa | sửa mã nguồn]

Một vài loại đạn[sửa | sửa mã nguồn]

Súng ban đầu bắn đạn PG-7, sau đó có các đạn PG-7V, PG-7VM, PG-7VL, PG-7VR, TBG-7V là các đạn xuyên phá (HEAT). Đạn OG-7, OG-7A nổ phá sát thương (APER, nhưng phương Tây thường cho là đạn HE. APER là đạn nhồi một ít thuốc nổ mạnh, chủ yếu khối lượng là mảnh sát thương, còn HE là đạn nhiều thuốc nổ để phá công trình). Ngoài ra còn có đạn cháy, đạn khói.

Một số loại đạn B41:
tên đạn PG-7V PG-7VL PG-7VR TBG-7V OG-7V
Năm đưa vào sử dụng 1961 1977 1988 1988 1999
cỡ đầu dạn, mm 85 93 64 / 105 105 40
khối lượng đầu đạn, kg 2,2 2,6 4,5 4,5 2,0
tầm bắn hiệu quả mục tiêu cố định, mét 500 500 200 200 350
tầm bắn hiệu quả mục tiêu di động ngang, mét 250 350 200 200 350
Xuyên giáp, mm 260 500 ERA + 600-700 - -

Đạn chuyển động trong nòng[sửa | sửa mã nguồn]

Đạn PG-7 bắn ra khỏi đầu nòng với sơ tốc 115 m/s, đạn gồm 2 phần, liều phóng và đầu đạn. Cũng như B40, liều phóng được lắp vào đầu đạn trước khi lắp đạn vào súng. Đạn có 4 cánh gập ngược lên phía trước chứ không cuộn quanh thân đạn như B40, khi bắn ra khỏi nòng các cánh này xòe ra. Liều phóng có một lõi cứng, đằng sau lõi này là một turbine xoắn, điều này làm đạn xoáy rất mạnh ngay từ trong nòng súng.

Sơ tốc (cả xoáy và chuyển động thẳng) của đạn làm súng có độ chính xác cao, thuận tiện cho nhiệm vụ bắn mục tiêu di động. Thực ra, các súng không giật có thể có tầm rất xa (như các đạn M-13 của BM-13 Katyusha). Nhưng để chống tăng chỉ cần độ chính xác, điều này hạn chế tầm bắn hiệu quả, giảm rất nhiều so với tầm bắn tối đa.

Tên lửa[sửa | sửa mã nguồn]

Đồ thị thời gian bay của đạn PG-7

Sau khi ra khỏi nòng 11 mét, động cơ tên lửa hoạt động, đẩy đạn PG-7 lên đến vận tốc 295 m/s. Đến 900 mét, đạn tự hủy bằng ngòi cháy chậm, nếu ngòi này không làm việc, đạn bay đến 1100 mét. Động cơ tên lửa khởi động chậm tránh xạ thủ dính vào luồng phụt.

Tên lửa của đạn có một vị trí đặc biệt, tạo hiệu quả lớn. Tên lửa nằm trên chuôi đạn, nhưng khí cháy lộn lên trước rồi lại lộn về qua 6 tuye ở cổ đạn, cách bố trí này làm áp suất thay đổi nhiều lần, tuye ngắn nhưng hiệu quả như tuye dài, diện tích miệng tuye lớn. Cánh đuôi và tuye đều đặt nghiêng thích hợp với đạn xoay. Chính tên lửa đẩy mạnh đã làm RPG-7 khác hẳn các đời trước.

Liều phóng và tên lửa đẩy đều làm bằng hỗn hợp thành phần chính thuốc súng không khói. Khi bắn, súng có một chút ít khói xanh, hầu như không thể phát hiện ban ngày, không như B40 dùng thuốc nổ đen nhiều khói.

Đạn PG-7V có sơ tốc đầu nòng 127 m/s, đạn PG-7VM có sơ tốc 140 m/s. Đạn PG-7 có tầm hiệu quả 250 mét, các đạn PG-7VM có tầm bắn hiệu quả với mục tiêu di động 350 mét, mục tiêu cố định 500 mét. Đạn hạng nặng PG-7VR tầm hiệu quả 200 mét. Khi tầm quá 200 mét, tốc độ gió trên 20 km/h, đạn bị ảnh hưởng khá nhiều bởi sức gió. Người bắn sử dụng thước ngắm chia vạch để xác định độ lệch phát bắn, điều đó đòi hỏi được huấn luyện kỹ càng. Đạn lệch về phía đầu nguồn gió.

Hình bên thể hiện đồ thị thời gian bay của đầu đạn, tốc độ cao và nặng như viên đạn đại bác nhỏ, đảm bảo bắn chính xác ở xa.

Đầu nổ lõm[sửa | sửa mã nguồn]

Sơ đồ đầu nổ lõm của B41
B41 xuyên bằng ống chụm

Đầu nổ của các đạn xuyên PG-7, PG-7V, PG-7VM, PG7VR dùng thuốc nổ mạnh, nhưng cơ chế nổ lõm gần giống B40, là góc mở rộng có lót tấm tích năng lượng. Liều nổ của B41 có góc mở hẹp hơn của B40. Liều này được điểm hỏa chính xác bằng ngòi nổ điện, đầu viên đạn có bộ phận sinh điện, bộ phận này kích ngòi nổ điện nằm ở cổ đạn, sức nổ dược trạm truyền nổ truyền đến thuốc nổ chính. Phía sau liều nổ lõm có tấm chắn sức nổ, tạo thuận lợi cho việc làm dài liều nổ, sức xuyên mạnh hơn, tập trung về phía trước, ít bị ảnh hưởng của góc chạm hơn.

Đạn PG-7VR hai tầng, tầng đầu công phá ERA, tầng tiếp theo phá giáp chính. Đây là đạn hiện đại hóa chống giáp hiện đại.

Đạn có mũ chụp rất vững, mũ này có những cạnh thép sắc, giúp đạn di qua những vật cản như lưới thép, bao cát, tường mềm trước khi va vào giáp cứng. Kiểu liều nổ lõm cũng được cải tiến lớn. Đạn có thêm phía trong mũ chụp một vách dẫn luồng có hình dạng đặc biệt (xem ảnh), dẫn luồng này làm luồng đạn hội tụ trong điểm rất nhỏ, tăng khả năng xuyên. Ống chụm này cùng chụp tạo thành mũ rất chắc.

Sức xuyên của PG-7V khoảng 270mm thép cán theo cách tính Nga, nhưng các tài liệu phương Tây thường ghi 330mm hoặc 350mm theo phương pháp thử nghiệm của họ (phương Tây lấy góc chạm đứng, người Nga gọi đó là khả năng xuyên lớn nhất). Đạn PG-7VL xuyên 500mm, các đạn PG-7VR hai tầng xuyên 600mm vượt qua giáp phản ứng nổ ERA chỉ bằng một phát bắn.

Ngòi và truyền nổ[sửa | sửa mã nguồn]

Khi mũ chụp bị phá hủy, điện phát sinh kích nổ đạn rất chính xác. Đây là phương án hết sức ưu việt nếu so với các vũ khí cùng chức năng khác truyền nổ bằng dây truyền nổ, trạm truyền nổ, thanh truyền lực kích nổ, đạn (một viên đạn bắn từ ngòi vào kích nổ chính)... xuất phát từ kim hỏa-hạt nổ. Thời điểm điểm nỏ chính xác của ngòi dùng tinh thể áp điện đến một phần vạn giây, so với các ngòi dùng kim hỏa-hạt nổ chỉ một phần vài chục giây. Nhờ thế, khoảng cách phát nổ của B41 đạt chính xác tới cỡ vài cm.

Chính ngòi nổ điện này cùng các đặc điểm khác làm đạn B41 có xác suất diệt mục tiêu cao, không phụ thuộc vào các điều kiện dễ gặp như lưới B40, bao cát, ít phục thuộc vào góc chạm.

Trạm truyền nổ của B41 thừa kế kỹ thuật của B40. Phản ứng nổ bắn đầu từ tâm một chữ U, truyền qua cạnh chữ U này vào giữa cạnh V của đầu lõm, nhờ đó toàn bộ đầu lõm phát nổ đồng đều. Hàng chục năm sau người Đức mới chế tạo các Panzerfaust có trạm truyền nổ tương tự, vào thập niên 199x, khi Liên Xô đổ và kỹ thuật thất thoát.

PUS-7 (ПУС-7) là đạn huấn luyện.

Bắn[sửa | sửa mã nguồn]

Súng có thể đứng bắn, nằm bắn, quỳ bắn. Khi bắn, xạ thủ phải tránh hình chóp góc 30 độ sau súng.

Không có tường cản trong vòng 2 mét sau súng.

Có thể bắn trong phòng vài trăm mét khối.

Trước khi bắn, xạ thủ phải xác định hướng gió và tốc độ gió, hướng di chuyển và tốc độ mục tiêu.

Sau dó thực hiện đo xa, nếu mục tiêu đủ gần thì không bù gió.

Bù gió và bù tốc độ mục tiêu.

Bắn nhưng giữ nguyên súng, quan sát độ lệch đạn nếu trượt.

Bắn tiếp có bù độ lệch.

Súng không tạo khói như B40 nên rất khó phát hiện ban ngày. Nhưng ban đêm, súng có chớp sáng nhỏ.

Súng có tiếng nổ đầu nòng rất nguy hiểm, mỗi xạ thủ chỉ băn liên tục 5-6 phát.

Súng nạp đạn chậm, khi chỉ một mình xạ thủ, tốc độ bắn chỉ tối đa 4 phát phút.

Để cải thiện tốc độ bắn, những người cùng tổ lắp sẵn liều cho xạ thủ. Nhờ đó tăng tốc độ bắn đến 6 phát phút dễ dàng.

Chú ý B41 không có lỗ thoát khí bên phải như B40.

Việc bắn B41 đòi hỏi huấn luyện rất kỹ càng, trong cuốn sách quân sự Mỹ năm 1976 [4], người Mỹ dựa vào kiến thức cóp nhặt, nên đặt cách bù gió đo xa rất sai, điều này dẫn đến họ bắn thử nghiệm chỉ đạt tầm hiệu quả 180 mét. Một cách để tăng kinh nghiệm xạ thủ là tổ chức 2-3 tổ từ các hướng rất khác nhau, bắn lần lượt, điều này làm an toàn xạ thủ, bù trừ sai số ước lượng của các xạ thủ về tốc độ gió và mục tiêu, các xạ thủ sống sót có kinh nghiệm quý.

Chiến thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Chống xe tăng[sửa | sửa mã nguồn]

Trong Kháng chiến chống Mỹ, xe tăng còn mỏng yếu, chưa có ERA, nên súng B41 rất lợi hại, xuyên được tất cả các thiết giáp lúc đó (M48 M60). Bộ binhdu kích Việt Nam sử dụng hai chiến thuật săn xe.

Một là sử dụng tổ bộ binh nhỏ, luồn sâu, phục kích. Điều nguy hiểm với xe tăng là khi B41 áp sát được tầm dưới 100 mét, đến lúc này, xạ thủ ngắm bắn chính xác vào những chỗ hiểm như ổ đỡ tháp pháo, phía sau xe, khoang chứa đạn sau tháp pháo... Những phát bắn này thường tiêu diệt tức khắc mục tiêu.

Khi phòng ngự, khi xe tăng đến gần, các xạ thủ bám chiến hào, công sự, vật cản. Kết hợp với cối, mìn định hướng làm lui bộ binh đi cùng. Xe tăng khó có thể quan sát bao quát, khả năng bị diệt cao khi bị tấn công từ nhiều hướng.

Hai là dùng nhiều tổ, phân tán, bắn liên tục từ nhiều hướng, di chuyển liên tục, bám sát. Trong địa hình rừng núi, đây là chiến thuật rất đáng sợ. Một số lượng lớn đầu đạn đến từ nhiều hướng bù những sai số ước lượng của xạ thủ, thông thường loạt đạn săn tăng này có kết quả tức khắc, mặc dù khoảng cách không nhỏ.

B41 rất đáng sợ với các xe bọc thép chở quân hỗ trợ bộ binh IFV. Những phát bắn phục kích xe này gây thương vong lớn, trong phim Cuộc chiến 10 ngàn ngày còn cảnh B41 hạ một xe M113 đang di chuyển rất nhanh. Các xe bọc thép có vỏ mỏng hơn xe tăng, kể cả xe bọc thép hiện đại.

Tháng 10-1973, trên bán đảo Sinai, quân Ai Cập bố trí kết hợp RPGAT-3, bắn liên tục từ nhiều hướng, tạo chiến công lớn.

Hỏa lực sát thương[sửa | sửa mã nguồn]

Trong các ảnh dưới đây có trích đoạn phim miêu tả đạn sát thương nổ phá OG-A, B41 được dùng như đại bác tấn công tầm gần (bắn mục tiêu chính xác), hỗ trợ cực kỳ bám sát. Tuy nhiên, việc coi B41 như đại bác hỗ trợ (field gun, bắn diện tích) là điều hết sức sai lầm, lấy đồ nhà nghèo tiêu như nhà giàu.

B41 rất quan trọng trong tiểu đội bộ binh. Trong chiến thuật tiến công tiểu đội bộ binh của Việt Nam, thường chỉ 1 hoặc 2 trong 3 tổ xung phong, 1-2 tổ bắn kiềm chế. B41 tiểu đội bán sát chặt chẽ mũi tiến công, tiêu diệt tức khắc ổ hỏa điểm kiên cố vừa phát hiện trong tầm chiến đấu bộ binh (250 mét trở xuống). Ở tầm này, gọi chi viện không kịp, nếu mang xe đi cùng thì rất nguy hiểm cho xe.

B41 ngoài mặt trận thường chỉ có đạn xuyên HEAT, đạn này sát thương không rộng, nhưng được sáng tạo nhiều phương pháp sử dụng. Đạn bắn vào tường dày, vách đá tạo ra một trận mảnh dày đặc như bom, tiêu diệt toàn bộ người trong bán kính vài chục mét (hàng khối mảnh sát thương rất mạnh). Nếu đạn nổ sát đất sẽ thổi một luồng khí định hướng kéo theo đất đá sát thương chụm và xa hơn mìn claymore. B41 trong phòng ngự thường bắn vào đám đất trước địch, Việt Nam cũng chế ra mìn định hướng kiểu Việt Nam rất giống đạn B41, đặt sát mặt đất, thổi bay địch sát chiến hào tiền duyên như đại bác bắn đạn ria. (Tuy nhiên, B41 vẫn có đạn sát thương, xem trích hình phim).

Mục tiêu hiện đại[sửa | sửa mã nguồn]

Trong chiến tranh Apganistan, 80% số đạn RPG bắn về phía T-72 bị hệ thống đánh chặn Drozd phá hủy, đến cuối chiến tranh, việc bắn hỏng một chiếc T-72 ở đây rất khó, mặc dù du kích sử dụng những trung đội B41 săn xe lớn. Đã có một bộ phim hài Mỹ nói về các xạ thủ Mujahideen loay hoay quanh chiếc T-72 đơn độc mà không làm gì được nó.

Trong chiến tranh Checnhia lần 1 (báo cáo 1997), có 62 xe tăng Nga bị các loại RPG bắn hạ, gồm T-72T-80, trong đó có nhiều RPG đầu đạn hạng nặng. Nhưng chỉ 1 xe bị bắn hỏng xuyên qua ERA. Điều đó cho thấy ERA tốt có tác dụng quan trọng với RPG. Các xe khác bị bắn trong tình trạng chỉ có ERA phía trước (lúc đó Nga thiếu tiền trầm trọng), đạn trúng sườn, sau, nóc xe. Một số xe bị bắn từ nóc. Du kích bố trí B41 trong nhiều tầng nhà, nhiều hướng, bắn trong phòng. Nóc xe T-80 là chỗ rất yếu.

Đến chiến tranh Checnhia lần 2, ERAAPS đóng góp vai trò quan trọng, lúc này quân Checnhia có nhiều RPG hiện đại hơn, nhưng số lượng xe hỏng do trúng đạn không đáng kể.

Người Mỹ trước đây thường nghĩ rằng xe tăng hiện đại không sợ B41. Nhưng trận đánh đột kích vào sân bay Baghdad Iraq năm 2003 chứng tỏ, M1A1 có nhiều điểm bị B41 khoan thủng. Thực chất M1A1 không hề có ERAAPS, M1A2 có một chút nhưng làm việc tồi bảo vệ. Trong trận đánh đó, xe tăng Mỹ không có bộ binh đi kèm bị B41 bắn ngang sườn, đạn nổ, phá hủy hoàn toàn xe. Từ đó dến nay, các xe M1 nhiều lần bị bắn hỏng, phá hủy hoàn toàn vì các RPG, chủ yếu là B41.

Những đầu đạn hiện đại tỏ tác dụng trong xung đột Israel 6-2006, tuy nhiên, đến nay khó xác định được súng nào đã bắn cháy 22 tăng Israel trong 1 tháng, có khả năng là B41 dùng các đầu đạn 105mm hạng nặng. Điều này cho thấy chất lượng APS Israel còn nhiều vẫn đề.

Mogadishu, Somalia năm 1993 đã dược dựng thành phim nổi tiếng Blackhawk down. B41 bắn hạ trực thăng. Trong chiến tranh Việt Nam, cũng có trực thăng bị B41 bắn hạ, nhưng ít, người ta cũng đồn thổi về các chiến thuật bắn trực thăng B41 trong chiến tranh Apganistan, nhưng rõ ràng đây là tán gẫu, như việc dùng B41 làm pháo binh bắn cường tập kiểu Mỹ. (xem các ảnh dưới)

B41 đời cổ có thể không xuyên được giáp tăng hiện đại đằng trước, nhưng diệt được tất cả các xe thiết giáp khác. Để tăng sức xuyên, cần dùng B41 hiện đại hóa.

B41 hiện đại hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Với giáp tăng hiện đại, đạn PG-7VR xuyên 700mm thép cán tiêu chuẩn. Nhưng đây là đạn nặng nặng hai tầng, tầm bắn hạ còn 200 mét.

Đầu đạn kiểu cũ như PG-7V, PG-7VM không còn thích hợp để tiêu diệt xe tăng hiện đại, chỉ hạ dược các xe bọc thép và công sự.

Vẫn có các đạn cải tiến dùng cho súng RPG-7 như RPG-7VL, RPG-7RR. Tuy nhiên, súng B-41 khi bắn đạn hạng nặng kiểu mới thì tầm hiệu quả chỉ còn 150-200 mét, ngày nay đời sau súng này là RPG-29 có tầm bắn hiệu quả tới 500 mét.

Những sai lầm thường thấy khi nói về B41[sửa | sửa mã nguồn]

Do thiếu những hiểu biết thực tế chiến trường nên tồn tại nhiều điểm nhầm lẫn, dưới đây là những điểm hay gặp.

Người Mỹ coi B41 có thể dùng như pháo[sửa | sửa mã nguồn]

Câu chuyện coi B41 là một loại pháo.[4] Trong tài liệu huấn luyện chính thức của Mỹ năm 1976, người ta thường cho rằng B41 có thể sử dụng như pháo binh, xuất phát từ việc quá kinh hoàng trước sức mạnh của súng trong Kháng chiến chống Mỹ. Điều đó dẫn đến những sai lầm lan truyền sau.

Về trung đội B41 của Mujahideen. Thường thấy nói rằng, trung đội này sử dụng B41 như pháo binh. Mujahideen cũng có chiến thuật dùng B41 bắn máy bay, trung đội pháo binh B41 để bắn trực thăng. (xem ảnh bên, phòng ngự tiểu đoàn).

B41 tạo thành hỏa lực chống tăng dày đặc trong phòng ngự chính quy cấp tiểu đoàn. Với tốc độ bắn gấp nhiều chục lần xe, pháo (100 súng, đạt tốc độ bắn cao nhất 400-600 phát phút), tạo ra màn đạn hoàn toàn chặn đứng địch trong tầm bắn bộ binh (300 mét). (xem ảnh bên, phòng ngự tiểu đoàn).

Điều này là sai lầm cơ bản, B41 là súng của đội quân nghèo, lấy yếu địch mạnh, thường dùng chiến thuật đeo bám, đánh gần, bám thắt lưng địch mà đánh. Việc lấy vũ khí của con nhà nghèo làm pháo, bắn như cách đánh của con nhà giàu là điều ngược đời. Thật ra, B41 không thể dùng như vậy. B41 thường được dùng trong trận địa phòng ngự chính quy từ cấp tổ 3 người của Việt Nam. Việc cung cấp nhiều loại đạn (đạn cháy, xuyên phá, đạn sát thương) với số lượng lớn cho B41 ngoài chiến trường của nhà nghèo là điều không thể. Trong chiến tranh Việt NamApganistan hầu như chỉ dùng B41 với đạn xuyên (HEAT). Đạn này có sức sát thương đối với bộ binh thấp hơn đạn nổ mảnh, không thể coi như pháo. Pháo dễ dàng cùng cấp nhiều loại đạn do không ở tiền duyên, còn B41 thì không thể bắn ồ ạt mà cần ưu tiên cho những mục tiêu kiên cố như thiết giáp, lô cốt.

Lệch gió ngược[sửa | sửa mã nguồn]

Lệch gió của đạn B41[4]. Cũng từ tài liệu trên.

Đạn B41 ít lệch gió trong 100 mét. Sau đó, đạn lệch gió ngược, tức hướng vào đầu gió. Trong tài liệu trên hướng dẫn lệch gió xuôi chiều như đạn thường và tỷ lệ thuận.

Cách đo xa[sửa | sửa mã nguồn]

Cách đo xa B41[4]. Cũng từ tài liệu trên, trình bày sai.

Lưới chống[sửa | sửa mã nguồn]

Dùng lưới chặn đạn B41 [4]. Cũng tài liệu trên.

Đạn B41 xuyên qua dễ dàng tấm thép 5mm mà không phát nổ, bởi kết cấu chụp đầu đạn và máy sinh điện. Tài liệu trên ghi 50% đạn phát nổ khi gặp lưới B40. Thật ra, đạn chỉ phát nổ khi đâm vào những cọc lưới với tỷ lệ rất ít, ngoại trừ trường hợp người ta chặn mục tiêu toàn bằng cọc làm từ ray tàu hỏa.

Hiện tượng các cựu chiến binh thường thấy là đạn B41 xuyên qua lưới, nếu công sự bao cát thì đạn xuyên vào nhưng không phát nổ ngay. Lúc ngòi nổ tự hủy đạn có tác dụng, đạn mới thổi công sự.

Dùng súng bắn máy bay đang di chuyển[sửa | sửa mã nguồn]

Cũng tài liệu trên.

B41 hầu như không thể bắn máy bay đang di chuyển trên cao, tuy nhiên, do nhiều vụ máy bay bị B41 bắn rơi nên trong tài liệu huấn luyện trên, người Mỹ đưa ra chiến thuật săn máy bay bằng B41. Thực ra, các máy bay trực thăng bị B41 bắn rơi khi đang treo cố định hoặc di chuyển rất chậm và thấp, thường là lúc đổ quân hay cất cánh, nên bộ binh có thể dùng B-41 ngắm bắn trực diện.

Súng B41 cần khoảng trống lớn[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là một nhầm lẫn, người ta cho rằng, tiếng nổ đầu nòng của súng mạnh nên súng không bắn được trong phòng. Thực chất, tiếng nổ mạnh nhưng tốc độ phụt khí giảm nhanh do cấu tạo tuye sau. Không như B40 có luồng phụt tốc độ cao. Súng chỉ cần vài trăm mét khối là bắn được trong phòng. Điều này làm súng trở thành vũ khí quan trọng trong chiến tranh đường phố. Các súng như AT-4 Thụy Điển (tên Mỹ M136) cần không gian hẹp hơn, nhưng giảm rất nhiều tầm bắn, trong khi phần lớn các phòng đều có hàng trăm khối.

Ngoài những sai lầm lan truyền từ tài liệu trên, dưới đây là các nhầm lẫn thường gặp.

Nhầm lẫn giữa B41 và các phiên bản súng Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Trên Internet có hiện tượng các trang các trang wiki và các trang web khác dịch, copy lẫn của nhau dẫn đến lan truyền sai lầm như là bệnh dịch. Một trong những sai lầm là B41 có giá hai chân, chỉ B41 Trung Quốc. Thực chất, đây là một nhóm súng do Trung Quốc sản xuất, không phải là B41, trong khi bản thân B41 không phải Trung Quốc đều có giá hai chân nhưng người ta không lắp. Trên các bức ảnh, người ta thường chú ý đến tuye sau đuôi súng nên nhầm, nhưng nhìn rõ thấy chúng hơi khác cả súngđạn. Kiểu 69 có tuổi thọ rất ngắn, nó gần giống như B41, có tên kiểu 69-1 năm 1970, được đưa vào trang bị giữa những năm 1970, đến những năm 1980 thì dừng sản xuất, khi tỏ ra yếu kém trước B41 trong thực tế. Saghegh của Iran có cỡ nòng hơi nhỏ hơn. Súng giống B41 Pakistan thật ra là phiên bản Kiểu 69-1. Kiểu 69-1 đầu thế kỷ 21 rất ít dùng, công ty Norinco dang có ý định cải tiến lại một lần nữa, lai thuật phóng Bazooka, gọi là kiểu 2004 69.

chiến trường, vẫn có những phiên bản hay được internet gọi là B41 nhưng thực ra là các phiên bản RPG của Trung Quốc, cấu tạo hơi khác. Ví dụ như Kiểu 56 cải tiến (Kiểu 56 là B40, nhưng về sau cải tiến tăng tầm bắn, cũng sử dụng tuye sau và buồng đốt phình ra như B41, vẫn dùng phần đầu đạn B40, Kiểu 56 cải tiến này về sau trở thành Kiểu 69-1 (type-69-1) (cả hai đều có một tay cầm, đạn Kiểu 69 bé hơn B41). Như vậy, tồn tại 3 ROG Trung Quốc kiểu Nga ở Việt Nam: Kiểu 56 là súng B40, kiểu 56 cải tiến là súng có thân giống B41 đạn giống B40 (thân súng này ngắn hơn chút, chỉ có 1 tay cầm), kiểu 69 đạn chẳng giống B40 cũng chẳng giống B41, súng trông giống B41 có 1 tay cầm. Trong sô đó, chỉ B40 Kiểu 56 là ta trang bị, còn đều là chiến lợi phẩm (chỉ dùng để nghiên cứu và trung bầy).

đạn kiểu 84 bắn súng kiểu 69. Đạn không có tuye xoáy, ngắn, cánh đuôi nằm trên thân đạn chứ không ở trên liều, người Trung Quốc gọi kiểu này là kiểu bazooka

Trung quốc không sản xuất súng và đạn B41. Phiên bản Kiểu 69 có các biến thể Kiểu 69-1, Kiểu 69-2, Kiểu 69-3. Phiên bản này về súng giống như RPG-7 và RPG-7G, nhưng đạn rất khác.

Kiểu 69-1 sau được cải tiến dùng cho chiến tranh biên giới Việt Nam (bao gồm hai cuộc chiến tranh do Trung Quốc phát động, Chiến Tranh biên giới Tây NamChiến tranh biên giới phía Bắc), kính ngắm Trung Quốc có thêm vạch đo xa bên trái, sử dụng đo xe Nga (thấp hơn). Pakistan sau này nhập khẩu của Trung Quốc súng này. CIA, Trung Quốc trong liên minh làm suy yếu Liên Xô đã đưa súng đến Apganistan, kiểu 69 sau bắt được ở đây. Mujahideen nhận ngay nhược điểm của Kiểu 69, nó nhẹ hơn, nhưng cơ chế điểm hỏa không hoàn thiện như B41, dùng bắn xuyên tường thì tốt nhưng chống thiết giáp yếu, dồng thời độ chính xác thấp. Người Việt Nam còn gọi những súng Trung Quốc này như B63, B69, chỉ một số người nhầm gọi là B41. Đạn kiểu 69 là đạn lai, vừa xuyên vừa sát thương, ngắn hơn đạn B41 (không có khoảng cách từ máy sinh điện về điểm hội tụ của loa lõm, khoảng cách này ở B41 làm máy sinh điện hoạt động đúng khoảng cách, khi điểm hội tụ đến giáp thì vừa nổ).

Chính xác về năm ra đời[sửa | sửa mã nguồn]

Hoặc một sai lầm nữa của internet là RPG-7 ra đời năm 1961, thực chất, đó là năm ra đời đạn mới PG-7V về sau này dùng rất rộng rãi.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Theo:
    • Bách khoa cho thiếu niên, tập 14: Kỹ thuật, NXB Avanta, Nga, 1999, tr. 494
    • Từ điển Kỹ thuật quân sự, Viện Kỹ thuật quân sự-Cục khoa học quân sự xuất bản, 1990, tr. 240, tr. 419
    • НАСТАВЛЕНИЕ ПО СТРЕЛКОВОМУ ДЕЛУ. РУЧНОЙ ПРОТИВОТАНКОВЫЙ ГРАНАТОМЕТ (РПГ-7 и РПГ-7Д). Издание второе, дополненное. Ордена Трудового Красного. Знамени ВОЕННОЕ ИЗДАТЕЛЬСТВО МИНИСТЕРСТВА ОБОРОНЫ СССР. М О С К В А — 1 9 7 2
  2. ^ http://www.globalsecurity.org/military/world/russia/rpg-7.htm
  3. ^ [1]
  4. ^ a ă â b c 20010803 107, November 1976, Soviet Anti tank Grenade Launcher

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • OFFICIAL SOVIET RPG MANUAL © Paladin Enterprises INC
  • НАСТАВЛЕНИЕ ПО СТРЕЛКОВОМУ ДЕЛУ. РУЧНОЙ ПРОТИВОТАНКОВЫЙ ГРАНАТОМЕТ (РПГ-7 и РПГ-7Д). Издание второе, дополненное. Ордена Трудового Красного. Знамени ВОЕННОЕ ИЗДАТЕЛЬСТВО МИНИСТЕРСТВА ОБОРОНЫ СССР. М О С К В А — 1 9 7 2
  • Soviet Anti tank Grenade Launcher. UNITED STATED ARMY TRAINING AND DOCTRINE COMMNAD. 20010803 107, November 1976.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]