Lực lượng Vũ trang Liên bang Nga

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hai binh sĩ Công binh Đức kiểm tra 1 chiếc thiết giáp BTR-80 của 2 lính Nga (ngồi phía trên) ở Serbia/1996

Quân đội Nga hay Các lực lượng vũ trang Nga (UTC) (tiếng Nga: Вооружённые Си́лы Росси́йской Федера́ции) là lực lượng quân sự của Nga, được thành lập sau sự tan rã của Liên Xô. Vào ngày 7 tháng 5 năm 1992, Boris Yeltsin đã kí sắc lệnh thành lập Bộ quốc phòng Nga thay thế cho các lực lượng quân đội của Liên Xô trên lãnh thổ của RSFSR dưới quyền của Nga.[1] Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang của Nga là Tổng thống Nga, hiện nayVladimir Putin.

Tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Lực lượng vũ trang Nga
Nhân lực trong quân đội

(Nguồn chủ yếu từ CIA World Factbook)

Tuổi quân đội 18
Có khả năng nam từ 18-49: 35.247.049 (ước tính cho năm 2005.)
Phù hợp với việc phục vụ nam từ 18-49: 21.000.000 (2006 est.)[2]
Hàng năm đạt đến độ tuổi quân đội 1.500.000 (2005 est.)
Lực lượng đang phục vụ 1.037.000[3]
Tổng số quân 3.796.100[cần dẫn nguồn]
Chi phí quân sự

32 tỉ USD năm 2007 (tiết về sự chi tiêu)

Bộ Quốc phòng Nga quản lý và điều hành quân đội. Từ thời Xô-viết, Bộ Tham mưu đóng vai trò chính trong việc chỉ huy và quản lý toàn bộ quân đội. Tuy nhiên, hiện nay vai trò của Bộ Tham mưu đã giảm xuống, là cơ quan lập kế hoạch chiến lược cho Bộ trưởng. Bộ trưởng Bộ quốc phòng của Nga, hiện nay là Đại tướng Sergei Shoigu, có nhiều quyền hành hơn đối với toàn bộ quân đội. Lãnh đạo của Bộ Tham mưu hiện nay là Thượng tướng Valery Gerasimov.

Major Emblem of Armed forces of the Russian Federation

Quân đội Nga được chia thành các nhánh sau: Lục quân, Hải quânKhông quân. Nga cũng có các lực lượng vũ trang độc lập gồm: Lực lượng Tên lửa chiến lược, Vũ trụ, và Hàng không. Lực lượng phòng không, trước đây là Voyska PVO, đã được sát nhập và trực thuộc vào không quân từ năm 1998. Lực lượng lục quân được chia thành sáu quân khu: Moscow, Leningrad (không phải St Petersburg), Bắc Caucausian, Privolzhsk-Ural, SiberiaViễn đông.

Hải quân gồm bốn hạm đội lớn và một hạm đội nhỏ:

Các trận chiến quan trọng (từ 1991)[sửa | sửa mã nguồn]

Cải tiến lực lượng[sửa | sửa mã nguồn]

Medvedev tham quan tàu ngầm hạt nhân Nga tại Kamchatka, tháng 12/2008

Năm 2007, chi phí quân sự ở Nga trên 32 tỷ USD, trong khí đó, năm 1998 con số này đạt dưới 3 tỷ USD.[5]

Nguyên tổng thống Nga Dmitry Medvedev tuyên bố Nga sẽ bắt đầu chương trình tái vũ trang hóa quân sự toàn diện từ năm 2011, trước hết là các lực lượng hạt nhân chiến lược. Giới phân tích cho rằng chiến tranh Nam Ossetia 2008 đã bộc lộ nhiều vấn đề trong các lực lượng vũ trang Nga, với các trang thiết bị lạc hậu và cách triển khai cũ, do đó dẫn tới những lời kêu gọi phải hiện đại hóa quân đội Nga.[5] Nga sẽ bỏ ra khoảng gần 140 tỉ USD để mua vũ khí từ nay cho tới năm 2011.

