Chiến tranh Kosovo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chiến tranh Kosovo
Paт нa Кocoву и Meтoxиjи
Lufta në Kosovë
Một phần của các chiến tranh ở Nam Tư[1]
Kosovo War header.jpg
theo hướng kim đồng hồ từ trái bên trên: Tổng hành dinh của Nam Tư bị hư hại vì bom của NATO; Xe ở Nam Tư bị đè bởi gạch rơi do bom của NATO; Tưởng niệm những chỉ huy trưởng của KLA; F-15E của Không lực Hoa Kỳ cất cánh từ căn cứ Aviano
.
Thời gian 28.02.1998 – 11.06.1999
[2]
Địa điểm Kosovo, Cộng hòa Liên bang Nam Tư
Nguyên nhân bùng nổ 1998–1999 KLA chiến tranh ly khai.
1999 Không chấp nhận hiệp ước hòa bình Rambouillet.[5]
Kết quả Hiệp ước Kumanovo
  • Lực lượng Nam Tư rút ra khỏi Kosovo
  • Nghị quyết Liên Hiệp Quốc 1244[6]
  • Thảo luận về việc tham dự của NATO[7]
  • Quân lính KLA tham dự quân đội giải phóng Preševo, Medveđa and Bujanovac (UÇPMB), bắt đầu cuộc nổi dậy tại thung lũng Preševo
Thay đổi lãnh thổ Không có thay đổi chính thức về lãnh thổ Nam Tư theo như Nghị quyết 1244, nhưng đã tách rời Kosovo khỏi Nam Tư về kinh tế và chính trị dưới sự kiểm soát bởi Liên Hiệp Quốc.
Tham chiến
Kosovo Liberation Army Quân đội Giải phóng Kosovo (KLA)
Cờ của Albania Quân đội của Cộng hòa Kosovo (FARK)

Supported by:

  •  Albania
    (Quân đội tình nguyện)

Cờ của NATO NATO

Flag of the Federal Republic of Yugoslavia Cộng hòa Liên bang Nam Tư
Chỉ huy
Kosovo Liberation Army Adem Jashari 

Kosovo Liberation Army Ramush Haradinaj
Kosovo Liberation Army Fatmir Limaj[11]

Cờ của Albania Bujar Bukoshi


Flag of the Federal Republic of Yugoslavia Slobodan Milošević

Flag of the Federal Republic of Yugoslavia Dragoljub Ojdanić
Flag of the Federal Republic of Yugoslavia Nebojša Pavković
Flag of the Federal Republic of Yugoslavia Vlastimir Đorđević[24]
Flag of the Federal Republic of Yugoslavia Vladimir Lazarević[25]
Flag of the Federal Republic of Yugoslavia Sreten Lukić

Lực lượng
Kosovo Liberation Army 9,000 – 20,000 insurgents[26]

Cờ của Albania khoảng 100-150 binh lính[cần dẫn nguồn]


Cờ của NATO cca. 80 aircraft
(Operation Eagle Eye)[28]
Cờ của NATO 1,031 aircraft
(Operation Allied Force)[29]
Cờ của NATO Hơn 30 tầu chiến và tầu ngầm[30]
Cờ của NATO Khoảng 50.000 lính trú đóng tại Bắc Albania

Flag of the Federal Republic of Yugoslavia 85.000 binh lính[31] (including 40,000 in and around Kosovo)[30]
Flag of the Federal Republic of Yugoslavia 20.000 cảnh sát
Flag of the Federal Republic of Yugoslavia 100 SAM địa điểm[30]
Flag of the Federal Republic of Yugoslavia 1,400 artillery pieces
(Both ground & air defense)[30]
Flag of the Federal Republic of Yugoslavia 240 máy bay[30]
Flag of the Federal Republic of Yugoslavia 2.032 xe tăng[30]
hàng 1000 lính tình nguyện Nga[32][33]
Tổn thất
Kosovo Liberation Army 1.500 người nổi dậy bị giết(theo KLA)[34]

