Đạn tự hành

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Đạn tự hành là những đạn tự di chuyển đến mục tiêu và tác động vào đường đi trong khi di chuyển để hiệu chỉnh, bắn chính xác.

Đạn tự hành khác với đạn thường ở chỗ đạn thường bay theo đường đạn và không tác động vào đường đi. Đạn tự hành có độ chính xác ở tầm xa lớn nên càng ngày nó càng thay thế nhiều cho đạn thường, nhất là khi sử dụng để tấn công các mục tiêu ở tầm xa.

Từ nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Đạn tự hành xuất phát từ tiếng Latin mittere có nghĩa là "gửi đi". Tiếng Anh chấp nhận hai cách viết vì là phiên âm: missilemissle. Tiếng Trung导彈 (đạo đạn, đạn được dắt). Ban đầu, người ta gọi như thế để phân biện đạn tự hành với đạn được bắn văng đi từ nòng pháo. Tuy nhiên, sau này, có nhiều loại đạn tự hành có động cơ tự đi, nhưng có nhiều loại đạn tự hành bắn từ nòng, chỉ hiệu chỉnh đường đi, như các ATGM bắn từ nòng pháo tăng.

Phân biệt đạn tự hành và tên lửa[sửa | sửa mã nguồn]

Đạn tự hành nếu có trang bị thêm máy đẩy tên lửa sẽ thành tên lửa. Vì phần lớn các đạn tự hành hiện nay thường thấy có máy đẩy tên lửa, nên nhiều người nhầm đạn tự hành là tên lửa. Không phải đạn tự hành nào cũng là tên lửa. Đơn giản có thể ví dụ AGM-154 của Mỹ, nó không có động cơ nên không phải là tên lửa, mà chỉ là bom lượn, AGM là viết tắt của Air-to-Ground Missile tức đạn tự hành không đối đất.

Có nhiều loại vũ khí được đài báo gọi quen là tên lửa song thực tế chỉ là đạn tự hành. Như trường hợp Tomahawk mặc dù mang động cơ turbine chứ không mang máy đẩy tên lửa mà vẫn được báo chí phổ thông gọi là tên lửa. BGM-109 Tomahawkđạn tự hành hành trình (cruise missile). BGM-109 mang máy đẩy phản lực dùng không khí hay máy đẩy luồng (jet engine), hay còn gọi là máy đẩy máy bay, như vậy không phải là tên lửa hay rốc két.

Các ví dụ khác về nhầm lẫn giữa đạn tự hành và tên lửa như gọi đạn tự hành chống hạm KS-1 (Raduga KS-1 Komet) là tên lửa. V-2V-1 của Đức đều là đạn tự hành cùng thời. Nhưng, V-2 là tên lửa hay rốc két, V-1 thì lại không phải.

Trong các báo cáo quân sự tiếng Việt ít dùng từ tên lửa. Ví dụ, tất cả các SAM-2, A72, B72, P15... là những đạn tự hành thông dụng của quân đội đều được báo cáo là đạn, chứ không gọi là tên lửa, mặc dù chúng vừa là đạn tự hành vừa là tên lửa.

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Cơ chế đẩy[sửa | sửa mã nguồn]

Đạn tự hành có thể có động cơ điện như ngư lôi có điều khiển, động cơ nhiệt các loại, động cơ phản lực dùng không khí, động cơ tên lửa, cũng có thể bắn bằng súng như các ATGM bắn từ pháo tăng, cũng có thể đơn giản không có động cơ mà dùng trọng lực hay vận tốc ban đầu của máy bay mẹ như bom lượn (còn gọi là bom có điều khiển). Một số loại đạn tự hành bắn từ nòng dã pháo cũng không có động cơ như hệ thống Crusader 155mm Mỹ hay Msta 152mm 2S19 Nga bắn đạn Krasnopol 152mm [1][2][3][4][5].

Các cơ chế đẩy của đạn tự hành bay trên không[sửa | sửa mã nguồn]

Đạn tự hành có cánh không bay theo quỹ đạo đường đạn mà dùng lực nâng cánh như máy bay, thực chất chúng là các máy bay không người lái. Còn đạn tự hành đạn đạo có phần lớn động cơ hoạt động từ lúc xuất phát, sau đó đạn bay theo quỹ đạo đường đạn chỉ dùng động cơ nhỏ để hiệu chỉnh. Các đạn tự hành phòng không, chống tăng cần đường bay phức tạp đều thuộc loại có cánh.

Đạn tự hành có cánh có thể dùng các loại máy đẩy tên lửa, máy đẩy ramjet, turbojet, turbofan.

Động cơ tên lửa là động cơ phản lực phụt chất đẩy propellant ra sau mà không hút cái gì vào, các thành phần chất đẩy được đạn mang theo. Máy đẩy engine là thiết bị sử dụng động cơ motor đẩy đẩy đạn bay, trong trường hợp tên lửa thì máy đẩy và động cơ là một. Ở thiết bị bay, máy đẩy chỉ phân biệt rõ với động cơ trong trường hợp dùng các động cơ đốt trong hay tuốc bin kéo cánh quạt ngoài propeller (tiếng Ânh và các tiếng châu Âu dùng 1 từ này để chỉ cả hai cánh quạt ngoài của máy bay và chân vịt tàu thủy, đúng nghĩa là "cánh đẩy"). Hiểu cho đúng, thì động cơ chỉ là máy phát động, ví dụ động cơ tàu thủy thường là động cơ đốt trong, còn trên tàu thuỷ-ví dụ thế-thì máy đẩy bao gồm cả động cơ, truyền động, trục cái, chân vịt.... Khi đạn sử dụng máy đẩy-động cơ tên lửa thì đạn cũng được gọi là tên lửa, ví dụ đạn SAM-2 ta dùng, gọi đúng là đạn như các báo cáo quân sự, cũng có thể gọi là tên lửa. Trên thực tế, các đạn tự hành và tên lửa không điều khiển thường sử dụng các dạng động cơ tên lửa dùng chất đẩy propellant: rắn (Solid propellant) hay lỏng (Liquid propellant) hai thành phần. Chất đẩy rắn bao gồm chết kết dính, chất oxy hóa (oxidizer), chất đốt (nhiên liệu, fuel). Chất đẩy rắn sơ khởi như BM-13 hồi WW2 sử dụng chất kết dính là mỡ gốc dầu khoáng-kiêm chức năng chất đốt, và chất oxy hóa oxidizer lúc đó là nitrat amôn NH4NO3. Sau này, chất đẩy rắn sử dụng chất kết dính là cao su, nhiên liệu là bột nhôm. Bản thân cao su cũng kiêm chức năng nhiên liệu nhưng không tỏa nhiệt mạnh như nhôm. Các thành phần của chất đẩy rắn dùng cho tên lửa được trộn ký với nhau và các phụ gia bí mật, sau đó đúc thành hình trụ cõ lỗ rỗng dọc tâm, mặt cắt ngang lỗ rỗng hình sao, khối nhiên liệu sẽ cháy từ trong ra với tốc độ cháy ổn định. Nhiên liệu lỏng hai thành phần gồm có chất đốt và chất oxy hóa được đặt riêng, bơm tuốc bin sẽ đẩy chúng vào buồng đốt. Máy đẩy tên lửa nhiên liệu lỏng bật tắt được nhiều lần, thay đổi mạnh lực đẩy... nên có lực đẩy đúng hơn và thường ứng dụng trong đạn lớn như các đạn đạo mang đầu đạn chiến lược loại lớn nhất. Mặt hơn của chất đẩy rắn là ít bảo dưỡng, đạn cấu tạo đơn giản, dễ ứng dụng cho đạn nhỏ và thời gian trục chiến liên tục kéo dài hàng chục năm.

Ngày nay có nhiều đạn sử dụng các loại máy đẩy máy bay. máy đẩy máy bay là loại máy đẩy phản lực hút không khí vào làm chất oxy hóa và chất đẩy. Máy đẩy loại này chỉ mang theo chất đốt-nhiên liệu-fuel. Phần lớn khối lượng chất đẩy phụt ra sau là không khí hút vào, chất đẩy do đạn mang theo chỉ chiếm một vài phần trăm. Phần lớn các chất đốt của loại động cơ máy bay này là chất lỏng, thường là dầu khoáng. Hiện nay đã có nhiều đạn sử dụng chất đốt rắn, được đúc như máy đẩy tên lửa dùng chất đẩy rắn, nhưng khối nhiên liệu rắn của máy đẩy không chứ chất oxy hóa mà nó cháy bằng không khí chạy dọc lỗ rỗng. Chính vì thế, đạn dùng máy đẩy máy bay thích hợp cho những đạn không bay nhanh quá-giới hạn ở M3, và có tỷ lệ thuốc nhồi đầu đạn hữu ích cao hơn nhiều. Máy đẩy dùng không khí kiểu máy bay cũng không dùng được cho các đạn bay theo quỹ đạo đường đạn, thường dùng cho đạn tự hành hành trình.

Động cơ tên lửa không hút không khí do đó bay được ở quỹ đạo cao, nhưng khi đẩy đạn có cánh không bay được xa, ví như P-15. Ramjet là động cơ dùng không khí đơn giản, nhẹ, rẻ, gọn... nhưng chỉ hoạt động được ở tốc độ cao, động cơ này không dùng tuốc bin nén không khí mà dùng vận tốc không khí đập vào của hút, thông thường, động cơ tên lửa rốc két dùng đẩy đạn xuất phát gọi là động cơ khởi tốc, sau đó đạn có thể bay với các loại động cơ dùng không khí khác, ramjet ứng dụng thuận lợi cho các đạn tốc độ cao như M2 đổ lên. Turbojet là động cơ dùng tuốc bin nén không khí nhưng không phân luồng, toàn bộ không khí được nén vào buồng đốt. Turbofan là động cơ có 2 tầng máy nén (mỗi tầng máy nén gồm nhiều tầng tuốc bin nén), tầng trước là fan, không khí qua fan được chia thành 2 luồng, một luồng phụt ra sau tạo lực đẩy, một luồng được nén tiếp vào buồng đốt sinh công đẩy trục tuốc bin chạy, turbofan có lượng thông qua lớn nên có lực đẩy mạnh ở tốc độ thấp mà không tốn nhiên liệu, thường được dùng cho các đạn dưới âm. Một số đạn dùng động cơ lai ramjet-turbojet, khi tốc độ đạn đã cao thì ramjet hết sức đơn giản mở ra và hoạt động, cho lực đẩy lớn.

Ổn định và định vị[sửa | sửa mã nguồn]

Những đạn trên mặt đất và dưới nước, trên mặt nước thì không cần ổn định lắm. Tuy nhiên, các đạn bay trên không gặp khó khăn lớn về kỹ thuật. Thông thường, chúng có con quay hồi chuyển để giữ hướng, cần 2 con quay 3 chiều (3 trục, 3 bậc tự do) để giữ được 3 hướng. Những đạn homing nhỏ thường chỉ dùng một con quay. Các đạn trên vũ trụ thuận tiện định hướng bằng ảnh bầu trời sao. Ngày nay, các cơ chế giữ hướng rất đa dạng và được gọi chung là con quay hồi chuyển (gyroscope, tuy rằng nó chả giống con quay).

Đạn homing (định hướng mục tiêu) thường dùng thêm một đồng hồ điện tử làm sensor thời gian, quá đó hiệu chỉnh đường bay. Có thể định hướng mục tiêu qua radio, radar, quang, hồng ngoại, đèn chiếu hồng ngoại hay radar, âm thanh (dưới nước). Rất nhiều đạn đối đất chỉ tự động ổn định, còn việc lái được máy tính từ máy bay mẹ hoặc phi công lái thủ công. Các máy hay người từ bệ phóng mẹ lái đạn qua radar, TV, laser bám đường, hay laser định hướng laser homing như trên.

Đạn tự hành có hệ thống dẫn đường quán tính thì kết hợp đồng hồ thời gian và lực kế 3 chiều tạo thành tích phân quán tính, tích phân quá tính theo thời gian là vận tốc và tích phân lần nữa là vị trí của đạn. Hệ thống này có độ chính xác thấp nhưng không thể gây nhiễu, độ chính xác xuyên lục địa ngày nay cõ trăm mét, không còn quan trọng lắm với đầu đạn chiến lược. Con quay hồi chuyển 3 chiều hiện nay hay được thay bởi các tích phân quán tính vòng siêu chảy hoặc tích phân quán tính vòng laser.

Nhiều đạn tự hành dùng hệ thống định vị toàn cầu (GPS), người Nga phát triển cả hệ thống định hướng toàn cầu cho các con quay hồi chuyển sóng vô tuyến (radio gyroscope). Tuy nhiên các phương tiện GPS hay bị nhiễu. Giá của các hệ thống GPS trên đầu đạn rẻ, nên nó được dùng rất rộng rãi, và tất nhiên cần kết hợp với các hệ thống định vị-định hướng khác mới đảm bảo độ tin cậy.

Lái[sửa | sửa mã nguồn]

Đạn có thể lái từ xa, có thể bám theo mục tiêu, có thể dùng định vị... tức là tất cả các phương pháp điều khiển có thể giúp đạn đi đến đích. Loại đạn bắn xong không phải quan tâm nữa là đạn "bắn và quên". Để lái đạn cần "bám mục tiêu" (track), có thể bằng người thông qua các phương tiện quan sát điện tử, hay hoàn toàn tự động.

Người ta phân biệt ba mức lái. Một là đạn bắn ra rồi tự đến mục tiêu, không cần liên hệ gì với bệ phóng. Hai là đạn được lái tự động nhưng có trợ giúp từ bệ phóng, sự trợ giúp này hoàn toàn tự động. Ba là đạn được chỉ thị mục tiêu hoặc trực tiếp lái bởi người. Những đạn có liên hệ với bệ phóng có thể dùng radio (như các SAM), laser (ATGM-15), hay dùng dây dẫn (AT-3 nguyên thủy), hay đèn chiếu hồng ngoại như các AT-3 cải tiến. Các đạn tự hành chống tăng có tốc độ rất cao so với mục tiêu thường dùng cách lái bám đường, đạn tự hiệu chỉnh vào dường thẳng nối bệ phóng và mục tiêu, thông qua ống nhận dạng quang hay chùm laser.

Các đạn tự hành đạn nào cũng có con quay để ổn định tự động. Các đạn homing dễ dàng lái tự động do đó đạt độ linh hoạt cao, ví như đạn tầm ngắn hướng hồng ngoại. Một số đạn cần máy tính lớn nhận dạng mục tiêu, không mang theo trên đầu đạn được, sử dụng lái bám đường. Bệ phóng luôn phát hiện sai lệch đạn và đường thẳng đến mục tiêu, lệnh cho đầu đạn hiệu chỉnh qua radio, chùm laser, dây dẫn. Nhiều đạn tự động tự hiệu chỉnh vào giữa chùm laser, tâm chùm chính là đường bay thẳng.

Các đạn đối không gặp nhiều thuận lợi khi nhận dạng mục tiêu tự động bằng hồng ngoại, radar hoặc lỗ trống tử ngoại trên bầu trời. Các đạn chống hạm dễ dàng phát hiện ra tàu địch-kể cả tàng hình bằng radar bước sóng dm. Phương pháp bay rất thấp tốc độ cao cho phép các đạn chống hạm vượt qua phòng thủ đối phương, được trợ giúp bởi dẫn đường quan tính và đo cao radio.

Nhận dạng mục tiêu trên đất rất khó khăn. Các đạn không chính xác lắm như bom lớn đánh từ máy bay thì có thể dùng radar. Việc dùng nhiều màu hồng ngoại cũng tăng vọt khả năng tự động những năm 1980-1990. Trong thập niên 1990, Nga phát triển AT-15 sử dụng băng sóng mm. Ngày nay, việc tự động nhận dạng hình ảnh đang phát triển.

Những loại đạn tự hành thường thấy[sửa | sửa mã nguồn]

Đạn tự hành có rất nhiều loại. Nó có thể ở ngầm dưới nước, nổi trên mặt nước, đi trên mặt đất, nay trên trời hay có tầm vũ trụ. Đạn dưới nước có ngư lôi. Đạn trên mặt đất có các loại xe như mìn điều khiển từ xa có bánh xe. Đạn đất đối không là SAM (surface to air missile), đạn không đối đất là ASM, đạn không đối không là AAM, đạn chống tăng là ATGM (anti tank guided missile), rồi đạn chống hạm, sát thương, chống công sự cố định, chống vệ tinh... Các đạn chống tàu ngầm có 2 phần, phao nổi liên lạc với ngư lôi ngầm bằng dây và nối với bệ phóng mẹ bằng radio. Ngoài ra còn rất nhiều loại đạn theo các cách chia đôi khi không thống nhất.

Đạn tự hành đường đạn[sửa | sửa mã nguồn]

là loại đạn có động cơ chính hoạt động trong thời gian ngắn, sau đó, chủ yếu đạn bay theo quỹ đạo giống đường đạn, được các động cơ nhỏ hơn hiệu chỉnh; tiếng Anh là ballistic missile, người Tàu gọi là 彈道導彈 hay "đạn đạo đạo đạn". Ở đây, chữ 道 "đạo" là "đường" nên 彈道 là "đường đạn", còn chữ 導 "đạo" là "dẫn dắt" nên 導彈 là "đạn được lái". Người ta thường dùng các cụm từ viết tắt

đạn tự hành hành trình[sửa | sửa mã nguồn]

BGM-109 Tomahawk

Trái lại với đạn đường đạn, đạn tự hành hành trình là đạn có động cơ chính đẩy nó suốt dọc đường, còn gọi là đạn tự hành tuần hành (nghĩa là động cơ tuần tự trong hành trình; tiếng Anh: cruise missiles; Hán-Việt: tuần hành đạo đạn). Đạn tự hành hành trình thường hay bay trong không khí, có cánh và cũng hay được gọi là đạn tự hành có cánh, đặc biệt là người Nga thích thế.

Về nguyên tắc, các đạn tự hành đối không là hành trình, nhưng người ta ít dùng từ này mà dùng từ chuyên dùng là đạn đối không AM cho lĩnh vực này.

Đạn tự hành hành trình thường được dùng cho các vũ khí tầm xa. Trong trường hợp này, đạn tự hành thường dùng động cơ máy bay dùng không khí, động cơ này đắt nhưng giảm đi phần lớn chất đẩy phải mang theo. Ví dụ như tên lửa đối đất tầm xa Tomahaw sử dụng đường bay là là mặt đất tranh phòng không địch. Hầu hết các đạn diệt hạm Nga sản xuất là đạn tự hành hành trình, chúng có thể chọn nhiều phương án đánh, đánh theo nhóm... đặc biệt nhất là chúng có thể bay là là cách mặt biển 5-10 mét với tốc độ M2-M3 rất khó chống cự. Việt Nam dùng đạn chống hạm tầm ngắn P-15 từ những năm 198x. Loại đạn chống hạm mạnh nhất là của Krov bắn xa 700 km.

Đạn tự hành đối không[sửa | sửa mã nguồn]

S-300V (SA-12a Gladiator)
AA-11 Archer

Người ta thường ký hiệu đạn đất đối không SAM và không đối không AAM. Những đạn này có động cơ hoạt động trong suất thời gian đạn bay để lái đạn theo đường bay phức tạp. Hầu hết các đạn này dùng động cơ tên lửa, nhưng cũng có một số đạn dùng động cơ hút không khí. Các đạn tự hành đối không đều là loại đạn tự hành có cánh. Ngày nay các đạn đối không hiện đại đều sử dụng động cơ nhiên liệu rắn, loại động cơ này ít phải bảo dưỡng, sẵn sàng chiến đấu liên tục trong cả chục năm. Các đạn đối không đều có cánh lái phức hợp bao gồm cả lái bằng cánh khí động và lái bằng định hướng lực đẩy.

Các đạn đối không có thể hướng mục tiêu hay lái từ xa. Hướng mục tiêu là đạn luôn lao vào mục tiêu theo hồng ngoại hoặc sóng radar. Còn lái từ xa là máy tính hoặc người dùng hệ thống đo đạc lớn để định vị chính xác đạn và mục tiêu, tiên đoán vị trí mục tiêu và lái đạn theo đó. Ví dụ trong chiến tranh có SAM-2 là lái còn SAM-7 là hướng mục tiêu hồng ngoại. Một điểm quan trọng khi đánh giá đạn đối không là tốc độ tối đa của mục tiêu khi đánh đuổi và đánh chặn, S-300 là M2,8, S-400 là M4,8. Cho đến S-400 thì đạn vẫn yếu khả năng đánh tên lửa đạn đạo nên nhóm đạn tự hành chống tên lửa đạn đạo được xếp riêng. S-500 hiện nay đã đánh được tên lửa liên lục địa nên trong tương lai, khi đạn này được trang bị, thì sẽ có nhóm đạn tự hành chống máy bay và tên lửa đạn đạo, bên cạnh những đạn chỉ chống máy bay truyền thống và đạn chống tên lửa đạn đạo truyền thống. Người Mỹ lạm dụng dùng SM-2/SM-3 chống đạn đạo nhưng chúng kém S-400 và nhỉnh hơn S-300, nên các hệ thống sử dụng các đạn này như AEGIS cần chờ các đạn mới, hiện nay chưa có hiệu quả chống tên lửa đạn đạo.

Người ta có thể chia các đạn tự hành đối không ra các hạng: đất đối không SAM, không đối không AAM.... cũng có đạn bắn từ tàu ngầm. Đạn đất đối không cũng được dùng trên tàu nổi. Đạn đất đối không có thể chia ra làm ba hạng là tầm ngắn vác vai, tầm trung và tầm xa. Đạn tự hành không đối không cũng chi ra ba hạng là tầm ngắn, tầm xa và loại đạn tầm rất xa chống máy bay có khả năng vận động kém.

Strela 2, mã NATO SAM-7, tên Việt Nam A72

SAM nhỏ vác vai ví dụ như SAM-7 được dùng trong chiến tranh Việt Nam, thường có đầu dò hồng ngoại và lái theo hướng tự hướng mục tiêu. 9K38 Igla ngày nay (SAM-16) nặng cả ống phóng 11 kg bắn xa 5 km. Đạn tự hành đối không vác vai là sát thủ chính của máy bay trực thăng. Mặt yếu của đạn này là không đánh được các mục tiêu bay nhanh. Những đạn tự hành đối không tầm trung và trung ngắn dùng trên xe cơ động hay tháp pháo phòng không tầm từ trung đến cực ngắn của tàu chiến. Ngày nay được dùng thêm cho các hệ thống đối không bắn đối đầu bảo vệ mục tiêu như 9K33 Osa có tầm bắn 20 km, nặng 34 kg, 9K33 Osa được dùng ghép cùng với pháo điều khiển điện tử như xe tự hành 9K22 Tunguska, xe có 2 nòng 30mm liên thanh. Đạn tầm trung có thể dùng hồng ngoại, laser hay radar. Những đạn đánh chặn tốt nhất sử dụng laser, chùm laser lại được lái bởi máy tính tham khảo nhiều thiết bị trinh sát đo đạc lớn trên hệ thống mẹ (như tàu chiến), nên đánh chặn mục tiêu lao về mình chính xác và tốc độ phản ứng nhanh. Đạn đất đối không SAM tầm xa hiện nay bắn được 300 km như S-400. Hệ thống điều khiển của SAM rất lớn nên thường có tầm phát hiện mục tiêu cao hơn nhiều đạn. Hệ thống điều khiển cũng sử dụng rộng rãi các radar nhiều băng tần, băng dm... nên chống tàng hình tốt, chúng lái đạn có đầu radar nhỏ hơn về phía mục tiêu cho đến khi đạn nhìn rõ mục tiêu và đạn tấn công tự động với độ chính xác cao. Một số đạn tự hành chống tăng hiện đại như AT-14, AT-16 của Nga đánh được các loại máy bay có tốc độ dưới 800 km/h như các máy bay cánh quạt và trực thăng, cũng được dùng như SAM hay AAM.

Các đạn không đối không tầm ngắn ngày nay có tầm vài chục km, thường được lái bởi máy bay mẹ và có đầu tự hướng mục tiêu hồng ngoại. Ngày nay các đầu dò hồng ngoại thường đo nhiều tần số (nhiều màu), cho phép xác định chính xác nhiệt độ trên bề mặt mục tiêu, tránh bị đánh lừa bởi mồi nhiệt do mục tiêu tung ra. Thông thường, các đạn tầm ngắn ngày nay được máy bay mẹ lái cho đến khi nó dò được mục tiêu thì đạn tự đi tiếp, còn các đạn hồng ngoại ban đầu phải chờ phát hiện ra mục tiêu mới phóng. Trong giai đoạn đầu, đạn có hệ thống con quay hổi chuyển để thông báo hướng của nó với máy bay mẹ, còn vị trí của đạn và mục tiêu thì máy bay mẹ đo qua radar, chỉ có các máy bay đối không Nga như Su-30 mới có radar trước sau để lái đạn đánh ra mọi hướng, còn các máy bay khác chỉ có thể đánh được các mục tiêu ở góc phía trước. Đạn tự hành không đối không tầm ngắn mạnh nhất hiện nay là R-73 (hồng ngoại) và anh em của nó là R-77 (radar chủ động), Nga, đạn mạnh đến mức nó bắn ngược được từ máy bay mẹ có vận tốc M1, đảm bảo các điều kiện bắn ra mọi hướng và tấn công đến mục tiêu từ mọi hướng, ngoài R-73 ra thì không loại đạn nào thực hiện được điều này. R-73 có tầm 40 km. R-77 có tầm đánh mục tiêu khó nhất 50 km và nâng lên 80 km các mục tiêu bay chậm hay đánh đuổi. Đạn không đối không tầm xa có thể ví dụ R-37 Nga tầm 220 km. Đạn tự hành không đối không có tầm rất xa có thể kể Novator K-100, đạn này chỉ đánh được các mục tiêu có khả năng vận động kém như máy bay vận tải, người Nga sử dụng tấn công các máy bay mang radar AWACS, Novator K-100 đạt tầm đánh tối đa 400 km. Novator K-100 sử dụng quỹ đạo đường đạn để đến gần mục tiêu với tốc độ cao, sau đó đạn bật radar chủ động dò mục tiêu và tấn công. Giai đoạn đầu đạn Novator K-100 dùng dẫn đường quán tính. Novator K-100 dùng động cơ tên lửa nhiều tầng. Một số phương án thiết kế loại đạn có nhiệm vụ tương tự sử dụng động cơ ramjet dùng không khí.

Đạn tự hành đối không loại nhỏ vác vai thường sử dụng hướng mục tiêu bằng hồng ngoại, cũng như đạn không đối không tầm ngắn. Ngày nay, người ta dùng hồng ngoại nhiều tần số (nhiều màu), nhờ đó đó được chính xác nhiệt độ vỏ máy bay để phân biệt với mồi giả. Cũng có nhiều loại đạn tự hành đối không nhỏ dấn đường bằng laser theo cả hai cách là lái bám đường và hướng mục tiêu, thường những đạn này kiêm chức năng bắn máy bay và chống tăng, được bắn từ xe cơ giới hay máy bay, như AT-16 Nga.

Đạn tự hành đối không lớn đều dựa vào radar. Đạn được bắn lên và điều khiển ban đầu bằng radar của bệ phóng, sau đó đạn vẫn được lái hoàn toàn bởi bệ hoặc đạn có radar riêng. Radar riêng của đạn có thể là chủ động, tự nó phát sóng dò mục tiêu, nhưng cũng có thể là thụ động nó dò sóng từ radar trên phương tiện khác của hệ thống phóng. Ngày nay người ta nỗ lực giảm phản xạ sóng radar, nhưng các bước sóng dài dm thì cho đến nay máy bay chiến đấu không thể tàng hình được, còn các bước sóng cm thì vào tầm gần máy bay tàng hình vẫn hiện lên rõ ràng. Để chống nhiễu điện tử, các radar ngày nay dùng nhiều tần số và nhảy tần ngẫu nhiên.

Bắt đầu từ chiến tranh Việt Nam thì vũ khí đối không then chốt là đạn tự hành, kể cả các máy bay bắn nhau hay là bắn từ mặt đất lên máy bay. Chiến tranh này cũng đã đảm bảo khả năng bảo vệ bầu trời trước các cuộc tấn công bằng máy bay bằng vũ khí mặt đất. Trong lịch sử, người Đức đã bắn về phía máy bay đồng minh một loại đạn không đối không lái dây và kích nổ bằng âm thanh, có một số tin nói đã có chiến công-nhưng dẫu có cũng là không đáng kể. Trong lúc đó người Đức cũng phát triển đầu dò hồng ngoại, ban đầu đầu dò chỉ có một điểm đo và có gương quay để lần lượt hướng từng tia nhiệt vào đầu đo, tuy nhiên phương án này không khả thi. Sau chiến tranh, hướng nghiên cứu này chạy sang Mỹ, ngày 18-11-1958 là một ngày lịch sử khi Đài Loan dùng AIM-9 bắn rơi một số máy bay MiG-15 Trung Quốc, Trung Quốc dò xét từng dm2 diện tích vùng chiến sự, tìm được một đạn đã cắm vào mục tiêu nhưng không nổ, sau đó họ giữ lại đầu dò và mabng phần còn lại về Liên Xô. Chính vì thế mà các MiG-21 trong chiến tranh Việt nam mang đạn giống hệt như Mỹ. Sau WW2, Liên Xô đi theo hướng đạn tầm quang, từ vụ trên thì Liên Xô chuyển sang hồng ngoại. Cũng trong chiến tranh Việt Nam thì Mỹ dùng máy bay F-4 đánh bằng đạn radar, máy bay có 2 phi công, một phi công điều khiển vũ khí phụ trách bắn đạn hướng radar thụ động. Lúc này đạn tự hành tuy có nhiều ưu điểm nhưng còn yếu, nên sau đó Mỹ lại học Việt Nam quay lại dùng súng-các bản F-4 ban đầu không có súng.

Cũng vào WW2 thì Đức đã chế tạo nhiều đạn SAM A4. Đạn này được lái thủ công qua màn hình radar. Tuy nhiên, người Đức đã không thể hoàn thiện radar cho mục tiêu này. Sau đó, Liên Xô đã phát triển tiếp và cho ra đời SAM-1, nhưng giá đắt và chỉ bảo vệ một số mục tiêu quan trọng. SAM-2 là phiên bản SAM đầu tiên được dùng rộng ở Liên Xô. Mỗi loại SAM thật ra là một nhóm các radar và các đạn cùng lớp kỹ thuật chứ không phải là một loại đạn. Từ 197x thì máy tính đã phát triển, thiết bị bay không người lái đã bay tốt hơn có người lái, nên SAM thực chất đã mạnh hơn đối thủ của nó là máy bay có người lái. Vào thời SAM-2 thì loại này có đạn bắn xa 30 km, nó định vị mục tiêu kém chính xác nên dùng đầu nổ rất lớn nhồi 295 kg thuốc để trùm lên khu vực rộng. SAM-2 trong chiến tranh Việt Nam đã khá lỗi thời, kém khả năng chống nhiễu.

Đạn tự hành chống tăng ATGM[sửa | sửa mã nguồn]

9M133 Kornet

ATGM dùng đầu đạn lõm để xuyên giáp. Ngày nay các ATGM thường dùng đầu đạn tandem 2 tầng để vượt qua giáp phản ứng nổ ERA. ATGM hiện nay có tầm bắn diệt giáp hạng nặng cao hơn pháo tăng bắn đạn xuyên APFS-DS, ATGM bắn từ phương tiện cơ giới ngày nay vượt 5 km, APFS-DS chỉ 1 km. ATGM cho phép máy bay không mang được pháo tăng cũng diệt được xe tăng ở tầm xa. NGoài ra, xe tăng ngày nay cũng áp dụng ATGM bắn từ nòng pháo. Đạn ATGM dễ bị lỗi hơn đạn xuyên truyền thống, các nguyên nhân lỗi là nhiễu mất điều khiển, bắn vào giáo quá nghiêng, hay gặp giáp phản ứng nổ. Đạn ATGM cũng dễ bị đánh chặn hơn bởi các hệ thống đánh chặn bảo vệ xe tăng APS. Đêt tăng độ tin cậy cần bắn chính xác ATGM vào những chỗ yếu trên vỏ xe tăng như ổ đỡ tháp pháo, nóc xe, đuôi xe...

ATGM có thể dùng cho người đi bộ,vác vai, xe cơ giới hạng nhẹ, máy bay cánh cố định hay trực thăng, bắn từ nòng pháo tăng... Những ATGM dành cho người đi bộ nhỏ nhất là vác vai, sau đó là loại dùng trên giá 3 chân 1 người mang... chúng thường có tầm ngắn hơn đạn dùng trên máy bay và xe cơ giới. Ngày nay, đạn tự hành chống tăng dùng trên máy bay và xe cơ giới, loại bắn trực tiếp mục tiêu nhìn thấy, thường có tầm tối đa 6–8 km. NHững đạn vác vai nhỏ có tầm 600 mét, những đạn vác vai to đạt 1,5 km, còn đạn cá nhân có giá 3 chân đạt đến 4 km.

ATGM có cơ chế đẩy rất đa dạng nhưng thường dùng động cơ tên lửa. Nó có thể dùng động cơ tên lửa như ATGM-3 trong chiến tranh, dùng trong một tổ bộ bịnh 3 người. Các pháo tăng bắn ra loại ATGM chuyên dùng, có thể có động cơ tên lửa, hay chỉ bay theo quán tính và lái bằng cánh khí động. Ngày nay, đa phần các đạn tự hành chống tăng thường dùng động cơ tên lửa có ống phụt ở giữa thân, nhờ đó đuôi viên đạn không bị khói che khuất khỏi các thiết bị quan sát từ bệ phóng.

Các ATGM ban đầu như ATGM-1/2/3 lái bằng dây, đạn vừa bay vừa xả dây truyền tín hiệu lái nối với bệ phóng. Người lái thủ công cầm cần lái chỉnh cho đạn nằm trên đường nối giữa mắt và mục tiêu, gọi là lái bám đường thủ công MCLOS (Manual Command to Line of Sight)). Máy điều khiển của đạn loại này đơn giản, nó chỉ cần xác định 2 trong số 3 hướng và không cần định vị. Sau đó thay bằng lái bám đường bán tự động SACLOS (Semi-Automatic Command to Line of Sight). Ngày nay ngoài các cách lái này ra,thì các cách lái như hướng mục tiêu bằn hồng ngoại, laser, hình học.... đã phát triển. Khi lái bám đường bằng laser, thì bệ phóng bắn liên tiếp các tía laser mang theo thông tin về hướng tia xung quanh đường bay, khi thu được các tia truyền tin này, đạn sẽ biết được nó nằm ở đâu trong chùm tia, và hiệu chỉnh đường bay về giữa chùm tia. Ngày nay, các xe tăng hiện đại có hệ thống tự vệ gây chói khi phát hiện bị tấn công bằng laser hay hồng ngoại chủ động, nên cách lái an toàn nhất vẫn dùng dây mặc dù không đi được xa như laser. Những đạn tin cậy nhất có nhiều phương án lái để xạ thủ chọn lựa. NHững loại đạn Nga như AT-14 dùng một đường bay đặc biệt để tránh bị phát hiện, trwn đường đến mục tiêu đạn bay cao để máy lái không chiếu laser đến mục tiêo, khi gần đến nơi đạn mới hạ xuống-mục tiêu phản ứng không kịp. NGoài kiểu bám đường thì kiểu lái tự hướng mục tiêu "homrming" cũng được sử dụng, ngoài định tâm hồng ngoại thụ động, thì hiện nay và trước đây có các kiểu hồng ngoại chủ động hay laser. Để hướng mục tiêu bằng laser thì người ta chiếu chùm tia đã mã hóa thông tin vào mục tiêu, đạn sẽ hướng vào đó.

Để xác định mục tiêu, máy lái ngày nay cũng dùng các biện pháp thủ công hay tự động như trên. Đạn AT-15 Nga là đạn đầu tiên sử dụng radar băng sóng mm để phát hiện định vị mục tiêu trên AT-15. Các cách định vị-bám mục tiêu bằng hình học cũng mới được phát triển nhưng còn quá kém tin cậy cho đạn nhỏ.

Ngày nay đã có những đạn ATGM tự động hoàn toàn, chúng tự tìm ra xe tăng và tấn công, tuy nhiên, khả năng nhầm lẫn của chúng còn cao. Nga và Đức đã sử dụng các loại đạn này. Ví như giàn tên lửa nhiều nòng MRLS BM-30 Smerch (tiếng Nga: Смерч) có đạn MOTV-3F, mỗi đạn mẹ mang 5 đạn con bắn xa 90 km, mỗi xe bắn liên tiếp 12 đạn mẹ. Khi tách khỏi đạn mẹ, đạn con dùng dù rơi xuống chậm quan sát, khi phát hiện mục tiêu bằng hồng ngoại nhiều bước sóng có đo nhiệt độ, đạn con tách khỏi dù tấn công [6]. BM-30 cũng bắn ra một loại đạn đặc biệt là các UAV dùng một lần, chúng bay lượn trên vùng trời có mục tiêu để trinh sát cũng như chụp ảnh lại kết quả bắn.

Sơ lược lịch sử đạn tự hành chống tăng ATGM[sửa | sửa mã nguồn]

Đạn tự hành chống tăng ATGM đều có thiết kế sử dụng nguyên lý đầu đạn lõm xuyên giáp hạng nặng. Loại đầu đạn này cũng được dùng trên các súng pháo khác, thường gặp nhất là các súng pháo không giật. Trong WW2, loại đầu đạn này đã được dùng rộng rãi trong các súng chống tăng vác vai ở cả hai bên, như Bazoka Mỹ và Panzerfaust Đức, tuy nhiên, cấu tạo các đầu đạn của các súng này vẫn đơn giản, sử dụng thuốc nổ thông dụng cho đạn pháo là TNT, truyền nổ dưới lên. Cấu tạo truyền nổ đơn giản này giảm klhả năng xuyên sâu, giảm khả năng xuyên khi va phải giáp nghiêng, làm các vũ khí này không có hiệu quả lớn trong chiến tranh (trong trận Làng Vây, M72 va phải giáp mỏng của PT-76 cũng văng ra do giáp này quá nghiêng). Cho đến khi B-40 được Liên Xô chấp nhận sử dụng năm 1949 thì khối Xã Hội Chủ Nghĩa cũ chuyển sang dùng trạm truyền nổ chữ U. Trạm truyền nổ chữ U cho phép xuyên sâu kể cả khi đạn gặp giáp nghiêng, từ đây các loại đầu đạn này có vai trò quan trọng trong chiến trường Link phân biệt trạm truyền nổ chữ U và dưới lên [cần dẫn nguồn]. Bên Phương Tây, cho đến khi Tây Đức sát nhập Đông ĐỨc thì không có bài toán tính toán để thực hiện trạm truyền nổ chữ U, PanzerFaust 3 phiên bản cải tiến sau khi sát nhập là bản đầu tiên của phương Tây có trạm truyền nổ chữ U và tandem, tuy nhiên chỉ rất ít nước quanh Đức sử dụng. Sau khi có các giáp phức hợp khởi đầu là T-64, và đặc biệt sau khi giáp phản ứng nổ ERA được lắp đại trà trên T-72, thì đạn lõm có thêm tandem tức 2 tầng vượt ERA. Gần đây, Nga đã sản xuất súng cá nhân 2 nòng bắn ra 2 đạn trước sau, một đạn để phá ERA. Ngoài giáp phản ứng nổ ERA thì tiền thân của giáp phức hợp đã có từ thời WW2, người tá dùng lưới bọc quanh các xe tăng T-34 để ngăn panzerfaust, lưới này ngày nay gọi là lưới B40.

Mỗi đầu đạn lõm có cấu tạo cơ bản là khối thuốc nổ lõm bao ngoài tấm tích năng lượng. Khối thuốc lõm ngày nay dùng HMX truyền nổ rất nhanh. Sau khi nổ, tấm tích năng bị nén thành một vật chất có mật độ cao, tốc độ cao, nhiệt độ cao để xuyên giáp (link trên). Tấm tích năng thường làm bằng đồng và có thể làm bằng volphram. Vì cấu tạo này, đầu đạn lõm muốn xuyên tốt cần được điểm hỏa đúng khoảng cách và thời điểm với yêu cầu chính xác phần vạn giây. Đạn B41 RPG-7V dùng tinh thể áp điện để tạo điện kích nổ khi va đập, tránh dùng ngòi cơ khí gây trễ như B40. Ngày nay các ATGM kích nổ điện nhưng bằng mạch điển tử thông minh. Cho đến nay, cũng chỉ ATGM Nga dùng loại trạm truyền nổ chữ U.

Loại đạn tự hành chống tăng đầu tiên Đức sử dụng là một xe xích lái từ xa chạy bằng động cơ đốt trong, xe mang một khối thuốc lớn, không khoan được giáp nhưng lật ngửa được xe tăng. Xe được lái bằng dây rất đơn giản, dây dẫn là dây đôi truyền điện, nếu không có điện thì xe đi thẳng, có một chiều điện thì xe rẽ một bên, đổi chiều điện thì xe rẽ bên khác, hệ thống điều khiển chỉ có vài diode lọc điện tần số thấp mà con người đã biết từ 187x, rất tin cậy, dòng điện sẽ hút các bộ côn kéo 2 xích hai bên. Nguyên lý này cũng được sử dụng để điều khiển các ngư lôi cổ.

Loại tên lửa chống tăng có điều khiển đầu tiên là Ruhrstahl X-7, một phiên bản của Ruhrstahl X-4 [7][8]. Các đạn này lái bằng tín hiệu truyền qua dây, đạn vừa bay vừa xả dây dẫn ra. Panzerabwehrrakete X-7 (tên lửa chống tăng X-7) là tên chính thức của ATGM này, nặng 9 kg, vận tốc khoảng 100 m/s, tầm bắn 1000 mét. Đạn sử dụng 2 tầng động cơ tên lửa nhiên liệu rắn, có hai cánh, mang hai dây điều khiển, một dây lên xuống và một dây trái phải. Đạn có con quay hồi chuyển và khi bay đạn quay với vận tốc 2 vòng / giây, nhờ con quay hồi chuyển mà mạch điện sẽ nối khi đạn quay đến góc thích hợp để thực hiện lệnh lái, đạn phun ra bột sang để người điều khiển dễ quan sát. Link chi tiết về tên lửa này [9]. Đầu đạn nhồi 2,5 kg và điểm hỏa bằng ngòi chạm nổ. Đạn ra đời trong tình huống mà mạch điện tử còn quá yếu nên các giải pháp kỹ thuật quá phức tạp, do đó đạn không được ứng dụng trong chiến tranh. Tuy nhiên, nguyên tắc điều khiển này là nguyên tắc chung cho đến nay.

Sau chiến tranh, người Pháp đi tiên phong trong việc phát triển ATGM. Một thuận lợi là các transitor được phát triển thu nhỏ, tin cậy, cho phép bắt đầu thời đại máy tính với những mạch số đơn giản. Tên lửa chống tăng đầu tiên của Pháp là SS.10, được phát triển từ năm 1948 và chấp nhận sử dụng năm 1955. Đầu nổ nhồi 5 kg, cả đạn 15 kg, tầm bắn xa nhất 1600 mét. Sau đó có các đạn ENTAC được chấp nhận năm 1957 và sản xuất đến năm 1974 với số lượng 14 vạn đạn, sử dụng chất đẩy lỏng. Thụy Sỹ / Đức có đạn tương tự là Cobra được chấp nhận năm 1957, cả đạn khoảng 10 kg, đầu nhổi 2,5 kg, tốc độ khoảng 100–140 m/s.

Tuy nhiên, như trên, phương Tây thiếu việc cải tiến dùng trạm truyền nổ hình chữ U nên cả đạn không điều khiển và có điều khiển dùng liều nổ lõm đều không có tính năng xuyên đủ tin cậy và các vũ khí này ít được dùng. Mặt khác, tốc độ phát triển của giáp xe tăng lúc đó quá nhanh, nên những đạn không đáp ứng được sự phát triển đó đều kém hiệu quả.

Phía Liên Xô, đạn 3M6 Shmel được chấp nhận năm 1960 mã NATO AT-1. Đầu nhồi 5,4 kg, cả đạn 22,5 kg, tầm tối đa 2300 mét, xuyên được 300mm tương đương thép cán tiêu chuẩn có giáp phản ứng nổ RHA. AT-1 có phần điển khiển rất giống các đạn ra sau của phương tây như Cobra. Tốc độ bay 100 m/s. Các đạn này có nhiều cánh lái ở các hướng khác nhau như đạn đối không ngày nay.

Về nguyên tắc, các đạn này lái bằng cánh khí động, chỉ có điều là mạch điện tử hoàn thiện hơn, truyền được tín hiệu lái vào trong 1 dây không phải dùng 2 dây, và các cánh lái đã hoàn thiện hơn. Tuy nhiên, các đạn cho đến lớp này vẫn dùng nguyên tắc lái đó và như thế khả năng đạn đến được đích là không đạt yêu cầu. Với tốc độ rất chậm, lưới B40 dễ dàng ngăn được ATGM lớp này, không cho nó chạm vào giáp chính của xe tăng, nên những ứng dụng của ATHM lớp này hạn chế.

Sự cải tiến quan trọng và nguyên tắc của cải tiến này còn giữ cho đến nay có mặt trên đạn 2k8 Falangra thường được NATO ký hiệu là AT-2, sử dụng lại cách lái của X-7. Đạn sử dụng một cơ cấu lái chung thay cho các cánh lái hướng khác nhau. Đạn vẫn quay trên đường bay và cơ cấu lái chung sẽ phản ứng theo lệnh ở từng góc quay của đầu đạn. Tuy nhiên. AT-2 vẫn chưa hoàn toàn sử dụng cánh lái khí động chung cho các góc này, nó vãn chưa bỏ các cánh lái hướng riêng. AT-2 dùng được trên xe và máy bay, 27 kg, đầu nổ 5,4 kg như cũ, tốc độ 150–170 m/s. Nó có thể vượt qua phần lớn các trường hợp dùng lưới B40.

AT-3 là phiên bản hoàn thành cải tiến này. AT-3 có tên Nga là 9k11 Малютка (ma liu ka, bé con). AT-3 không phải là phiên bản dùng trên xe như AT-1 và AT-2, mà như các đạn phương tây khác, là phiên bản dùng cá nhân. Đạn được chấp nhận năm 1961 cùng đợt với việc Liên Xô tổ chức bộ binh cơ giới mới, kiểu mẫu cho bộ binh cơ giới thế giới ngày nay. Lúc này, có hàng loạt vũ khí được trang bị mới là B41 RPG-7 (1959), AKM (1959), súng máy đa năng PK, súng trung liên kiêm chức súng trường xung phonh RPK (1959-1961). Điều đáng kể nhất là các xe chở bộ binh BTR/APC được thay bởi các BMP/IFV, Liên Xô đưa vào sử dụng BMP-1. AT-3 có tầm bắn 2–3 km, đầu nổ 2,5-3,5 kg nhưng đã cải tiến hình dáng và chất thuốc để có sức xuyên vượt bậc, cả đạn 11–12 kg, tốc độ 115–130 m/s. AT-3 trở thành đạn kiểu mẫu cho cả thế giới, thậm chí là cả Bắc Nam Triều Tiên đều copy đạn này với các tên gọi khác nhau, Đài Loan cũng không vì tình bằng hứu với Mỹ mà không copy một bản về dùng. AT-3 sử dụng một cơ cấu lái duy nhất dùng lái hướng lực đẩy chứ không phải lái khí động như AT-2, đạn đã bỏ các cơ cấu lái hướng riêng trong các đạn cũ. Đạn AT-3 quay với tốc độ 8 vòng/giây, khi đạn đến góc hợp với lệnh lái thì nam châm điện hút cánh lái lực đẩy đạp vào luồng khí phụt ra. Khả năng đến mục tiêu của cơ cấu này tăng vọt. Sau này thì cả thế giới chấp nhận và cải tiến nguyên tắc lái bằng một cơ cấu này.

AT-3 với cơ cấu lái có một hướng duy nhất trên tuye sau đuôi, các cánh gập vào cho gọn khi vận chuyển

Các trang mạng theo wiki nói AT-3 thiết kế theo các phiên bản phương Tây là hết sức nhảm nhí. Ví dụ Việc thiết kế được dựa trên các mẫu tên lửa chống tăng của phương Tây trong những năm 1950, như Entac của Pháp và Cobra của Thụy sỹ.. Tất cả các ATGM phương Tây nói chung và châu Âu nói riêng đều sử dụng cơ cấu lái nhiều hướng cùng lúc bằng nhiều thiết bị lái, đây là phương pháp lái của đạn đối không. Chủ yếu phân ra 3 hướng hay 4 hướng lên xuống trái phải. AT-3 có phương pháp lái hoàn toàn khác về nguyên tắc, nó chỉ có một cơ cấu lái duy nhất, đạn quay tròn, trong khi con quay hồi chuyển trong đạn nhớ hướng bay, đến hướng cần lái thì cánh lái duy nhất nghiêng theo một chiều duy nhất, nhờ đạn quay tròn mà cánh lái duy nhất này lái đạn theo mọi hướng.

Mặt khác, AT-3 khi trang bị cho tổ 3 người đã trở thành bộ vũ khí hoàn chỉnh, 2 thành viên còn lại sử dụng B41 có tầm bắn hiệu quả lên 300 mét, bằng tầm súng bộ binh. Các đạn lái dây thủ công đều có khoảng điếc vài trăm mét trước khi đạn lái được, nên B41 bù vào khoảng này. Còn trước đây các đạn khác phải chấp nhận khoảng điếc, không thể trở thành bộ vũ khí hoàn chỉnh, vì B40 chỉ có tầm bắn hiệu quả 150 mét.

Điểm hạn chế của các đạn lái dây thủ công là đạn không thể có tốc độ cao. Trong tiến trình phát triển của mình, AT-3 đã phát triển thành lái nửa tự động SACLOS. Ban đầu, những bản SACLOS sơ khai của AT-3 sử dụng hướng hồng ngoại cả thụ động và chủ động, ở trường hợp chủ động, người ta chiếu đèn hồng ngoại vào mục tiêu. Sau này phương án dùng đến nay là máy lái định vị được đạn bằng hồng ngoại và người bắn hướng ống ngắm máy lái vào mục tiêu để máy so sánh và quyết định lệnh. Loại AT-3 nay vẫn rất phổ biến trên thế giới và liên tục được sản xuất, cải tiến.

AT-3 sau này có SACLOS nhưng bản thân ban đầu nó là lái thủ công nên tốc độ các bản cải tiến ít vẫn thấp, đạn tốc độ thấp dù có cố vượt qua lưới B40 thì cũng khó khăn khi tấn công các giáp bố trí bảo vệ phức tạp hơn. Cải tiến SACLOS được thực hiện mới trên AT-4 9K111 Fagot. Cũng như ngày nay, đạn được chứa trong ống phong kiêm thùng vận chuyển, phóng ra bằng liều phóng như B41 và sau đó đạn khởi động động cơ tên lửa, khoảng điếc rút xuống còn vài chục mét. Chính xác hơn là đạn có tầm bắn 70-2500 mét. Cả bệ là 22 kg và đạn 11,5 kg. Tốc độ của đạn đạt 186 m/s, bằng một viên đạn pháo tầm gần, nên vượt qua các bảo vệ ngoài của xe tăng dễ dàng. Cơ cấu lái dùng một máy lái duy nhất nhưng là hai cánh khí động đặt ở mũi đạn, cánh khí động hoạt động được dễ hơn nhờ tốc độ cao. AT-4 dùng phương pháp lái của AT-3 cải tiến SACLOS, tức xạ thủ hướng kính ngắm về mục tiêu, máy lái nhận ra vị trí của đạn bằng hồng ngoại và truyền lệnh qua dây. AT-7 9K115 Metis là phiên bản thu nhỏ, đầu nổ 2,5 kg nặng 6,3 kg bắn xa 1000 mét. AT-13 nặng 14 kg bắn xa 2000 m nối tiếp dòng này. AT-5 9M113 Konkurs là đạn nâng tầm lên 4 km, 16kgm, tốc độ 200 m/s. Đạn AT-5 9K114 Shturm 32 kg chuyển sang vô tuyến, 345 m/s, tầm 5 km. Lứa đạn AT-4/5/6 đã hoàn toàn khắc phục nhược điểm dễ bị cản của tộc độ chậm, chúng đã nặng và đi nhanh như pháo hạng nặng tầm xa.

Phương pháp truyền lệnh qua dây đến nay vẫn sử dụng vì tính án toàn đặc biệt của nó. Nhưng phương pháp truyền lệnh qua radio được ứng dụng với những đạn tầm xa và có tốc độ cao. Nào những năm 197x thì mỗi đầu đạn đã dễ dàng mang được CPU khá lớn thừa đủ khả năng mã hóa chống nhiễu, cũng như các đầu đạn chỉ cần những thông tin ít ỏi được phát đi trên những xung định hướng rất mạnh khó gây nhiễu. 9K112 Kobra AT-8 là đạn bắn từ nòng pháo tăng, tốc độ tối đa 800 m/s như một đạn pháo rất mạnh. Đạn có một cơ cấu lái duy nhất bằng cánh khí động, có thể đến mục tiêu bằng 3 đường bay. Đường bay đường đạn bắn xa được máy tính điều khiển có tầm 4 km, giai đoạn cuối thì đạn mới bỏ quỹ đạo đường đạn chuyển sang bám đường. Đường bay bám đường luôn có tầm 1 km. Đạn có một cải tiến quan trọng là chuyển động cơ có ống phụt đuôi lên phía trước, khi xả phụt ra hai bên thân đạn, tránh khói che mất đường nhìn giữa máy điều khiển và đạn. Nguyên tắc lái như AT-4 vẫn là lái bám đường bán tự động, định vị đạn bằng hồng ngoại, xạ thủ hướng ống ngắm vào mục tiêu. Đạn dùng trên xe tăng T-64 cải tiến và T-72.

Cùng lớp với AT-8 có bản dùng trên máy bay AT-9 tốc độ 550 m/s, đã đã dễ dàng bắn được các máy bay chậm như máy bay trực thăng. 9M120 Ataka-V AT-9 có một đèn pha đăng sau đuôi để máy lái dễ dàng nhận ra vị trí đạn.

Lớp kỹ thuật nối sau là các 9M117 Bastion đưa vào trang bị đầu thập niên 1980, mã NATO AT-10, bắn từ nòng pháo tăng. Đạn vẫn có hai ống xả động cơ hai bên sườn, nhưng chuyển sang bám đường laser lái nửa tự động SACLOS. Lúc này, máy tính trên đầu đạn đã mạnh, nên việc định vị đầu đạn không phải do máy lái làm nữa mà đầu đạn làm và tự ra lệnh lái lấy. Xạ thủ chiếu ống ngắm vào mục tiêu, máy lái bắn lần lượt từng tia laser theo một chùm xung quanh hướng mục tiêu, mỗi tia có mang theo thông tin mã hóa vị trí của nó, đạn tóm được tia nào thì có vị trí tương đương tia đó. Phương pháp lái này an toàn hơn nhiều động tác nhận dạng hồng ngoại trước đây và đưa tỷ lệ đến đích lên gần 100/%. Phương pháp lái bám đường laser này hiện nay vẫn là phương pháp chủ lực của Nga và châu Âu. Các đạn AT-11/12 là các cỡ nòng pháo tăng khác nhau. Hiện nay, để tránh hướng laser vào mục tiêu dễ bị phát hiện, các đạn loại này bay bằng đường bay cao, khi đến gần mục tiêu mới bám vào đường nối bệ-mục tiêu. Đạn xác định khoảng cách đến mục tiêu-bệ phóng bằng đồng hồ đồng bộ, và máy đo xa laser trên bệ phóng.

Đến AT-13 là phiên bản cải tiến của AT-7 cuối 198x. Đạn vẫn sử dụng các hệ thống điều khiển cổ, lái dây, định vị đầu đạn bằng hồng ngoại. Lái bám đường bán tự động bằng xạ thủ hướng ống ngắm vào mục tiêu. cả bệ 14 kg, đạn 11 kg, tầm bắn 80-1500 mét. Một số cải tiến nhỏ của đạn là bắn được trong phòng hẹp. Cải tiến lớn quan trọng là đầu đạn tandem 2 tầng chống giáp phản ứng nổ, động cơ nằm giữia hai tầng đầu đạn và vẫn phụt ra tuye hai bên sườn. Các đạn ATGM Nga hiện nay đều dùng cấu hình này.

AT-14 nối tiếp nhiệm vụ của AT-13, đạn dùng cho tổ 3 người và cá nhân, nhưng dã chuyển sang bám chùm laser. Các đạn này bắn được máy bay có vận tốc dưới 800 km/h, tức là hầu hết các máy bay trực thăng và cách quạt. AT-14 có nhiều phiên bản đạn, trong đó tầm xa có đạn 27 kg 5500 mét. Khả năng đâm xuyên giáp phức hợp có RHA là 1200mm, xuyên hầu hết vùng dày nhất của các MBT hiện có trên thế giới, chỉ trừ mặt trước tháp pháo của T-90 khi trang bị đủ ERA Kontak V.

AT-16 nối tiếp nhiệm vụ của AT-9 dùng trên máy bay. Đạn vẫn lái bám chùm laser nhưng cải tiến lớn là ở bệ phóng. Phần mềm máy tính mới cho phép bệ phóng tự lock mục tiêu bằng định tâm hồng ngoại nhiều tần số, xạ thủ chọn mục tiêu chỉ bằng nhìn vào mục tiêu, thiết bị trên mũ phi công sẽ ghi nhận động tác chọn mục tiêu này. Nhờ vậy, máy bay bắn nhiều đạn đến nhiều mục tiêu một lúc hoàn toàn tự động.

AT-15 là hệ thống chống tăng sử dụng radar băng sóng mm, rada này tự động nhận ta các mục tiêu và theo dõi, xạ thủ chỉ cần chọn và bấm cò. Do 1991 và 10 năm đình đốn nên sau 2000 đạn này mới được đưa vào trang bị, ngoài Nga hiện nay không nước nào có radar và đạn loại này.

Ngoài các ATGM chuyên nghiệp, một số các đạn đối đất khác cũng sử dụng thuận tiện khi chống tăng. Ví dụ như các đạn điều khiển bằng TV hay hướng laser. Các đạn này thuận tiện hơn khi tấn công vào nóc xe, các máy bay đối đất đều trang bị phương tiện quan sát mặt đất đến mức tự động lock mục tiêu dạng xe tăng để sử dụng chúng. Su-15 là máy bay chuyên dùng để chống tăng bằng các phương pháp như vậy.

Trong số các nước mạnh về quân sự thì Mỹ luôn đi sau Nga và Châu Âu về ATGM. Cho đến hiện nay thì Mỹ vẫn dựa trên ba phiên bản ATGM chủ lực là TOW, Hellfire và Javelin. TOW là đạn chủ lực với lớp kỹ thuật lạc hậu, lái dây, định vị đạn bằng đèn chiếu phía sau đầu đạn như AT-8/9. Điều đáng nói ở TOW là nó vẫn dùng nhiều cánh lái như các đạn châu Âu sơ khởi SS10, chưa chuyển sang cấu tạo một cơ cấu lái duy nhất trên thân đạn xoáy. Javelin là phiên bản ATGM hiện đại hơn, được phát triển từ một bản hướng laser của Pháp. Ngoài hướng laser, Javelin hiện được trang bị phần mềm tự nhận dạng mục tiêu bằng hồng ngoại và cách đánh từ nóc xe xuống. Tuy nhiên, nhưng phương án này cho đến nay chưa thể hiện ưu việt, cách đánh từ nóc xe xuống thiếu chính xác, còn phần mềm tự động lock bằng hồng ngoại cần những camera hồng ngoại lớn với ống kính tinh vi nhiều chức năng mà đầu đạn khó mang nổi, ống kính và camera đơn sơ của đầu đạn không thể cho nhận dạng chính xác từ xa. Trong khi đó, những mặt cơ bản như chuyển sang lái bằng một cơ cấu và trạm truyền nổ chữ U thì Mỹ vẫn chưa thể thiết kế được. Phiên bản bắn từ máy bay AGM-114 Hellfire có radar mm cũng vậy, radar đặt trên đầu đạn quá nhỏ để làm việc tốt, ăng ten này chỉ bằng phần ngàn ăng ten của AT-15, đạn điều khiển bằng laser homing-tức chiếu laser vào mục tiêu để đạn lao đến, ngày nay phương pháp này dễ bị phát hiện và các xe tăng hầu hết được trang bị hệ thống tự vệ khi phát hiện bị ngắm bắn bằng laser. Cũng như các tên lửa trên, AGM-114 Hellfire vẫn chưa có một cơ cấu lái duy nhất và trạm truyền nổ chữ U.

Châu Âu phát triển bám sát Nga. Ấn Độ cũng đã có Nag, PARS 3 LR của Đức và Nag của Ấn Độ đạt mức tự động lock mục tiêu bằng hồng ngoại nhiều màu. PARS 3 LR sử dụng máy tính và CCD mạnh của bệ phóng để lock mục tiêu, chỉ thị cho CCD yếu của đầu đạn bám theo. Nag cũng vậy và bệ phóng lái bám đường đầu đạn bằng laser chùm bám đường, gần như AT-16 Nga.

Ngoài ra, bên Nga đã phát triển mạnh hệ thống tự vệ APS của xe tăng. Hệ thống này như Shtora hay Arena có các tác dụng phát hiện bị lọc bằng laser, chùm đạn lái laser, khi đó xe tăng sẽ tung ra mồi chói và khói rồi lẩn trốn. Khi đạn đến gần thì xe tăng có cấc radar phát hiện và đo được hướng đạn, bắn ra đạn phá hủy ATGM tự động. Chính vì thế, các ATGM cps yêu cầu thiết kế kém đều không thể đến gần giáp chính.

Đạn tự hành chống hạm[sửa | sửa mã nguồn]

Brahmos

Đạn tự hành chống hạm chuyên diệt tàu biển, cũng có nhiều loại đạn tự hành kiêm các chức năng đối hạm và đối đất. Yêu cầu riêng của đạn tự hành đối hạm là nó tấn công mục tiêu được bảo vệ rất tốt, hỏa lực mạnh. Hiện nay đã phổ biến loại pháo liên thanh phóng không tự động, ngắm bắn bằng máy tính qua các phương tiện trinh sát như radar-hồng ngoại, hay kết hợp các đạn tự hành dùng máy đẩy tên lửa đóikhông các cấp, từ SAM tầm xa cho đến các SAM tầm cực ngắn chuyên bắn đối đầu. Một đặc điểm nữa là đạn tự hành chống hạm cần có đầu đạn lớn như là chống các mục tiêu trên mặt đất.

Đạn tự hành đối hạm có nhiều cách để vượt qua hệ thống đối không. Phổ biến nhất của đạn Nga là tấn công bằng nhiều đạn cùng một lúc, các đạn bay theo nhiều đường bay khác nhau, trong đó đáng ngại nhất là các đường bay là là mặt biển và bổ nhào theo quỹ đạo đạn đạo. Đạn bổ nhào theo quỹ đạo đạn đạo có vận tốc rất lớn lên đến M5-M6, đầu đạn bảo vệ tốt, kể cả khi phần điều khiển của đầu đạn bị phá hủy không lái được, thì đạn vẫn lao theo quỹ đạo đường đạn, ở tầm súng phòng không chỉ một vài km thì vẫn đủ để đạn trúng hạm đã mất điều khiển đến trúng đích. Những đạn tự hành chống hạm có cánh kiểu Nga bay là là cách mặt biển 5-15 mét với tốc độ M2 đến M3, thời gian các máy quan sát định vị được đạn rất ngắn, cho đến nay phương Tây hầu như không có phương án chống cự. Người Mỹ không có đạn tự hành chính xác tốc độ cao dùng đạn tàng hình, nhưng khả năng kháng thiết bị bay tàng hình ở tầm gần ngày nay đã rất phổ biến.

Nếu nhìn về lịch sử đánh nhau trên mặt nước thì trước WW2 các vũ khí đánh nhau chủ yếu là pháo cỡ lớn 3xx-4xxmm, và chống cự lại chúng băng giáp thép dày hơn nửa mét. Trong WW2, Nhật Bản đã gây choang vì thiết kế hạm đội mới có tàu diệt tàu chủ lực là tàu sân bay. Từ đó, Mỹ học theo Nhật và cho đến nay vẫn dùng hạm đội kiểu Nhật Bản, loại hạm đội có tàu sân bay là vũ khí diệt tàu chủ lực. Đương nhiên, máy bay có tầm xa và mang được bom lớn hơn nhiều pháo lắp trên tàu. Đến cuối chiến tranh, khi đã yếu, Nhật Bản đã dùng máy bay có người lái cảm tử như một loại đạn. Nhưng dĩ nhiên máy bay có người lái quá cồng kềnh và không thể có khả năng vận động mạnh mẽ như máy bay tự động. Người ĐỨc đã thử nghiệm dùng đạn hành trình V2 để chống tàu, nhưng đạn này có khả năng vận động kém. Fritz X là loại đạn chống hạm đầu tiên, được Đức đưa ra và đã lập các chiến công lớn như bắn chìm soái hạm Ý. Ruhrstahl X-1 (Fritz X) có thể có động cơ nhỏ hay không có động cơ, nên nó lai giữa bom lượn và tên lửa, được lái qua sóng radio bởi hệ thống lái Kehl-Straßburg (phát triển bởi Telefunken) [10], đạn mang đầu chứa 300 kg thuốc nổ và có tầm xa 5 km, thả từ máy bay, tổng khối lượng phiên bản không động cơ 1362 kg, đầu đạn có mũ bảo vệ 130mm hợp kim nhôm. Đức đã dùng nhiều thiết bị điều khiển khách nhau cho nhiều loại đạn tự hành, nhưng do trình độ chung về điệnt ử ngày đó còn quá yếu nên các đạn của họ không được dùng nhiều, chúng dễ bị giải mã lệnh lái, gây nhiễu, cũng như có tính năng ban đầu quá yếu.

Sau chiến tranh, Liên Xô đã nỗ lực vượt bậc để đưa đạn tự hành chống hạm cũng như các loại đạn tự hành khác vào ứng dụng thực tế. CHiến lược của Liên Xô là phát triển các tàu sân bay bay tức các máy bay hạng nặng, bắn ra các đạn tự hành tức các máy bay không người lái. Khác với Liên Xô, Mỹ dừng lại ở mức hạm đội máy bay có người lái kiểu Nhật Bản. Loại đạn tự hành chống hạm được sản xuất lớn đầu tiên là KS-1 Kometa [11], đầu 195x, đây là phiên bản máy bay MiG-15 không người lái, mỗi Tu-16 mang được 2 đạn, đầu đạn nhồi 400 kg thuốc, bắn xa 80 km, điều khiển bằng radar. Sau này đạn KS-1 được cải tiến nhiều, tăng độ tin cậy, tầm xa, sức công phá, có các phiên bản bắn từ máy bay, xe cơ giới mặt đất và tàu biển. So với MiG-15 nguyên thủy thì đạn đổi sang dùng loại động cơ gọn nhẹ hơn, đổi lấy việc giảm tuổi thọ. Cho đến 197x Liên Xô cho ra loại chiến hạm chuyên dùng đạn tự hành trong vai trò tàu đối kháng diệt tàu chủ lực là Kirov Class (Type 1144.2), ngày nay chiếc Kirov đổi tên là Peter the Great (Piotr Đại Đế), nó đã lên đà hiện đại hóa nhiều lần, chạy bằng năng lượng hạt nhân. Tàu không mang giáp dày mà tự vệ bằng hệ thống phòng không nhiều tầng, radar lớn nhất trong số các tàu chiến. Vũ khí tấn công chủ yếu của tàu là các đạn P-700 Granit tầm bắn 700 km, đầu nhồi 750 kg thuốc, tốc độ tối đa M2,5, đường bay là là cách mặt biển 15 mét, cả đạn nặng 7 tấn. Cho đến nay, tấm bắn của loại đạn này vẫn gần gấp đôi tầm chiến đấu của máy bay trên tàu sân bay hiện tại của Mỹ là F-18 Hornet.

Các nước Trung-Ấn và nhiều nước khác đã tìm cách liên doanh-mua kỹ thuật của Nga để phát triển hàng loại các đạn diện hạm hiện đại như Brahmos Ấn Độ. Các đạn này đều trang bị radar hiện đại, đường bay là là mặt biển, phối hợp theo nhóm, tốc độ bay là là M2-M3, có các phiên bản bắn từ máy bay-xe cơ giới-tàu chiến-tàu ngầm. Nhưng cho đến nay không loại đạn nào mạnh như Granit. Hiện tại các nước ngoài Nga đều thỏa mãn với việc sở hữu loại đạn diệt hạm mạnh nhất của họ có tầm bắn khoảng 300 km. Riêng Brahmos là loại đạn rất mạnh trong số đó, đạn khởi động bằng động cơ tên lửa, sau đó động cơ khởi tốc được tháo bỏ, đạn tiếp tục tăng tốc bằng động cơ tuốc bin một luồng turbojet, khi đã bay nhanh, động cơ này tăng phần không qua tuốc bin trở thành động cơ lai giữa động cơ tuốc bin và động cơ luồng nén không khí bằng vận tốc ramjet. Brahmos có hệ thống dẫn đường chống tàng hình mạnh-trong khi bản thân nó lại tàng hình mạnh, tên lửa có radar riêng, trong đường bay thấp khi còn xa mục tiêu đạn được dẫn đường bằng radar mẹ từ bệ phóng, một đường may khác là đạn nhớ vị trí mục tiêu, bay thấp dùng dẫn đường quán tính đến gần. Một đường bay khác thừa kế từ thời các P-500 196x là một đạn bay cao chấp nhận để địch nhìn thấy nhưng cũng nhìn đựoc địch, cung cấp dữ liệu cho các đạn khác bay thấp, nay đường bay này rất hiệu quả khi có máy tính. Đạn bay cách mặt nước 10 mét với tốc độ M2,8, tầm bắn 290 km. Brahmos được phát triển từ P-800 Oniks, có cấu hình khí động giống như Granit nhưng nhỏ hơn, đạn nặng 3 tấn mang đầu nhồi 300 kg.

Đạn tự hành săn tầu ngầm[sửa | sửa mã nguồn]

Săn tàu ngầm là một kỹ thuật khó khăn, môi trường nước không truyền sóng điều khiển đạn, trong khi đó tàu ngầm cần được phát hiện bởi các phương tiện đặc biệt. Ví dụ về đạn săn tàu ngầm là RPK-9 Medvedka của Nga. Đạn nặng 800 kg, đạn có hai phần, một phần đầu đạn săn tàu ngầm bằng âm thanh, nó liên lạc với phần nổi qua dây dẫn truyền về bệ phóng mẹ. Khi vận hành, tàu mẹ bắn đạn đến khu vực có tàu ngầm, đạn tách đầu là một ngư lôi con ra. Độ sâu tối đa 500 mét, cao hơn độ sâu tối đa của tất cả các tàu ngầm phương Tây.

Có nhiều phương án chống tàu ngầm. Máy bay Su-32/34 có thể phát hiện tàu ngầm đang di chuyển từ xa qua phân tích sóng nước trên radar. Máy bay thả xuống khu vực có tàu ngầm khoảng 70 phao nổi, các phao này có liên lạc radio, định vi, và liên tục phát/thu hạ âm. Khi đã định vị được tàu ngầm thì các đạn chống ngầm mới hoạt động. Tuy nhiên, đạn tự hành chống tàu ngầm thường dùng trên tàu chiến, còn máy bay thì dùng các bom không điều khiển có ngòi nổ sâu, bom được thả xuống khu vực có tàu ngầm, khi chìm đến đúng độ sâu nhất định thì bom nổ.

Đạn tự hành đối đất[sửa | sửa mã nguồn]

Cũng như SAM chỉ đất đối không AAM chỉ không đối không, tiếng Anh thường ký hiệu đạn tự hành đất đối đất là SSM. Đạn tự hành chống mục tiêu trên mặt đất không đặt yêu cầu đối kháng cao như chống hạm, tuy nhiên, cũng có nhiều loại mục tiêu mặt đất được bảo vệ rất tốt. Như trên, có nhiều loại đạn tự hành kiêm chức năng đối đất và chống hạm.

Đạn tự hành đối đất rất đa dạng, từ các tên lửa đạn đạo liên lục địa, đạn tự hành có cánh tầm xa tầm gần, cho đến các bom lượn. Các đạn tự hành đạn đạo mang đầu đạn chiến lược đã nói ở phần trên.

Các đạn tự hành đạn đạo chiến thuật có thể kể đến 9K720 Iskander, đạn này được thiết kế cho vừa hiệp ước cắt giảm vũ khí, có tầm bắn nhỏ hơn 500 km theo hiệp ước một chút, nối tiếp các thế hệ cũ như 9К714 Ока. Iskander dùng để đánh chính xác các mục tiêu dưới 500 km như các đài radar, trung tâm chỉ huy, tàu chiến. Đạn bay theo quỹ đạo đường đạn vận tốc 2100 m/s (M6,5, hiện nay phương tây không có vũ khí chống trả), đạn nhảy quỹ đạo rất mạnh để vượt qua phòng thủ, đầu nhồi 400 kg, cả đạn nặng 3800 kg. Đạn có các chế độ dẫn đường bằng hệ thống dẫn đường quán tính, hệ thống định vị toàn cầu và radar, trong đó hệ thống dẫn đường quán tính không thể gây nhiễu cho độ chính xác 7 mét. Bản thân hệ thống định vị toàn cầu và radar cũng rất khó gây nhiễu trong đường bay của đạn này, vì khi bị nhiễu thì nó đã ở gần mục tiêu và vẫn tiếp tục dùng dẫn đường quán tính hay bay theo quỹ đạo đường đạn khi đầu điều khiển đã hỏng. Những đạn bắn bằng máy bay cũng có cấu hình tương tự nhưng nhẹ hơn nhiều nhờ vận tốc và độ cao của máy bay mẹ, như Kh-15 [12].

Đạn tự hành có cánh đối đất có thể kể các đại diện P-500 Bazalt nặng 4800 kg, mang đầu nhồi 950 kg, xa 550 km, tầm 700 km cho phiên bản sau, hiệu quả mang đầu đạn của đạn này cao hơn các đạn chống hạm, đổi lại nó không bay được quá thấp như đạn chống hạm, tốc độ của P-500 đạt M2-M2,3 tùy phiên bản. P-500 dùng động cơ tên lửa để xuất phát sau đó dùng ramjet-động cơ dùng không khí nhưng không có tuốc bin, ramjet dùng tốc độ để nén không khí. P-500 bay cao từ 50-7000 mét, được trang bị cho tàu chiến lớp Kiev vừa chống hạm vừa đối đất. Loại đạn tầm ngắn 110 km dùng để chống radar hay tàu chiến, bắn từ máy bay, khởi tốc bằng động cơ tên lửa và chạy bằng ramjet [13], Kh-31 nặng 600 kg vừa sức mang của máy bay đa năng thông dụng, không cần đến máy bay hạng nặng.

Các đạn tự hành có máy đẩy dùng không khí dùng động cơ không có tuốc bin chỉ có thể bay với tốc độ cao và hao nhiên liệu. Loại máy bay dùng động cơ tuốc bịn cho hiệu quả sử dụng nhiên liệu cao ở tốc độ thấp cũng được ứng dụng làm đạn không người lái. Nổi tiếng có Tomahawk BGM-109 của Mỹ. BGM-109 có đầu nhồi 450 kg, nặng cả đạn 1600 kg, bắn xa 800 dặm - 1300 dặm từ phiên bản (1300 km-2000 km), đạn phóng từ ống phóng tiêu chuẩn 600mm, sau đó cánh xòe ra. BGM-109 sử dụng động cơ tên lửa khởi tốc trong trường hợp không thả từ máy bay, sau đó đạn hoạt động bằng động cơ máy bay turbofan, động cơ turbofan là động cơ máy bay dùng không khí, có tuốc bin nhưng phân luồng khí, chỉ một phần không khí đi vào buồng đốt được nén mạnh, còn lại chỉ được nén nhẹ bằng fan không qua buồng đốt, loại động cơ này có lượng thông qua cao và là động cơ máy bay không dùng cánh quạt ngoài tiết kiệm chất đẩy nhất. BGM-109 tấn công bằng đường bay thấp luồn tránh phòng không, tốc độ dưới âm, tối đa 880 km/h. BGM-109 có các hệ thống dẫn đường bằng định vị toàn cầu, dẫn đường quán tính và dẫn đường bằng radar nhận dạng bản đồ. Việc nhận dạng bản đồ không phải chỗ nào cũng áp dụng được, còn hệ thống dẫn đường quán tính của Mỹ kém chính xác, cũng như không thích hợp với loại đường bay này, nên dẫn đường chủ yếu của BGM-109 là hệ định vị toàn cầu. Cách dẫn đường cũng như đường bay này là nhược điểm của BGM-109, tỷ lệ tên lửa đi lạc rất nhiều, bị bắn hạ nhiều... mặc dù mới chỉ đối phó với các đối thủ rất yếu. Ngay cả các đạn đến được mục tiêu cũng rất ít hiệu quả do không đánh chính xác, bằng chứng là các đài truyền hình của Lybia và Iraq luôn hoạt động cho đến kết thúc chiến tranh. Cùng loại này phía Nga có nhóm Kh-55 [14], tuy nhiên, do hoàn thiện hệ thống dẫn đường quán tính nên các đạn này an toàn hơn, cũng không vì thế mà người Nga lạm dụng loại đạn có đường bay quá xa nhưng quá yếu đuối này.

Phiên bản dưới âm tầm ngắn bên Mỹ là AMG-84 Harpoon nặng 690 kg đầu nhồi 220 kg bắn xa 124 km tốc độ dưới âm, đạn được dùng cho cả đối đất và chống hạm, trong nhiệm vụ chống hạm thì đạn là chủ lực của quân Mỹ. Đạn dùng động cơ khởi tốc tên lửa và sau đó là động cơ tuốc bin 1 luồng turbojet. Nga có Kh-35 tương tự như Harpoon, Kh-35 đang chú ý vì nó được trang bị cho Việt Nam, dùng động cơ turbofan thích hợp hơn cho tốc độ chậm. Cả hai loại đạn này đầu có các phiên bản bắn từ máy bay và tàu chiến, xe cơ giới, tàu ngầm. Nhình tổng thể thì người Mỹ quá yếu về đạn có cánh, họ thiếu hẳn các đạn có tốc độ cao vượt qua phòng thủ và khả năng điều khiển thông minh tấn công bằng nhiều phương án.

Người Nga có thêm các đạn tự hành dùng không khí đối đất khác nhau. Ví như đạn mang đầu chiến lược Meteorit Kh-90 [15] bắn 3 ngàn km với tốc độ M2,5. Kh-59 cũng là đạn dưới âm nhưng bắn từ máy bay, dùng động cơ tuốc bin, nặng 930 kg, đầu nhồi 320 kg, bắn xa 200–300 km tùy bản. Klub cũng là đạn được Việt Nam mua, nặng từ 1,3-2,3 tấn, mang các loại đầu đạn đến 400 kg. Klub là loại đạn rất đa năng được thiết kế để có thể sử dụng bằng nhiều phương tiện và tấn công bằng nhiều phương án, tấn công nhiều loại mục tiêu. Đạn bay được các loại đường bay từ bay là là cho đến bổ nhào theo quỹ đạo đường đạn, tốc độ từ dưới âm cho đến M3. Trong đó, đạn có thể dễ dàng thay đổi cấu hình động cơ từ việc dùng tuốc bin cho đến hoàn toàn tên lửa. Một cấu hình được công bố không cần thay đổi động cơ cũng thay đổi tốc độ tấn công từ M0,8 đến M3, mang đầu đạn 200 kg, xuất phát từ xe cơ giới [16].

Bom lượn[sửa | sửa mã nguồn]

AGM-154 JSOW

Bom lượn là đạn tự hành không có động cơ, nó dùng các cánh khí động để lái. Bom lượn được thả từ máy bay và có các kiểu dẫn đường khác nhau. Ruhrstahl X-1 (Fritz X) là một loại bom lượn.

Vì cấu hình như trên, nên bom lượn có tầm rất ngắn, đổi lại bom lượn có tỷ số khối lượng thuốc nhồi đầu / toàn bộ khối lượng rất lớn, nâng cao vọt khối lượng thuốc phá hữu ích mà máy bay mang theo. Bom lượn khó tấn công các mục tiêu di chuyển như tàu biển, nên thường được dùng tấn công mặt đất. Loại bom to nhất thế giới mang tên "Bom Bố" của Nga cũng là một loại bom lượn. Bên Mỹ có GBU-15 (Guided Bomb Unit 15), 1,1 tấn, tầm tối đa 24 km [17]. AGM-154 Joint Standoff Weapon khi được máy bay mạnh ném đi có thể lượn đến 100 km.

Thông thường, nhiều loại đạn kết hợp cả tính năng động cơ và tính năng lượn, nó mang theo động cơ nhỏ gọn có thể bật tắt nhiều lần, để năng cao khả năng vận động. Ví dụ GBU-15 có phiên bản dùng động cơ là AGM-130 [18].

Đạn tự hành chống tên lửa đạn đạo[sửa | sửa mã nguồn]

ABM-1 Galosh

Đa phần các tên lửa đạn đạo là đạn tự hành nên cũng là đạn tự hành chống đạn tự hành đạn đạo, thường gọi tắt là đạn tự hành chống đạn đạo hay chống đạn tự hành đạn đạo Anti-Ballistic Missile ABM.

Các đạn tự hành đạn đạo thường có vận tốc rất lớn nên ABM không chung nhóm với SAM. Ngày nay, một số SAM đã có khả năng chống đạn tự hành đạn đạo như SM-3 Mỹ, S-400 Nga, nhưng khả năng rất hạn chế. Do đó người Nga chỉ xây dựng ABM trên cơ sở các đạn SAM khi có S-500. Thật ra, ngày nay người Nga đã lên kế hoạch thiết kế và đóng các tàu chiến cho nhiệm vụ ABM, hạ thủy tàu đầu tiên vào 2016, vừa thời điểm đón những lô S-500 ra đời. Ngày nay, Mỹ đã dùng nhóm tàu chiến AEGIS và các trạm trên bộ tương tự để triển khai SM3. Tuy nhiên ứng dụng các tên lửa SAM hiện nay cho mục tiêu chống đạn đạo là nhảm nhí. S-300 có khả năng đánh mục tiêu 2,8 km/s, S-400 là 4,8 km/s, còn SM3 là 3,7 km/S. Tất cả các tên lửa hiện đại nhất hiện tại trên đều chỉ có thể đánh chặn với khả năng trúng thấp các tên lửa đạn đạo yếu nhất. Thậm chí là các tên lửa đạn đạo có tầm bắn 500 km thì SM3 cũng đã không đánh được. S-400 có thể đanh được các tên lửa tầm ngắn nhưng điều đó quá thiếu để dùng nó cho nhiệm vụ ABM.

Tên lửa S-500 hiện nay bước vào giai đoạn thử nghiệm, được trang bị vào khoảng 2015, có khả năng đánh các mục tiêu có vận tốc 7 km/s là vận tốc của đại đa số các tên lửa đạn đạo [19]. Chỉ đến lúc đó thì mới xuất hiện nhóm SAM kiêm chức năng ABM, còn hiện nay S-400 vẫn là SAM chuyên nghiệp và ABM là nhóm đạn tự hành riêng.

Để đánh chặn đạn tự hành đạn đạo, người ta hầu như chỉ có thể đánh chúng vào các giai đoạn giữa (giai đoạn quỹ đạo) và giai đoạn cuối (giai đoạn trở lại không khí) của đạn đạn đạo. Ở giai đoạn đầu (giai đoạn phóng lên) thì đạn tự hành đạn đạo đang nằm trên đất địch và do đó rất khó hy vọng đánh được chúng. Các đạn tự hành đạn đạo liên lục địa của Nga hiện nay đều bắt đầu giai đoạn giữa bằng các động tác né tránh, như tung ra nhiều đầu đạn giả khi bắt đầu giai đoạn giữa, nếu là đạn đạn đạo lớn mang nhiều đầu đạn thì các đầu đạn cũng tách ra sau khi phóng. Phần đầu đạn mang bom chiến lược trở lại không khí chuyển động trong giai đoạn quỹ đạo và giai đoạn trở lại không khí nhảy quỹ đạo nhiều lần để né các hệ thống đánh chặn. Như thế, cần những đạn đánh chặn rất mạnh và số lượng đạn đanh chặn bắn lên lớn hơn nhiều so với số đạn tự hành đạn đạo mang đầu đạn chiến lược bắn tới. Khi sử dụng được SAM cho đánh chặn đạn tự hành đạn đạo, thì SAM có số lượng đạn rất lớn và nhẹ việc đi nhiều. Tuy nhiên, điều đó đến nay vẫn không khả thi và các ABM dùng những đạn riếng, số lượng ít, đắt đỏ và to nặng. Khi sử dụng SAM để đánh chặn đạn đạo, thì hướng ưu tiên là chở chúng trên các tàu chiến để đánh chặn từ biển, từ xa... đồng thời việc đánh đuổi theo mục tiêu của các SAM cho khả năng trúng cao vọt so với đánh chặn, đó là nguyên tắc của hệ thống EAGIS-hài hước là nó chưa có đạn đủ yêu cầu. Ngược lại với SAM dùng cho đánh chặn đạn đạn đạo, thì việc dùng các đạn ABM riêng hiện nay đều sử dụng phương pháp đánh chặn đối đầu, đặt ở gần mục tiêu.

Cho đến nay, phương án đánh chặn tên lửa liên lục địa khả thi vẫn là sử dụng các đạn tự hành mang đầu đạn hạt nhân nhỏ nổ phá hủy vùng rộng, chuyên dùng đánh chặn đạn địch ở các giai đoạn giữa (quỹ đạo) và cuối (vào không khí). Cùng với đạn, hệ thống radar cảnh báo sớm cũng là một khó khăn cần vượt qua khi muốn đánh chặn đạn tự hành đạn đạo liên lục địa. Ngoài việc đưa các vệ tinh quan sát radar và hồng ngoại lên, thì phương án radar trên mặt đất vẫn là đảm bảo nhất. Từ 195x Liên Xô đã xây dựng các radar cảnh báo sớm nhìn quá đường chân trời, kỹ thuật nhìn quá đường chân trời được thực hiện bằng các bước sóng dài [20] xem radar Don-2N của ABM-2 [21]. Có thể xem bản đồ phủ sóng các radar đó ngày nay [22] ảnh [23][24]. Các ABM còn cần thêm một hệ thống radar nữa là radar đánh chặn, sau các radar cảnh báo sớm, thì các radar đanh chặn định vị chính xác mục tiêu từ 750 km và điều khiển đạn đánh chặn từ 300 km đến 50 km. Tất cả các radar này đều không thể luồn qua được bằng kỹ thuật tàng hình hấp thụ sóng radar, vì bước sóng của chúng dài, cần những áo tàng hình rất lớn dày hàng mét mà không đạn nào mang được.

A-35 là hệ thống đánh chặn đạn đạo tiêu chuẩn đầu tiên của Liên Xô 196x, được NATO gọi là ABM-1, đạn nặng 23 tấn, bắn xa 300 km, mang động cơ hỗn hợp hồm cả động cơ tên lửa và động cơ ramjet dùng không khí. Phiên bản cải tiến ABM-1U mang tầng cuối là động cơ tên lửa nhiên liệu lỏng bật tắt nhiều lần để chỉnh hướng quỹ đạo. Radar của hệ thống là Don-2 có tầm quét 6 ngàn km. Hệ thống đánh chặn đạn địch ở cả hai giai đoạn giữa và cuối. Từ đó đến nay đã nhiều lần cải tiến, ngày nay Nga đang dùng các ABM-3 và ABM-4.

ABM-3 có các radar Don-2N quét đến tận châu Phi, radar đánh chặn ABM-3. Đạn tầm ngắn 53Т6 mang đầu đạn hạt nhân 10kt bắn xa 120 km, nặng 10 tấn [25], đạn này dùng để đánh giai đoạn quay lại khí quyển của đạn địch. Đạn tầm xa 350 km 51T6 nặng 33 tấn dùng để đánh giai đoạn quỹ đạo của đạn địch. Sơ đồ bố trí ABM Nga [26][27].

Bên Mỹ, do chiến lược phát triển sai nên đã không có ABM đúng đắn nào được thực hiện. Phương án đầu tiên cũng như SM3 ngày nay dùng đạn tự hành đất đối không SAM. Phiên bản riêng dành chống đạn tự hành đạn đạo liên lục địa của Project Nike không thỏa mãn và không qua thử nghiệm, phiên bản chống đạn đạo của nó là Nike Zeus [28]. Tiếp theo, trong 197x, LIM-49 Spartan thay thế nhưng chỉ phục vụ vài tháng, và như thế thực chất là nó thất bại. LIM-49 Spartan cũng có cấu hình giống các đạn đánh chặn Liên Xô nhưng nó gây ra hỏng máy tính khi nổ. Sau đó, Mỹ đi theo National Missile Defense – NMD, đánh chặn đạn tự hành đạn đạo liên lục địa bằng những phương án viễn tưởng như dùng laser chở trên máy bay đốt đạn, hay đánh chặn chính xác không dùng đầu nổ mà bằng đạn ta đâm đầu ngược hướng đạn địch... tất cả các phương án đó đều không được sử dụng. Cho đến nay, Mỹ sử dụng SM3 như trên. Anti-ballistic missile và mục Current counter-ICBM systems trong đó [29]. Trong đó, Ground-Based Midcourse Defense (GMD) hiện vẫn đang được thử nghiệm, nhưng nó đánh đạn ta bắn lên vẫn phát được phát không. Cho đến nay, Mỹ vẫn chỉ đánh chặn được tên lửa tầm ngắn, mà thứ này lại không đe dọa nhiều nước Mỹ như các đạn liên lục địa của Nga, Tàu, Ấn [30]. Trong khi đó hệ thống đánh chặn tên lửa tầm xa không bao giờ vượt qua thử nghiệm [31]. Như đã nói trên, để đánh chặn tên lửa tầm ngắn thì hiện nay các SAM S-400 đã thực hiện được. Hệ thống laser cực lớn chở trên máy bay đã dừng thử nghiệm. Ngoài Nga và Mỹ, hiện nay Trung Quốc và Ấn Độ đã đi từng bước phát triển kỹ thuật đánh chặn, trong đó Trung Quốc đã thông báo đanh chặn được tên lửa tầm trung [32], vượt qua khả năng của Mỹ. Ấn Độ cũng đã thông báo triển khai dần hệ thống đánh chặn từ 2012 [33]. Đạn đánh chặn giai đoạn giữa của Ấn Độ sử dụng một phiên bản có thân là đạn Prithvi.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Những đạn tự hành đầu tiên có lẽ là các ngư lôi của thế kỷ 19, nó ban đầu được lái qua dây cơ, ngư lôi Brennan 1877 và sau đó là ý tưởng truyền lệnh lái qua dây diện rồi radio của Nikola Tesla, đáng tiếc là hướng này lúc đó không được Mỹ chấp nhận chi tiền phát triển và xếp xó. Hồi Thế chiến thứ nhất, Nga phát triển những đạn tự hành đất đối không đầu tiên.

Sơ đồ cắt V-1
Sơ đồ cắt V-2.

Đức trong Thế chiến thứ hai phát triển những loại đạn tự hành cơ sở ngày nay [34]. V-2đạn tự hành đường đạn, nó có con quay hồi chuyển, tích phân quán tínhđộng cơ tên lửa, đến nay vẫn là kiểu mẫu cho những đạn tự hành đường đạn cho đến tên lửa đẩy vũ trụ. V-2 có máy đẩy dùng động cơ tên lửa chất đẩy lỏng hai thành phần, chất đẩy có hai thành phần là nhiên liệu và chất oxy hóa, cồn 75 độ và oxi lỏng. Cấu tạo máy đẩy có hai đường nhỏ dẫn nhiên liệu và chất oxi hóa đến một buồng đốt nhỏ đẩy máy bơm tuốc bin, máy bơm này đẩy các chất đẩy đến buồng đốt chính, và hai đường thông áp từ buồng đốt chính đến các thùng chứa. Thêm nữa, V-2 dùng các cánh lái than chì để lái hướng lực đẩy, thực hiện đổi hướng cho đạn. V-1đạn tự hành hành trình, có động cơ dùng không khí, nó dùng pulse ramjet, con quay hồi chuyểnchương trình bay cứng, pulse ramjet là loại ramjet đóng kín khi đốt nhiên liệu - để tăng hiệu quả nhiên liệu trong tốc độ thấp. Bom bay V-2 có cấu hình là một máy bay không người lái vác động cơ trên lưng.Ruhrstahl X-7ATGM đầu tiên của loài người, lái dây. X-4AAM đầu tiên của nhân loại được ứng dụng, là một phiên bản X-4 có ngòi nổ chống máy bay bằng cảm ứng âm thanh. Các đầu dò hồng ngoại cho AAMSAM lái radar cũng được phát triển như Wasserfall (một phiên bản R/C quan sát radar của V-2, tuy nhiên, đạn đã được sản xuất rất nhiều nhưng người ta không kịp hiệu chỉnh radar để sử dụng, sau này, nhưng nghiên cứu của Liên Xô cho thấy sử dụng nó là bất khả, nhưng trên cơ sở đó Liên Xô đã cho ra đời SAM-1 bằng radar lớn và tiên tiến hơn, tiếng Anh). Trong những ảnh còn lại, đã thấy X-7, A-4 tham chiến, cũng có tài liệu nói X-4 cũng đã diệt được mục tiêu. Tuy nhiên, số lượng của chúng và số mục tiêu chúng diệt được, nếu có, rất không đáng kể. Những chiến công quan trọng đạt được bởi các loại bom lượn, cụ thể hơn là các đạn tự hành chống hạm (anti-ship missile) đầu tiên, trong đó đanh đắm hai soái hạm Ý (đã đầu hàng) và rất nhiều tàu chiến lớn của Đồng Minh. Các đạn này có điều khiển bằng truyền lệnh qua sóng vô tuyến (radio/command hay R/C). Các phiên bản được sản xuất nhiều cuối chiến tranh đã có hướng sóng điện từ (radio homing). Những thử nghiệm lúc đó đã có điều khiển qua vô tuyến truyền hình (TV).

MỹLiên Xô cũng đã có những đạn tự hành thời kỳ này, tuy nhiên, Liên Xô vẫn chỉ dừng ở thử nghiệm. Quá bận với triến tranh, họ chỉ phát triển thứ này sau đó. Mỹ thì trái lại, họ vội vã sản xuất rất nhiều đạn tự hành không đối đất như SWOD MK 9/ASM-N-2, tuy nhiên, chúng không lập chiến công nào kể cả trong Chiến tranh Triều Tiên sau đó, bất chấp việc người ta tổ chức những chiến dịch rất lớn để sử dụng.

Thập niên 1950 đánh đấu việc chuyển vũ khí chính của máy bay từ đạn thường sang đạn tự hành, trận đánh đầu tiên có lẽ là ngày 28 tháng 10 năm 1958 ở Đài Loan bằng đạn không đối không hướng hồng ngoại AAM-9. Cũng những năm này, các IBCM (đạn tự hành đường đạn xuyên lục địa) đã phát triển kỹ thuật chiến tranh ra ngoài tầm kiểm soát của sức mạnh.

Thập niên 1960, Liên Xô đi tiên phong trong việc chống lại IBCM (các hệ thống chống đạn tự hành đạn đạo, ABM). Hệ thống hoàn chỉnh đầu tiên được hoàn thiện trong thập niên 1970 bao gồm hệ thống kiểm soát hồng ngoại, các radar cảnh báo sớm và dẫn bắn đánh chặn. Tuy nhiên, do hạn chế kỹ thuật hồi đó, người ta phải dùng các đầu đạn hạt nhân nhỏ đánh chặn IBCM. Ronald Regan kích động cuộc đua với Liên Xô nhưng chỉ đến thời George W. Bush thì Mỹ mới có hệ thống chống IBCM. Tuy nhiên, đến nay hệ thống này vẫn quá kém khả năng đánh chặn, khả năng này được thay bởi một số lượng lớn các trạm đánh đuổi hiện đang được tranh cãi về địa điểm đặt, ví dụ đạn SM-3. Hiện nay, Nga là nước duy nhất sở hữu hệ thống liên hợp hoàn chỉnh quy mô lớn bao gồm các trạm theo dõi quang hồng ngoại chống vệ tinh, radar cảnh báo sớm IBCM, theo dõi hồng ngoại và đánh chặn. Đây là hệ thống đạn tự hành lớn nhất thế giới hiện nay. Phần cảm biến (sensor) bao quát hầu như toàn bộ Bắc bán cầu, từ châu Phi, qua Bắc Băng Dương đến Mỹ, độ cao từ 150 km đến 15000 km (do thời kỳ thiếu tiền trước năm 2000 mà kế hoạch phát triển đến 36000 km chậm lại). Phần đạn bao gồm nhiều tầng đánh chặn, thế hệ đạn hiện là ABM-3 đang được thay bởi ABM-4. Sau các đạn đánh chặn này là hệ thống phòng không tầm khu vực S-300 đang được thay bởi S-400, các tàu chiến sử dụng S-500 cũng đã lên kế hoạch đóng và dự kiến bắt đầu hạ thủy năm 2016.

KS-1 của Nga đánh dấu việc chuyển vũ khí chính đánh tàu từ bom đạn thường sang đạn tự hành. Lúc đó, những máy bay chống tàu Tu-16 sử dụng radar và mang 2 đạn tự hành có tầm bắn chính xác 80 km đầu đạn nửa tấn, đạt ưu thế mức cách mạng. Trước đây đã có nhiều phát triển yêu cầu này, nhưng chỉ KS-1 có hiệu quả tốt và được chấp nhận trang bị như vũ khí chính. KS-1 là đạn tự hành chống hạm, có định vị radar, định hướng radio, lái qua radio có bảo vệ mã lái, đo cao radio, hướng radio (giai đoạn cuối). Nó là máy bay MiG-15 cải tiến không người lái, máy bay mẹ của nó Tu-16 lúc này đóng vai trò một tàu sân bay bay. Đến nay Nga vẫn giữ vị trí dẫn đầu về kỹ thuật đạn tự hành chống hạm, hiện chúng bay M2-M3 cách mặt nước 5 mét, tầm bắn đến 600–700 km, hầu như không có khả năng né tránh hay đánh trả.

Chiến tranh Việt Nam các SAM được sử dụng quy mô lớn, đến cuối chiến tranh, SAM trở thành vũ khí chủ lực. SAM-2 được dùng cấp chiến dịch và SAM-7 vác vai dùng cho trận đánh. SAM-2 và SAM-7 đến nay vẫn là những SAM giữ kỷ lục về số lượng diệt mục tiêu và tỷ lệ diệt, được xác lập từ chiến tranh Việt Nam.

Nhìn lại lịch sử, những đạn tự hành đất đối không đầu tiên được Nga và Liên Xô phát triển từ Thế Chiến I. Người ta cũng ghi chép có lần quân Pháp đã bắn về phía khinh khí cầu Đức một loại đạn lạ có động cơ tên lửa và có điều khiển, có thể là một loại đạn tự hành. Loại đạn tự hành lập chiến công đầu tiên là các đạn trên cơ sở RS-82 rocket, RS-132 rocket trong trận công thành Leningrad, Thế Chiến II, lúc đó, radar chính xác chưa có, người ta sử dụng các trạm quan sát mắt thường định vị mục tiêu và điều khiển đạn theo từng nhịp 400 mát một, dùng cả chùm đạn. Trước đó, các phiên bản chỉ có điều khiển thời gian điểm hoả đã được dùng cho máy bay trong Chiến dịch Hắc Long Giang, ([[en:Battle of Khalkhin Gol|Tiếng Anh), và sau đó là mặt trận Xô-Đức, cả với vai trò AAM và SAM, ban đầu thiết bị điểm hoả dùng cơ khí như bên Đức dùng cho V-1.

Cuối những năm 1960, Liên Xô thực hiện cuộc cách mạng xe tăng với xe tăng T-64, đặc trưng chính bởi giáp liên hợppháo nòng trơn. Các nước khác dần noi theo. Một trong những tiến bộ của cách mạng kỹ thuật này là ATGM bắn từ nòng pháo tăng. Các 9K112 Kobra, mã tên phương Tây AT-8, 9M120 Ataka AT-9, AT-10 là những đạn tự hành kiểu này. Đây là các đạn có đầu nổ xuyên, lực đẩy chính là nòng pháo và có thể có hay không có động cơ riêng, lái bằng cánh khí động hay định hướng lực đẩy, định hướng hồng ngoại hoặc laser, được hỗ trợ bởi con quay hồi chuyển và đồng hồ điện tử (một phần của hệ dẫn đường quán tính). Đến những năm 199x Mỹ cũng thực hiện được điều này trên xe M1A2. Đạn này nâng tầm diệt mặt trước xe MBT lên 5 km, so với 1 km và thấp hơn của APDS-FS. Tuy vậy, ATGM cần khá nhiều yêu cầu rắc rối và dễ gây nhiễu.

Những năm 1970, việc phổ biến ATGM bắn từ máy bay cho phép thực hiện cuộc cách mạng kỹ thuật closing air support với Su-25 và sau đó là A-10. Quan trọng hơn trong cuộc cách mạng này là các trực thăng vũ trang tranh ngôi bà chúa chiến trường với xe tăng. Trước đây, bắn tăng tầm xa bắt buộc phải dùng pháo lớn mà máy bay không mang được.

Ma-lức-ca (bé con), mã phương Tây AT-3, tên Việt Nam B72 là đạn chống tăng, lần đầu tiên được dùng trên chiến trường Quảng Trị cuối 1972 đầu 1973, thực hiện cuộc cách mạng về vũ khí chống tăng và xe tăng. Trận đánh lớn lịch sử Sinai tháng 10-1973 với xương sống là đạn tự hành AT-3 tiêu diệt sạch lực lượng xe tăng Do Thái ở đây. Sau đó, AT-3 và các bản copy trở thành loại đạn chống tăng tiêu chuẩn phổ biến nhất thế giới, bất kể thân Nga hay thân Mỹ, nhiều nước nhập khẩu hay sao chép về dùng. AT-3 có tầm diệt mặt trước xe tăng chủ lực MBT gấp đôi pháo trên xe tăng. Ban đầu các đạn này lái dây mắt thường, sau đó định hướng hồng ngoại và laser, rồi lái bám đường quang học-truyền lệnh qua dây hay laser. Dần đây có định tâm hồng ngoại như Nag (Ấn). AT-16 Nga định tâm hồng ngoại nhiều màu (đo nhiệt độ). AT-15 là đạn tự hành chống tăng có nguyên lý tiên tiến nhất hiện nay, sử dụng radar băng sóng milimet, đảm bảo mọi thời tiết.

Cũng những năm 1970, các đạn tự hành chiến thuật thay thế pháo tầm xa. Hơn nữa, các đạn đối đất lớn thay thế nhiệm vụ máy bay đột kích. Về pháo, Liên Xô đưa ra BM-30 tầm bắn 70 km, những năm 199x tăng lên trên 90 km. Msta 152mm 2S19 bắn đạn tự hành diệt tăng Krasnopol 152mm chỉ thị laser ở tiền tuyến, cho phép nâng tầm diệt tăng lên 30 km. Sau này, các đạn tự tìm mục tiêu được phát triển. Mỹ phát triển chương trình Crusader 155mm tương tự, trội khả năng bắn đạn dẫn đường GPS chống công trình, tuy nhiên, chương trình tạm dừng vì kỹ thuật. Những đạn tự hành bắn từ nòng pháo cổ điển này không có động cơ hoặc động cơ rất nhỏ để lái, lái chính bằng các cánh khí động.

Trong các phiên bản thử nghiệm trước khi Tu-95 trang bị rộng, có các mẫu Tu-95/1, Tu-95/2, Tu-95K-E là mang đạn thường, phiên bản chính thức của Tu-95K và sau đó mang đạn tự hành Raduga Kh-20, phiên bản cải tiến tiếp theo Tu-95M-55 xác định rằng tất cả các máy bay TU-95 phát triển sau đó đều mang đạn tự hành, lúc đó là thập niên 1950, đi trước B-52 nhiều chục năm. Thật ra, Tu-95 là nối tiếp Tu-16 được đặt hàng thiết kế để chuyên mang đạn tự hành ngay từ đầu, nhưng nó ra trước đạn của nó, nên các đời đầu tiên của loại máy bay này buộc phải dùng bơm rơi tự do.

Xác định rằng tàu chiến và thiết bị bay sử dụng đạn tự hành, Liên Xô những năm 1970 đã cho ra đời lớp chiến hạm Kirov (tiếng Anh, nay Tàu Kirov đã đổi tên thành Piôtr Đại Đế, được hiện đại hoá nhiều lần và vẫn là chiến hạm chủ lực của hạm đội tầm xa Nga), loại tàu bao gồm các chức năng đối kháng tàu nổi, tàu ngầm, dẫn đường cho đạn tự hành tầm xuyên lục địa và đối không. Phiên bản không có vũ khí là lớp tàu tác chiến điện tử SSV-33 (tiếng Anh)). Các tàu này mang các hệ thống điện tử, máy tính mạnh nhất trong các tàu chiến hồi thập niên 1970. Sau này, đến thập niên 1990, Mỹ dần theo bước liên Xô cho ra lớp tàu Ticonderoga (bắt đầu là USS Ticonderoga CG-47), tàu được thiết kế lại 3 lần, ban đầu là tàu phòng không (1981), rồi dẫn đạn tự hành, 3/8/2004 tàu được hạ thuỷ với hệ thống AEGIS, chính thức cho ra đời thế hệ tàu chiến chuyên dùng đạn tự hành Mỹ, với các chức năng như Kirov nhưng nhỏ hơn nhiều.

Các đạn tự hành diệt xe tự tìm mục tiêu được chấp nhận trang bị ở Nga và Liên Xô cuối 198x, đầu 199x như BM-30 Smerch. Đến nay, Nga và Đức là những nước duy nhất sở hữu những thiết bị diệt tăng tự động hàng loạt. Ở mức độ thấp hơn, Ấn Độ với sự giúp đỡ của Nga phát triển đạn tự hành chống tăng Nag bao gồm phiên bản định tâm hồng ngoại, bắn và quyên. Trong các phiên bản Maveric, Mỹ phát triển một loại đầu dẫn nhận dạng độ chói-tiền thân của nhận dạng hình học, cũng đạt tính năng bắn và quên, nhưng hiện chưa đạt độ tin cậy chống xe tăng, chỉ thuận tiện khi chống công sự lớn cố định.

Ngư lôi có điều khiển thay thế các ngư lôi thường sau Thế chiến II. Các ngư lôi có thể lái qua dây điện hay hướng âm thanh chủ động, bán chủ động.

Chechen 1999 là cuộc chiến tranh quy mô lớn đầu tiên mà đạn tự hành có vai trò lớn dến mức quyết định. Ở đây, đạn tự hành có môi trường hoạt động thuận tiện bởi các hệ thống định vị toàn cầu GPS, theo dõi ảnh mặt trận liên tục-phân tích và phân phối thông tin chi tiết toàn mặt trận (UAV Pchela-1), hệ thống theo dõi sóng điện từ liên tục toàn mặt trận, hệ thống thông tin được phát triển đa dạng (đường thoại và đường số) đến từng tổ chiến đấu. Ở đây, Nga đạt khả năng tiêu diệt tổng thống đối phương chỉ sau vài chục giây hay triệt phá các đài radar, trận địa pháo, mục tiêu trên mặt đất gần như tức thời. Máy bay trực thăng vũ trang và trợ chiến bám sát (closing air support) SU-25 ở đây hầu như chỉ dùng đạn tự hành thay cho bom đạn thường.

Iraq 2003, đạn tự hành được sử dụng quy mô rất lớn. Hiệu quả không cao như Chechen 1999 nhưng chứng minh mà thúc đẩy vai trò đạn tự hành trong quân Mỹ sau đó. Hiện nay, máy bay Mỹ hầu như Mỹ chỉ dùng đạn tự hành thay thế bom đạn thường. Tuy nhiên, tiến trình loại bỏ các máy bay mang bom đạn không điều khiển ở Mỹ rất chậm, ví dụ, còn rất nhiều máy bay B-52 phục vụ trong quân Mỹ.

Đạn tự hành ngày nay là mũi nhọn phát triển nhanh, nhờ ứng dụng máy tính, chúng đang tăng vọt khả năng tự nhận dạng mục tiêu trên đất, trên biển... Việc tự bám mục tiêu trên không có từ lâu ngày nay được phát triển khả năng chống nhiễu loạn, nhầm lẫn và tầm xa.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ MSTA-S 2S19 152mm Self-Propelled Howitzer - Army Technology
  2. ^ [1]
  3. ^ [2]
  4. ^ [3]
  5. ^ Soviet Air-to-Surface Missiles
  6. ^ 300-mm "Smerch" MRLS - full version (300-мм РСЗО "Смерч"- полная версия) - YouTube
  7. ^ Ruhrstahl X-4 Air-to-Air missile Luft '46 entry
  8. ^ Ruhrstahl X-4 - Wikipedia, the free encyclopedia
  9. ^ ATGM Panzerabwehrrakete
  10. ^ Ruhrstahl X-1 Kramer X-1 (Fritz X) Anti-ship Missiles
  11. ^ http://www.aviation.ru/Missiles/KS-1.html
  12. ^ Kh-15 - Wikipedia, the free encyclopedia
  13. ^ Kh-31 - Wikipedia, the free encyclopedia
  14. ^ Kh-55 (missile family) - Wikipedia, the free encyclopedia
  15. ^ Meteorit
  16. ^ 3M-54 Klub
  17. ^ Rockwell GBU-15(V)/B
  18. ^ Boeing AGM-130
  19. ^ Nga triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa siêu tối tân - VTC News
  20. ^ S-225 - ABM-2 System
  21. ^ Don-2NP Pill Box Radar - Soviet BMD
  22. ^ Missile Defense Radar Sites
  23. ^ http://www.globalsecurity.org/wmd/world/russia/images/daryal_radar.gif
  24. ^ http://www.globalsecurity.org/wmd/world/russia/images/hh-map.gif
  25. ^ 53Т6 старт на Приозёрском полигоне (35 площадка) Сары-Шаган - YouTube
  26. ^ [4]
  27. ^ [5]
  28. ^ Project Nike - Wikipedia, the free encyclopedia
  29. ^ Anti-ballistic missile - Wikipedia, the free encyclopedia
  30. ^ http://tuoitre.vn/The-gioi/387396/My-thu-thanh-cong-ten-lua-danh-chan.html
  31. ^ Đọc Báo - Tin tức
  32. ^ Trung Quốc thử nghiệm đánh chặn tên lửa tầm trung | ĐÀI TIẾNG NÓI VIỆT NAM - VOV.VN
  33. ^ Kiệt Linh (22 tháng 3 năm 2010). “Ấn Độ sẽ triển khai hệ thống đánh chặn tên lửa vào năm 2012”. Báo điện tử VnMedia. Bản gốc lưu trữ 25 tháng 3 năm 2010. Truy cập 11 tháng 4 năm 2013. 
  34. ^ Missiles

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]