Dù lực lượng quân đội hùng hậu của Nga dễ dàng giành chiến thắng trong cuộc chiến tại Gruzia hồi tháng 8-2008 nhưng theo các chuyên gia quân sự thì nhiều cuộc giao tranh trên thực địa đã nhanh chóng để lộ các khiếm khuyết trong việc luyện tập, vũ khí và trang thiết bị của Nga. Theo Christopher Langton, một nhà phân tích tại Viện Nghiên cứu chiến lược quốc tế London thì "Những điểm mà họ hi vọng vận hành tốt lại đã không được như ý - liên lạc, không quân. Phải mất năm ngày họ mới đè bẹp được hệ thống phòng không của một quốc gia tương đối nhỏ. Đó là thời gian tương đối lâu".[6] Cuộc chiến Gruzia đã cho thấy quân đội Nga còn nhiều nhược điểm, chẳng hạn như phần lớn các loại vũ khí đã lỗi thời...[7]

Medvedev cũng cho biết phần lớn số tiền này được chi dùng cho việc phát triển và mua các trang thiết bị quân sự hiện đại. Giới phân tích nhận định lợi nhuận lớn từ dầu mỏ trong những năm gần đây đã cho phép Kremlin tăng ngân quỹ dành cho quân đội. Ông Medvedev cho rằng "Dù chúng ta đang phải đối mặt với các khó khăn về tài chính, ngân quỹ dành cho việc này vẫn không thay đổi" dù cho giá dầu thế giới đang ở mức 40 USD mỗi thùng, so với năm ngoái là 100 USD/thùng.[8] Bộ trưởng Quốc phòng Nga hôm 17-3 nói tỉ lệ vũ khí hiện đại trong lực lượng vũ trang Nga sẽ đạt 30% vào năm 2015 và tăng đến 70% vào năm 2020.[6]

Nga hiện cũng đang thỏa thuận mua những chiếc máy bay do thám không người lái do Israel sản xuất, nhằm giúp cải tiến loại máy bay tương tự do Nga chế tạo. Nguyên nhân bởi Nga không hài lòng với hoạt động của những chiếc máy bay không người lái do nước này sản xuất trong cuộc xung đột với Gruzia và tỏ ra ấn tượng với những chiếc máy bay do thám xuất xưởng tại Israel do quân đội Gruzia sử dụng.

Loại máy bay không người lái Tipchak của Nga sử dụng trong chiến tranh Nam Ossetia 2008 theo Thứ trưởng Quốc phòng Nga Vladimir Popovkin thừa nhận thì chúng "gặp rất nhiều vấn đề" khi tác chiến như tiếng ồn quá lớn và dễ bị bắn hạ.[9] Theo 1 quan chức cấp cao Israel thì trong cuộc chiến Nam Ossetia, người Nga hiểu rằng những chiếc máy bay sản xuất trong nước của họ đã rất lạc hậu so với những máy bay không người lái hiện nay. Dù vậy kế hoạch mua UAV của Israel trong vòng 2-3 năm tới đã gây ra những ý kiến bất đồng. Mikhail Babich, Phó Chủ tịch Ủy ban Quốc phòng của Duma quốc gia Nga cho biết kế hoạch mua máy bay không người lái (UAV) của Israel sẽ không được thực hiện vì lựa chọn này không có lợi cho các nhà sản xuất quốc phòng trong nước.[10] Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nga Vladimir Popovkin cho hay Bộ Quốc phòng Nga đã chi 5 tỷ rúp cho việc phát triển và thử nghiệm UAV nhưng lại không đạt được bất kỳ kết quả nào. Ông Popovkin còn kết luận: "Hiện nay, UAV của chúng ta không thể so sánh được với UAV nước ngoài đã mua, xét theo bất kỳ thông số kỹ thụât nào". Các UAV "Orlan-3, "White-10", và "White-30" có tốc độ 150–170 km/giờ, mang thiết bị trinh sát có trọng lượng từ 1,8 đến 7 kg với bán kính hoạt động 100–600 km. Máy ảnh có thể hoạt động được trong không trung từ 3 giờ đến 16 giờ còn UAV 421-04M "Swallow" (Chim én) có khả năng đưa tốc độ lên tới 120 km/giờ, bay ở độ cao 3,6 km, phạm vi hoạt động của nó là 25 km. Trong khi đó hiện nay UAV Global Hawk của Mỹ bay được độ cao tối đa 19.812m, hoạt động liên tục 48 giờ, bay tầm xa 22.000 km. Trong 24 giờ nó có thể quét một diện tích bằng 1/4 nước Pháp.[11]

Hãng tin AP dẫn thông tin từ giới chức quân đội Nga cho biết khoảng 25% trong số 43 tỉ USD chi cho việc mua vũ khí năm nay sẽ được dành để nâng cấp lực lượng hạt nhân thời Liên Xô đã cũ kỹ. Theo giới phân tích, tuyên bố của Tổng thống Nga có thể gây khó chịu cho Washington và sẽ xóa tan hy vọng về viễn cảnh mối quan hệ căng thẳng Đông-Tây sẽ được cải thiện nhanh chóng.[7]

Dù vậy, với tình hình khủng hoảng kinh tế hiện tại, Moskva dự kiến sẽ phải giảm 15% ngân sách dành cho quốc phòng cho năm 2009".[12]

Ngày 26/10 năm 2009 Tổng thống Nga Dmitry Medvedev không giấu nổi sự thất vọng đối với tốc độ phát triển, hiện đại hóa quân đội. Ông phải phát biểu: "Vài năm qua, Nga đầu tư rất nhiều tiền để hiện đại hóa, phát triển lĩnh vực quốc phòng. Tuy nhiên, kết quả đạt được không cao, tôi phải nói thẳng như vậy".[13]

Mua vũ khí từ các nước NATO[sửa | sửa mã nguồn]

Ngành công nghiệp quốc phòng của Nga thời hậu Chiến tranh Lạnh đã bước sang giai đoạn lạc hậu, kém hiệu quả và bị các đối thủ chính yếu vượt mặt. Chẳng hạn tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm Bulava vốn đang được Nga phát triển để thay thế loại vũ khí có từ thời Liên Xô nhưng nó đã thất bại trong 7 trên tổng số 12 lần thử nghiệm.

Khi Nga lần đầu tiên muốn mua các tàu vận tải thuỷ bộ từ Hà Lan, Bộ trưởng Quốc phòng Hà Lan Eimert van Middelkoop nói ông cảm thấy "ngạc nhiên". Nga cũng đã liên hệ với xưởng đóng tàu Navantia của Tây Ban Nha và hãng sản xuất DCNS (chế tạo tàu chiến Mistral) của Pháp. Một tàu chở trực thăng giống như Mistral khiến các nước lân cận như Grudia và Estonia e ngại do họ đã cảm nhận được sự gây hấn từ chế độ Putin. Người đứng đầu Hải quân Nga - Đô đốc Vladimir Vysotsky đã nhấn mạnh nếu Hải quân Nga sở hữu một chiếc Mistral trong cuộc chiến với Grudia năm 2008 thì "các binh sĩ đã có thể đổ bộ vào bờ biển Grudia chỉ trong 40 phút thay vì 26 tiếng đồng hồ như thực tế".[14]

Tuy nhiên việc mua bán này bị phản đối khá nhiều từ giới quân sự Nga. Tướng Makhmut Gareev nhấn mạnh, Nga "cần phải là một nước tự cung tự cấp... Chúng ta sẽ thấy bản thân trong thế phụ thuộc đôi chút vào NATO và đặc biệt là Pháp. Chúng ta sẽ phải mua các bộ phận dự trữ, tạo ra một hệ thống hậu cần dựa trên các tiêu chuẩn của phương Tây... Điều này, nói một cách nhẹ nhàng, không tốt đối với nền an ninh quốc gia".

Thực trạng của quân đội[sửa | sửa mã nguồn]

Hải quân đánh bộ Liên bang Nga thực tập đổ bộ bờ biển ở Vladivostok năm 2010

Tư lệnh Không quân Nga Vladimir Mikhailov cho biết các loại trực thăng tốt của Không quân Nga như Kamov Ka-50Mil Mi-26 cũng chỉ chiếm khoảng 10% tổng số trực thăng. 90% tổng số trực thăng còn lại đa số đều là các thế hệ cổ lỗ sĩ, bao gồm Mil Mi-8Mil Mi-24. Tỷ lệ nhỏ này khiến cho tỷ lệ trực thăng có khả năng tác chiến thực sự chỉ chiếm khoảng 35%". Để trang bị vũ khí mới cho quân đội, thường các nước có nền quân sự tiên tiến dùng đến 60% ngân sách quốc phòng nhưng Nga chỉ có 30%. Ước tính các phương tiện chiến đấu trên không của Nga đang xuống cấp đến 80%.[15]

Theo chương trình vũ khí quốc gia, phải đến năm 2008-2010, binh sĩ Nga mới bắt đầu tiếp nhận được các loại vũ khí hiện đại. Báo Nga Gate2Russia nhận định: "Mọi người đều biết những bất ổn trong quân đội Nga: trình độ huấn luyện kém xa rất nhiều so với ước muốn, trang thiết bị quân sự không đầy đủ, tình trạng tham nhũng tràn lan trong giới sĩ quan... đó là những bất cập gây bất lợi lớn nhất đối với quân đội".[15]

Tàu ngầm lớp Kilo Varshavyanka của Hạm đội Nga năm 2008

Tổ chức Nhân quyền Human Rights Watch cho biết các binh sĩ Nga đều bệnh tật và thiếu ăn. Nhiều binh sĩ bị suy dinh dưỡng và ít được quan tâm chăm sóc sức khỏe. Khẩu phần của các binh sĩ Nga bị cắt xén, dưới mức ăn bình thường so với quy định của quân đội. Quân đội Nga dự thảo cần gần 500.000 thanh niên mỗi năm nhưng gặp cản trở bởi các vấn đề như đào ngũ.[16]. Các thực phẩm lính nghĩa vụ nhận thường có chất lượng kém, thối, hoặc bị nhiễm khuẩn.[17]

Năm 2001, tân binh 19 tuổi Vyacheslav Turov sau khi tại ngũ 3 tháng rưỡi đã chết vì bệnh phổi. Trước khi chết, anh đã bị sụt đến 7 kg vì thiếu ăn trong nhiều tuần liền.[15] Không có giáo án huấn luyện đặc biệt cho những nhiệm vụ quan trọng nên trong 30 năm trời binh lính mới nhập ngũ vẫn được huấn luyện bằng giáo án cũ, trang thiết bị cho các đơn vị đã quá lạc hậu, nên binh sĩ phải tự mua phương tiện kỹ thuật bằng chính tiền túi của mình.

Theo Viện nghiên cứu xã hội KASS nghiên cứu dựa trên 5 yếu tố cấu thành trực tiếp là lãnh thổ, tài nguyên thiên nhiên, dân số, kinh tế, quân sự, và 4 yếu tố ảnh hưởng là phát triển xã hội, tính bền vững, an ninh và chính trị trong nước thì chỉ số sức mạnh quân sự quân đội Mỹ 90,08 điểm trên thang điểm 100 trong khi Nga chỉ có 31,08 điểm, còn thấp hơn cả Trung Quốc là 33,3 điểm.[18] Tuy nhiên chuyên gia quân sự người Nga Shalitov vẫn cho rằng: "nếu tính đến khả năng chiến đấu của lực lượng vũ trang thì ở đây đôi khi phải có sự hiện diện của các yếu tố chủ quan như tinh thần chiến đấu, tính sẵn sàng chiến đấu và nếu thế thì tôi nghĩ rằng quân đội Nga ít nhất cũng phải đứng thứ hai sau Mỹ".[18] Tuy nhiên Chủ tịch Ủy ban Quốc phòng Viện Duma (Nga), tướng Andrey Nikolayev nhận định: "Quân đội giờ đây không thể đảm bảo khả năng phòng thủ một cách đầy đủ. Với điều kiện hiện nay, ta không thể nói quân đội Nga đứng ở hàng thứ nhì thế giới"..[15]

WikiLeaks vừa công bố một bức điện do đại sứ Mỹ tại NATO gửi về Nhà Trắng. Theo nội dung bức điện, NATO đã lập một báo cáo về sức mạnh của quân đội Nga sau khi tiến hành hai cuộc tập trận ở phía tây đất nước trong năm 2009 cho thấy,\ những vấn đề nghiêm trọng nhất mà quân đội Nga đang đối mặt là khí tài cũ kỹ, thiếu phương tiện vận tải và nhân lực.[19]

"Hai cuộc tập trận trong năm 2009 cho thấy khả năng phối hợp với lực lượng không quân của Nga khá hạn chế. Họ tiếp tục phụ thuộc vào các thiết bị lạc hậu và cũ, không có khả năng tác chiến trong mọi điều kiện thời tiết, thiếu những phương tiện vận tải chiến lược, sở hữu đội ngũ sĩ quan không linh hoạt và đối mặt với tình trạng thiếu nhân lực", China Daily trích một phần bức điện.

NATO nhận định quân đội Nga chỉ có thể đối phó những xung đột vũ trang quy mô nhỏ và vừa ở những khu vực phía tây của nước này. Hai cuộc tập trận năm 2009 cho thấy quân đội Nga khó có thể tham gia hai cuộc xung đột nhỏ cùng lúc hoặc tiến hành nhiều cuộc tập trận quy mô lớn.[19]

Về phía Hải quân, Đại tá Mikhail Aleksandrovich Pogielaev, một chuyên gia quân sự người Nga đã thừa nhận: "Nòng cốt của hạm đội Nga chỉ có 6 tàu ngầm mang tên lửa thiết kế kiểu "Cá heo"..." Ông cũng công nhận "chương trình phát triển tàu ngầm của Mỹ đã đạt được thành tựu về ưu việt trong việc phát hiện xa và độ ồn thấp. Trong vấn đề này thì người Mỹ hơn". Độ ồn tàu ngầm càng lớn thì càng dễ bị đối phương phát hiện và tiêu diệt.[20]

Cựu Tư lệnh Hạm đội Phương Bắc, Đô đốc Vyacheslav Popov, đại diện Ủy ban chính sách biển liên bang Nga nói với hãng tin RIA Novosti:""Tại vùng Viễn Đông, số lượng tàu nổi của Nga ít hơn 3 lần so với Nhật Bản". Đô đốc Popov cũng khẳng định rằng, hiện nay, Hải quân Nga thực sự không có những tàu chiến mới đóng vai trò quyết định. Vũ khí và trang thiết bị, hệ thống điều khiển, đảm bảo kỹ thuật và hậu cần đều già cỗi. Theo kết luận của các chuyên gia, sức mạnh hải quân của Nga thua các nước Thụy ĐiểnPhần Lan 2 lần, Đức – 3 – 4 lần trên biển Baltic; kém Thổ Nhĩ Kỳ – 2 lần trên biển Đen; và về tổng thể kém Lực lượng Hải quân AnhHải quân Pháp – 5-6 lần và Hải quân Mỹ - 20-30 lần[21].

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]