Cờ của NATO 47 UAVs bị bắn rơi[35]
Cờ của NATO 2 dân sự chết[36]
Cờ của Hoa Kỳ 4 máy bay bị bắn rơi[37][38][39]
Cờ của Hoa Kỳ2 AH-64 Apache và 1 AV-8B Harrier rơi[40]
Cờ của Hoa Kỳ 3 máy bay bị hư hại[41][39]
Cờ của Hoa Kỳ 3 người lính bị bắt[42]

gây ra bởi KLA:
Flag of the Federal Republic of Yugoslavia hơn 300 binh lính bị giết theo quân đội Nam tư[43]
gây ra bởi NATO:
Flag of the Federal Republic of Yugoslavia 1.031–1.200 bị giết[a]
Flag of the Federal Republic of Yugoslavia 14 xe tăng bị phá hủy[48]
Flag of the Federal Republic of Yugoslavia 18 APCs destroyed[49]
Flag of the Federal Republic of Yugoslavia 20 đại pháo bị tiêu hủy[49]
Flag of the Federal Republic of Yugoslavia 121 máy bay và trực thăng bị phá hủy[50]
Trong Kosovo:

Cờ của Albania khoảng 3,000–10,533 Kosovo Albanian dân sự bị giết hay mất tích[51][52]
Cờ của Albania 848,000–863,000 Kosovo Albanians bị mất nhà cửa[53][54][55]
Flag of the Federal Republic of Yugoslavia 2,238 Serbs bị giết hay mất tích[53]
Flag of the Federal Republic of Yugoslavia 230,000 Kosovo Serb, Romani bị mất nhà cửa[56]
Ngoài Kosovo:
Flag of the Federal Republic of Yugoslavia 489–528 bị giết bởi bom của NATO
(theo Human Rights Watch)[57]

.


Thuật ngữ Chiến tranh Kosovo hay Xung đột Kosovo là một cuộc xung đột có vũ trang để mà kiểm soát vùng Kosovo trong những năm 1998/1999. Kosovo là một vùng nơi đa số dân là người gốc Albania, lúc đó thuộc Serbia, nước Serbia và Montenegro. Chiến tranh Kosovo diễn ra qua 2 giai đoạn:

  1. Đầu 1998 - 1999: Chiến tranh giữa người Serbia và lực lượng an ninh Nam Tư với Quân Giải phóng Kosovo (KLA), một nhóm quân đội người thiểu số Albania đòi ly khai khỏi nước Nam Tư cũ (các cuộc tấn công của KLA bắt đầu từ khoảng năm 1996).
  2. 1999: Cuộc thả bom vào nước Cộng hòa Liên bang Nam Tư của NATO năm 1999 vào giữa 24 tháng 310 tháng 6 năm 1999. NATO tấn công các mục tiêu quân sự và dân sự của Nam Tư.

Trước khi có sự can thiệp của NATO[sửa | sửa mã nguồn]

Kosovo thuộc Nam Tư dưới thời Tito (1945-1986)[sửa | sửa mã nguồn]

Căng thẳng giữa hai cộng đồng đã được nhen nhóm trong suốt thế kỷ 20 và thỉnh thoảng trở thành những cuộc bạo lực, đặc biệt trong Chiến tranh Balkan lần thứ nhất, Thế chiến thứ nhấtThế chiến thứ hai. Chính quyền cộng sản của Josip Broz Tito đã đàn áp có hệ thống các cuộc biểu tình của những nhà chủ nghĩa dân tộc trên khắp nước Nam Tư, nhằm chắc chắn rằng không một nước cộng hòa nào thống trị các nước khác. Đặc biệt, sức mạnh của Serbia - nước cộng hòa rộng và đông dân nhất - đã giảm dần bởi sự thành lập chính phủ tự trị ở tỉnh Vojvodina phía bắc Serbia và tỉnh Kosovo ở phía nam. Biên giới của Kosovo không chính xác đúng với vùng sinh sống của người thiểu số Albania ở Nam Tư (lượng lớn người Albania đã rời đến Cộng hòa Macedonia, Montenegro và Serbia trong khi ở phía bắc tỉnh Kosovo vẫn còn rất nhiều người Serbia). Tuy nhiên, đa số cư dân ở đây là người Albania ít nhất là từ 1921.

Nền tự trị chính thức của Kosovo, thiết lập theo Hiến pháp Nam Tư 1945, ban đầu có rất ít trên thực tế. Cảnh sát mật của Tito đàn áp không nương tay với các phong trào dân tộc. Năm 1956, rất nhiều người Albania bị bắt ở Kosovo và bị buộc tội gián điệp và lật đổ. Nguy cơ của chủ nghĩa ly khai thực tế rất ít, vì các nhóm nhỏ bí mật hoạt động vì sự thống nhất với Albania không quan trọng lắm về mặt chính trị. Tuy vậy, ảnh hưởng lâu dài là có thật, vì một vài nhóm, đặc biệt là Phong trào Cách mạng cho sự thống nhất Albania, thành lập bởi Adem Demaci, sau đó đã trở thành nhân tố chính trị quan trọng của Quân Giải phóng Kosovo. Bản thân Adem Demaci cũng bị bắt vào năm 1964 cùng với rất nhiều người trong phong trào.

Nam Tư đã trải qua thời kỳ khủng hoảng kinh tế và chính trị vào năm 1969, vì một chương trình cải cách kinh tế hàng loạt của chính phủ đã tăng thêm khoảng cách giữa vùng phía bắc giàu có và vùng phía nam nghèo đói của đất nước. Các cuộc biểu tình của sinh viên và các cuộc nổi loạn in Beograd vào tháng 6 năm 1968 đã lan rộng đến Kosovo vào tháng 11 cũng năm đó, nhưng bị đàn áp bởi các lực lượng an ninh Nam Tư. Tuy nhiên, một vài đề nghị của sinh viên, đặc biệt là quyền lực đại diện thật sự cho người Albania ở cả Serbia và Nam Tư, và sự công nhận tiếng Albania, đã được Tito chấp nhận. Đại học Pristina được thành lập như là một tổ chức độc lập vào năm 1970, đã kết thúc một thời kỳ dài khi mà tổ chức này hoạt động như một tiền đồn của Đại học Beograd.

Năm 1974, địa vị chính trị của Kosovo được nâng lên cao nữa khi được một hiến pháp mới của Nam Tư trao thêm nhiều quyền chính trị. Cùng với Vojvodina, Kosovo được tuyên bố là một tỉnh và đạt được nhiều trong số các quyền lực của một nước cộng hòa bình thường: một ghế trong chức chủ tịch liên bang và có quốc hội riêng, lực lượng cảnh sát và ngân hàng quốc gia. Quyền lực vẫn nằm trong tay Đảng Cộng sản, nhưng giờ đây được ủy thác cho những người cộng sản Albania.

Cái chết của Tito vào tháng 5 năm 1980 đã dẫn tới một thời kỳ dài bất ổn định chính trị, càng làm tồi tệ thêm bởi khủng hoảng kinh tế gia tăng và sự nổi loạn của những người theo chủ nghĩa dân tộc. Sự bùng nổ lớn đầu tiên xảy ra ở thành phố chính của Kosovo, Pristina, vào tháng 3 năm 1981 khi các sinh viên Albania tụ tập thành hàng dài trong căng tin của trường. Tranh cãi tưởng là bình thường này nhanh chóng lan rộng khắp Kosovo và mang những đặc điểm của một cuộc khởi nghĩa quốc gia, với hàng loạt các cuộc biểu tình của dân chúng ở nhiều thị trấn ở Kosovo. Người biểu tình yêu cầu rằng Kosovo phải được trở thành là một nước cộng hòa thứ bảy của Nam Tư. Tuy nhiên, điều này đối với Serbia và Cộng hòa Macedonia là không thể chấp nhận được về mặt chính trị. Một vài người Serbia (và có thể một vài người theo chủ nghĩa dân tộc Albania nữa) nhìn nhận những yêu sách này như là mà mở đầu cho một "Đại Albania", có thể bao gồm cả những phần của Montenegro, Cộng hòa Macedonia và chính cả Kosovo. Chủ tịch nước Nam Tư cộng sản đã đàn áp các cuộc bạo loạn bằng cách đưa cảnh sát và quân đội đến và tuyên bố tình trạng khẩn cấp, mặc dù không hủy bỏ được nền tự trị của tỉnh này như một vài người Serbia cộng sản yêu cầu. Báo chí Nam Tư cho rằng đã có 11 người chết (mặc dù những bên khác tuyên bố số người bị chết lên tới 1000) và 4200 người khác bị bắt.

Đảng Cộng sản Kosovo cũng phải chịu sự thanh trừng, một vài nhân vật chủ chốt (bao gồm chủ tịch đảng) bị trục xuất. Kosovo phải chịu đựng sự hiện diện của cảnh sát mật nặng nề trong suốt thập niên 1980, đàn áp thẳng tay không thương tiếc những biểu thị của chủ nghĩa dân tộc trái phép, cả người Albania và người Serbia. Theo như một báo cáo được trích bởi Mark Thompson, khoảng 580.000 cư dân của Kosovo bị bắt, chất vấn, giam giữ hoặc là bị khiển trách. Hàng nghìn người trong số này đã mất việc hoặc là bị đuổi khỏi các cơ sở giáo dục.

Trong suốt thời gian này, căng thẳng giữa người Albania và cộng đồng người Serbia tiếp tục leo thang. