Đạn tự hành

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm


Đạn tự hành là những đạn tự di chuyển đến mục tiêu và tác động vào đường đi trong khi di chuyển để hiệu chỉnh, bắn chính xác.

Đạn tự hành khác với đạn thường ở chỗ đạn thường bay theo đường đạn và không tác động vào đường đi. Đạn tự hành có độ chính xác ở tầm xa lớn nên càng ngày nó càng thay thế nhiều cho đạn thường, nhất là khi sử dụng để tấn công các mục tiêu ở tầm xa.

Mục lục

[sửa] Từ nguyên

Đạn tự hành xuất phát từ tiếng Latin mittere có nghĩa là "gửi đi". Tiếng Anh chấp nhận hai cách viết vì là phiên âm: missilemissle. Tiếng Trung là 导彈 (đạo đạn, đạn được dắt). Ban đầu, người ta gọi như thế để phân biện đạn tự hành với đạn được bắn văng đi từ nòng pháo. Tuy nhiên, sau này, có nhiều loại đạn tự hành có động cơ tự đi, nhưng có nhiều loại đạn tự hành bắn từ nòng, chỉ hiệu chỉnh đường đi, như các ATGM bắn từ nòng pháo tăng.

[sửa] Phân biệt đạn tự hành và tên lửa

Đạn tự hành nếu có trang bị thêm máy đẩy tên lửa sẽ thành tên lửa. Vì phần lớn các đạn tự hành hiện nay thường thấy có máy đẩy tên lửa, nên nhiều người nhầm đạn tự hành là tên lửa. Không phải đạn tự hành nào cũng là tên lửa

Có nhiều loại vũ khí được đài báo gọi quen là tên lửa song thực tế chỉ là đạn tự hành. Như trường hợp Tomahawk mặc dù mang động cơ turbine chứ không mang máy đẩy tên lửa mà vẫn được báo chí phổ thông gọi là tên lửa. BGM-109 Tomahawkđạn tự hành hành trình (cruise missile). BGM-109 mang máy đẩy phản lực dùng không khí hay máy đẩy luồng (jet engine), hay còn gọi là máy đẩy máy bay, như vậy không phải là tên lửa hay rốc két.

Các ví dụ khác về nhầm lẫn giữa đạn tự hành và tên lửa như gọi đạn tự hành chống hạm KS-1 (Raduga KS-1 Komet) là tên lửa. V-2V-1 của Đức đều là đạn tự hành cùng thời. Nhưng, V-2 là tên lửa hay rốc két, V-1 thì lại không phải.

Trong các báo cáo quân sự tiếng Việt ít dùng từ tên lửa. Ví dụ, tất cả các SAM-2, A72, B72, P15... là những đạn tự hành thông dụng của quân đội đều được báo cáo là đạn, chứ không gọi là tên lửa, mặc dù chúng vừa là đạn tự hành vừa là tên lửa.

[sửa] Mô tả

[sửa] Cơ chế đẩy

Đạn tự hành có thể có động cơ điện như ngư lôi có điều khiển, động cơ nhiệt các loại, động cơ phản lực dùng không khí, động cơ tên lửa, cũng có thể bắn bằng súng như các ATGM bắn từ pháo tăng, cũng có thể đơn giản không có động cơ mà dùng trọng lực hay vận tốc ban đầu của máy bay mẹ như bom lượn (còn gọi là bom có điều khiển). Một số loại đạn tự hành bắn từ nòng dã pháo cũng không có động cơ như hệ thống Crusader 155mm Mỹ hay Msta 152mm 2S19 Nga bắn đạn Krasnopol 152mm. [1] [2] [3] [4] [5]

[sửa] Ổn định và định vị

Những đạn trên mặt đất và dưới nước, trên mặt nước thì không cần ổn định lắm. Tuy nhiên, các đạn bay trên không gặp khó khăn lớn về kỹ thuật. Thông thường, chúng có con quay hồi chuyển để giữ hướng, cần 2 con quay 3 chiều (3 trục, 3 bậc tự do) để giữ được 3 hướng. Những đạn homing nhỏ thường chỉ dùng một con quay. Các đạn trên vũ trụ thuận tiện định hướng bằng ảnh bầu trời sao. Ngày nay, các cơ chế giữ hướng rất đa dạng và được gọi chung là con quay hồi chuyển (gyroscope, tuy rằng nó chả giống con quay).

Đạn homing (định hướng mục tiêu) thường dùng thêm một đồng hồ điện tử làm sensor thời gian, quá đó hiệu chỉnh đường bay. Có thể định hướng mục tiêu qua radio, radar, quang, hồng ngoại, đèn chiếu hồng ngoại hay radar, âm thanh (dưới nước).

Đạn tự hành có hệ thống dẫn đường quán tính thì kết hợp đồng hồ thời gian và lực kế 3 chiều tạo thành tích phân quán tính, hệ thống này có độ chính xác thấp nhưng không thể gây nhiễu, độ chính xác xuyên lục địa ngày nay cõ trăm mét, không còn quan trọng lắm với đầu đạn chiến lược. Con quay hồi chuyển 3 chiều hiện nay hay được thay bởi các tích phân quán tính vòng siêu chảy hoặc tích phân quán tính vòng laser.

Nhiều đạn tự hành dùng hệ thống định vị toàn cầu (GPS), người Nga phát triển cả hệ thống định hướng toàn cầu cho các con quay hồi chuyển sóng vô tuyến (radio gyroscope). Tuy nhiên các phương tiện GPS hay bị nhiễu. Giá của các hệ thống GPS trên đầu đạn rẻ, nên nó được dùng rất rộng rãi, và tất nhiên cần kết hợp với các hệ thống định vị-định hướng khác mới đảm bảo độ tin cậy.

[sửa] Lái

Đạn có thể lái từ xa, có thể bám theo mục tiêu, có thể dùng định vị... tức là tất cả các phương pháp điều khiển có thể giúp đạn đi đến đích. Loại đạn bắn xong không phải quan tâm nữa là đạn "bắn và quên". Để lái đạn cần "bám mục tiêu" (track), có thể bằng người thông qua các phương tiện quan sát điện tử, hay hoàn toàn tự động.

Người ta phân biệt ba mức lái. Một là đạn bắn ra rồi tự đến mục tiêu, không cần liên hệ gì với bệ phóng. Hai là đạn được lái tự động nhưng có trợ giúp từ bệ phóng. Ba là đạn được chỉ thị mục tiêu hoặc trực tiếp lái bởi người. Những đạn có liên hệ với bệ phóng có thể dùng radio (như các SAM), laser (ATGM-15), hay dùng dây dẫn (AT-3 nguyên thủy), hay đèn chiếu hồng ngoại như các AT-3 cải tiến. Các đạn tự hành chống tăng có tốc ộ rất cao so với mục tiêu thường dùng cách lái bám đường, đạn ự hiệu chỉnh vào dường thẳng nối bệ phóng và mục tiêu, thông qua ống nhận dạng quang hay chùm laser.

Các đạn tự hành đạn nào cũng có con quay để ổn định tự động. Các đạn homing dễ dàng lái tự động do đó đạt độ linh hoạt cao, ví như đạn tầm ngắn hướng hồng ngoại. Một số đạn cần máy tính lớn nhận dạng mục tiêu, không mang theo trên đầu đạn được, sử dụng lái bám đường. Bệ phóng luôn phát hiện sai lệch đạn và đường thẳng đến mục tiêu, lệnh cho đầu đạn hiệu chỉnh qua radio, chùm laser, dây dẫn. Nhiều đạn tự động tự hiệu chỉnh vào giữa chùm laser, tâm chùm chính là đường bay thẳng.

Các đạn đối không gặp nhiều thuận lợi khi nhận dạng mục tiêu tự động bằng hồng ngoại, radar hoặc lỗ trống tử ngoại trên bầu trời. Các đạn chống hạm dễ dàng phát hiện ra tầu địch-kể cả tàng hình bằng radar bước sóng dm. Phương pháp bay rất thấp tốc độ cao cho phép các đạn chống hạm vượt qua phòng thủ đối phương, được trợ giúp bởi dẫn đường quan tính và đo cao radio.

Nhận dạng mục tiêu trên đất rất khó khăn. Các đạn không chính xác lắm như bom lớn đánh từ máy bay thì có thể dùng radar. Việc dùng nhiều mầu hồng ngoại cũng tăng vọt khả năng tự động những năm 1980-1990. Trong thập niên 1990, Nga phát triển AT-15 sử dụng băng sóng mm. Ngày nay, việc tự động nhận dạng hình ảnh đang phát triển.

[sửa] Những loại đạn tự hành thường thấy

Đạn tự hành có rất nhiều loại. Nó có thể ở ngầm dưới nước, nổi trên mặt nước, đi trên mặt đất, nay trên trời hay có tầm vũ trụ. Đạn dưới nước có ngư lôi. Đạn trên mặt đất có các loại xe như mìn điều khiển từ xa có bánh xe. Đạn đất đối không là SAM (surface to air missile), đạn không đối đất là ASM, đạn không đối không là AAM, đạn chống tăng là ATGM (anti tank guided missile), rồi đạn chống hạm, sát thương, chống công sự cố định, chống vệ tinh... Các đạn chống tầu ngầm có 2 phần, phao nổi liên lạc với ngư lôi ngầm bằng dây và nối với bệ phóng mẹ bằng radio. Ngoài ra còn rất nhiều loại đạn theo các cách chia đôi khi không thống nhất.

Đạn tự hành đường đạn là loại đạn có động cơ chính hoạt động trong thời gian ngắn, sau đó, chủ yếu đạn bay theo quỹ đạo giống đường đạn, được các động cơ nhỏ hơn hiệu chỉnh; tiếng Anh là ballistic missile, người Tầu gọi là 彈道導彈 hay "đạn đạo đạo đạn". Ở đây, chữ 道 "đạo" là "đường" nên 彈道 là "đường đạn", còn chữ 導 "đạo" là "dẫn dắt" nên 導彈 là "đạn được lái". Người ta thường dùng các cụm từ viết tắt

Trái lại với đạn đường đạn, đạn tự hành hành trình là đạn có động cơ chính đẩy nó suốt dọc đường, còn gọi là đạn tự hành tuần hành (nghĩa là động cơ tuần tự trong hành trình; tiếng Anh: cruise missiles; Hán-Việt: tuần hành đạo đạn). Đạn tự hành hành trình thường hay bay trong không khí, có cánh và cũng hay được gọi là đạn tự hành có cánh, đặc biệt là người Nga thích thế.

[sửa] Lịch sử

Những đạn tự hành đầu tiên có lẽ là các ngư lôi của thế kỷ 19, nó ban đầu được lái qua dây cơ, ngư lôi Brennan 1877 và sau đó là ý tưởng truyền lệnh lái qua dây diện rồi radio của Nikola Tesla, đáng tiếc là hướng này lúc đó không được Mỹ chấp nhận chi tiền phát triển và xếp xó. Hồi Thế chiến thứ nhất, Nga phát triển những đạn tự hành đất đối không đầu tiên.

Đức trong Thế chiến thứ hai phát triển những loại đạn tự hành cơ sở ngày nay. V-1đạn tự hành đường đạn vì nó có con quay hồi chuyển, tích phân quán tínhđộng cơ tên lửa, đến nay vẫn là kiểu mẫu cho những đạn tự hành đường đạn. V-2đạn tự hành hành trình, có động cơ dùng không khí-nó dùng pulse ramjet, con quay hồi chuyểnchương trình bay cứng. Ruhrstahl X-4ATGM đầu tiên của loài người, lái dây. X-7AAM đầu tiên của nhân loại được ứng dụng, là một phiên bản X-4 có ngòi nổ chống máy bay bằng cảm ứng âm thanh. Các đầu dò hồng ngoại cho AAMSAM lái radar cũng được phát triển như Wasserfall (một phiên bản R/C quan sát radar của V-1, tuy nhiên, đạn đã được sản xuất rất nhiều nhưng người ta không kịp hiệu chỉnh radar để sử dụng, sau này, nhưng nghiên cứu của Liên Xô cho thấy sử dụng nó là bất khả, nhưng trên cơ sở đó Liên Xô đã cho ra đời SAM-1 bằng radar lớn và tiên tiến hơn, tiếng Anh). Trong những ảnh còn lại, đã thấy X-7, A-4 tham chiến, cũng có tài liệu nói X-4 cũng đã diệt được mục tiêu. Tuy nhiên, số lượng của chúng và số mục tiêu chúng diệt được, nếu có, rất không đáng kể. Những chiến công quan trọng đạt được bởi các loại bom lượn, cụ thể hơn là các đạn tự hành chống hạm (anti-ship missile) đầu tiên, trong đó các hai soái hạm Ý (đã đầu hàng) và rất nhiều tầu chiến lớn của Đồng Minh. Các đạn này có điều khiển bằng truyền lệnh qua sóng vô tuyến (radio/command hay R/C). Các phiên bản được sản xuất nhiều cuối chiến tranh đã có hướng sóng điện từ (radio homing). Những thử nghiệm lúc đó đã có điều khiển qua vô tuyến truyền hình (TV).

MỹLiên Xô cũng đã có những đạn tự hành thời kỳ này, tuy nhiên, Liên Xô vẫn chỉ dừng ở thử nghiệm. Quá bận với triến tranh, họ chỉ phát triển thứ này sau đó. Mỹ thì trái lại, họ vội vã sản xuất rất nhiều đạn tự hành không đối đất như SWOD MK 9/ASM-N-2, tuy nhiên, chúng không lập chiến công nào kể cả trong Chiến tranh Triều Tiên sau đó, bất chấp việc người ta tổ chức những chiến dịch rất lớn để sử dụng.

Thập niên 1950 đánh đấu việc chuyển vũ khí chính của máy bay từ đạn thường sang đạn tự hành, trận đánh đầu tiên có lẽ là ngày 28 tháng 10 năm 1958 ở Đài Loan bằng đạn không đối không hướng hồng ngoại AAM-9. Cũng những năm này, các IBCM (đạn tự hành đường đạn xuyên lục địa) đã phát triển kỹ thuật chiến tranh ra ngoài tầm kiểm soát của sức mạnh.

Thập niên 1960, Liên Xô đi tiên phong trong việc chống lại IBCM (các hệ thống chống đạn tự hành đạn đạo, ABM). Hệ thống hoàn chỉnh đầu tiên được hoàn thiện trong thập niên 1970 bao gồm hệ thống kiểm soát hồng ngoại, các radar cảnh báo sớm và dẫn bắn đánh chặn. Tuy nhiên, do hạn chế kỹ thuật hồi đó, người ta phải dùng các đầu đạn hạt nhân nhỏ đánh chặn IBCM. Ronald Regan kích động cuộc đua với Liên Xô nhưng chỉ đến thời George W. Bush thì Mỹ mới có hệ thống chống IBCM. Tuy nhiên, đến nay hệ thống này vẫn quá kém khả năng đánh chặn, khả năng này được thay bởi một số lượng lớn các trạm đánh đuổi hiện đang được tranh cãi về địa điểm đặt, ví dụ đạn SM-2. Hiện nay, Nga là nước duy nhất sở hữu hệ thống liên hợp hoàn chỉnh quy mô lớn bao gồm các trạm theo dõi quang hồng ngoại chống vệ tinh, radar cảnh báo sớm IBCM, theo dõi hồng ngoại và đánh chặn. Đây là hệ thống đạn tự hành lớn nhất thế giới hiện nay. Phần cảm biến (sensor) bao quát hầu như toàn bộ Bắc bán cầu, từ châu Phi, qua Bắc Băng Dương đến Mỹ, độ cao từ 150 km đến 15000 km (do thời kỳ thiếu tiền trước năm 2000 mà kế hoạch phát triển đến 36000 km chậm lại). Phần đạn bao gồm nhiều tầng đánh chặn, thế hệ đạn hiện là ABM-3 đang được thay bởi ABM-4. Sau các đạn đánh chặn này là hệ thống phòng không tầm khu vực S-300 đang được thay bởi S-400.

KS-1 của Nga đánh dấu việc chuyển vũ khí chính đánh tầu từ bom đạn thường sang đạn tự hành. Lúc đó, những máy bay chống tầu Tu-16 sử dụng radar và mang 2 đạn tự hành có tấm bắn chính xác 80 km đầu đạn nửa tấn, đạt ưu thế mức cách mạng. Trước đây đã có nhiều phát triển yêu cầu này, nhưng chỉ KS-1 có hiệu quả tốt và được chấp nhận trang bị như vũ khí chính. KS-1 là đạn tự hành chống hạm, có định vị radar, định hướng radio, lái qua radio có bảo vệ mã lái, đo cao radio, hướng radio (giai đoạn cuối). Nó là máy bay MiG-15 cải tiến không người lái. Đến nay Nga vẫn giữ vị trí dẫn đầu về kỹ thuật đạn tự hành chống hạm, hiện chúng bay M2-M3 cách mặt nước 5 mét, tầm bắn đến 600-700km, hầu như không có khả năng né tránh hay đánh trả.

Chiến tranh Việt Nam các SAM được sử dụng quy mô lớn, đến cuối chiến tranh, SAM trở thành vũ khí chủ lực. SAM-2 được dùng cấp chiến dịch và SAM-7 vác vai dùng cho trận đánh. SAM-2 và SAM-7 đến nay vẫn là những SAM giữ kỷ lục về số lượng diệt mục tiêu và tỷ lệ diệt, được xác lập từ chiến tranh Việt Nam.

Nhìn lại lịch sử, những đạn tự hành đất đối không đầu tiên được Nga và Liên Xô phát triển từ Thế Chiến I. Người ta cũng ghi chép có lần quân Pháp đã bắn về phía khinh khí cầu Đức một loại đạn lạ có động cơ tên lửa và có điều khiển, có thể là một loại đạn tự hành. Loại đạn tự hành lập chiến công đầu tiên là các đạn trên cơ sở RS-82 rocket, RS-132 rocket trong trận công thành Leningrad, Thế Chiến II, lúc đó, radar chính xác chưa có, người ta sử dụng các trạm quan sát mắt thường định vị mục tiêu và điều khiển đạn theo từng nhịp 400 mát một, dùng cả chùm đạn. Trước đó, các phiên bạn chỉ có điều khiển thời gian điểm hoả đã được dùng cho máy bay trong Chiến dịch Hắc Long Giang, ([[en:Battle of Khalkhin Gol|Tiếng Anh), và sau đó là mặt trận Xô-Đức, cả với vai trò AAM và SAM, ban đầu thiết bị điểm hoả dùng cơ khí như bên Đức dùng cho V-1.

Cuối những năm 1960, Liên Xô thực hiện cuộc cách mạng xe tăng với xe tăng T-64, đặc trưng chính bởi giáp liên hợppháo nòng trơn. Các nước khác dần noi theo. Một trong những tiến bộ của cách mạng kỹ thuật này là ATGM bắn từ nòng pháo tăng. Các 9K112 Kobra, mã tên phương Tây AT-8, 9M120 Ataka AT-9, AT-10 là những đạn tự hành kiểu này. Đây là các đạn có đầu nổ xuyên, lực đẩy chính là nòng pháo và có thể có hay không có động cơ riêng, lái bằng cánh khí động hay định hướng lực đẩy, định hướng hồng ngoại hoặc laser, được hỗ trợ bởi con quay hồi chuyển và đồng hồ điện tử (một phần của hệ dẫn đường quán tính). Đến những năm 199x Mỹ cũng thực hiện được điều này trên xe M1A2. Đạn này nâng tầm diệt mặt trước xe MBT lên 5km, so với 1km và thấp hơn của APDS-FS. Tuy vậy, ATGM cần khá nhiều yêu cầu rắc rối và dễ gây nhiễu.

Những năm 1970, việc phổ biến ATGM bắn từ máy bay cho phép thực hiện cuộc cách mạng kỹ thuật closing air support với Su-25 và sau đó là A-10. Quan trọng hơn trong cuộc cách mạng này là các trực thăng vũ trang tranh ngôi bà chúa chiến trường với xe tăng. Trước đây, bắn tăng tầm xa bắt buộc phải dùng pháo lớn mà máy bay không mang được.

Ma-lức-ca (bé con), mã phương Tây AT-3, tên Việt Nam B72 là đạn chống tăng, lần đầu tiên được dùng trên chiến trường Quảng Trị cuối 1972 đầu 1973, thực hiện cuộc cách mạng về vũ khí chống tăng và xe tăng. Trận đánh lớn lịch sử Sinai tháng 10-1973 với xương sống là đạn tự hành AT-3 tiêu diệt sạch lực lượng xe tăng Do Thái ở đây. Sau đó, AT-3 và các bản copy trở thành loại đạn chống tăng tiêu chuẩn phổ biến nhất thế giới, bất kể thân Nga hay thân Mỹ, nhiều nước nhập khẩu hay sao chép về dùng. AT-3 có tầm diệt mặt trước xe tăng chủ lực MBT gấp đôi pháo trên xe tăng. Ban đầu các đạn này lái dây mắt thường, sau đó định hướng hồng ngoại và laser, rồi lái bám đường quang học-truyền lệnh qua dây hay laser. Dần đây có định tâm hồng ngoại như Nag (Ấn). AT-16 Nga định tâm hồng ngoại nhiều mầu (đo nhiệt độ). AT-15 là đạn tự hành chống tăng có nguyên lý tiên tiến nhất hiện nay, sử dụng radar băng sóng milimet, đảm bảo mọi thời tiết.

Cũng những năm 1970, các đạn tự hành chiến thuật thay thế pháo tầm xa. Hơn nữa, các đạn đối đất lớn thay thế nhiệm vụ máy bay đột kích. Về pháo, Liên Xô đưa ra BM-30 tầm bắn 70km, những năm 199x tăng lên trên 90km. Msta 152mm 2S19 bắn đạn tự hành diệt tăng Krasnopol 152mm chỉ thị laser ở tiền tuyến, cho phép nâng tầm diệt tăng lên 30km. Sau này, các đạn tự tìm mục tiêu được phát triển. Mỹ phát triển chương trình Crusader 155mm tương tự, trội khả năng bắn đạn dẫn đường GPS chống công trình, tuy nhiên, chương trình tạm dừng vì kỹ thuật. Những đạn tự hành bắn từ nòng pháo cổ điển này không có động cơ hoặc động cơ rất nhỏ để lái, lái chính bằng các cánh khí động.

Trong các phiên bản thử nghiệm trước khi trang bị rộng, có các mẫu Tu-95/1, Tu-95/2, Tu-95K-E là mang đạn thường, phiên bản chính thức của Tu-95K và sau đó mang đạn tự hành Raduga Kh-20, phiên bản cải tiến tiếp theo Tu-95M-55 xác định rằng tất cả các máy bay TU-95 phát triển sau đó đều mang đạn tự hành, lúc đó là thập niên 1950, đi trước B-52 nhiều chục năm.

Xác định rằng tầu chiến và thiết bị bay sử dụng đạn tự hành, Liên Xô những năm 1970 đã cho ra đời lớp chiến hạm Kirov ([[en:Kirov class battlecruiser|tiếng Anh, nay Tầu Kirov đã đổi tên thành Piôtr Đại Đế, được hiện đại hoá nhiều lần và vẫn là chiến hạm chủ lực của hạm đội tầm xa Nga), loại tầu bao gồm các chức năng đối kháng tầu nổi, tầu ngầm, dẫn đường cho đạn tự hành tầm xuyên lục địa và đối không. Phiên bản không có vũ khí là lớp tầu tác chiến điện tử SSV-33 (tiếng Anh)). Các tầu này mang các hệ thống điện tử, máy tính mạnh nhất trong các tầu chiến hồi thập niên 1970. Sau này, đến thập niên 1990, Mỹ dần theo bước liên Xô cho ra lớp tầu Ticonderoga (bắt đầu là USS Ticonderoga CG-47), tầu được thiết kế lại 3 lần, ban đầu là tầu phòng không (1981), rồi dẫn đạn tự hành, 3/8/2004 tầu được hạ thuỷ với hệ thống AEGIS, chính thức cho ra đời thế hệ tầu chiến chuyên dùng đạn tự hành Mỹ, với các chức năng như Kirov nhưng nhỏ hơn nhiều.

Các đạn tự hành diệt xe tự tìm mục tiêu được chấp nhận trang bị ở Nga và Liên Xô cuối 198x, đầu 199x như BM-30 Smerch. Đến nay, Nga và Đức là những nước duy nhất sở hữu những thiết bị diệt tăng tự động hàng loạt. Ở mức độ thấp hơn, Ấn Độ với sự giúp đỡ của Nga phát triển đạn tự hành chống tăng Nag bao gồm phiên bản định tâm hồng ngoại, bắn và quyên. Trong các phiên bản Maveric, Mỹ phát triển một loại đầu dẫn nhận dạng độ chói-tiền thân của nhận dạng hình học, cũng đạt tính năng bắn và quên, nhưng hiện chưa đạt độ tin cậy chống xe tăng, chỉ thuận tiện khi chống công sự lớn cố định.

Ngư lôi có điều khiển thay thế các ngư lôi thường sau Thế chiến II. Các ngư lôi có thể lái qua dây điện hay hướng âm thanh chủ động, bán chủ động.

Chechen 1999 là cuộc chiến tranh quy mô lớn đầu tiên mà đạn tự hành có vai trò lớn dến mức quyết định. Ở đây, đạn tự hành có môi trường hoạt động thuận tiện bởi các hệ thống định vị toàn cầu GPS, theo dõi ảnh mặt trận liên tục-phân tích và phân phối thông tin chi tiết toàn mặt trận (UAV Pchela-1), hệ thống theo dõi sóng điện từ liên tục toàn mặt trận, hệ thống thông tin được phát triển đa dạng (đường thoại và đường số) đến từng tổ chiến đấu. Ở đây, Nga đạt khả năng tiêu diệt tổng thống đối phương chỉ sau vài chục giây hay triệt phá các đài radar, trận địa pháo, mục tiêu trên mặt đất gần như tức thời. Máy bay trực thăng vũ trang và trợ chiến bám sát (closing air support) SU-25 ở đây hầu như chỉ dùng đạn tự hành thay cho bom đạn thường.

Iraq 2003, đạn tự hành được sử dụng quy mô rất lớn. Hiệu quả không cao như Chechen 1999 nhưng chứng minh mà thúc đẩy vai trò đạn tự hành trong quân Mỹ sau đó. Hiện nay, máy bay Mỹ hầu như Mỹ chỉ dùng đạn tự hành thay thế bom đạn thường. Tuy nhiên, tiến trình loại bỏ các máy bay mang bom đạn không điều khiển ở Mỹ rất chậm, ví dụ, còn rất nhiều máy bay B-52 phục vụ trong quân Mỹ.

Đạn tự hành ngày nay là mũi nhọn phát triển nhanh, nhờ ứng dụng máy tính, chúng đang tăng vọt khả năng tự nhận dạng mục tiêu trên đất, trên biển... Việc tự bám mục tiêu trên không có từ lâu ngày nay được phát triển khả năng chống nhiễu loạn, nhầm lẫn và tầm xa.

[sửa] Liên kết ngoài

Công cụ cá nhân
Không gian tên

Biến thể
Tác vụ
Xem nhanh
Tương tác
Công cụ
In/xuất ra
Ngôn ngữ khác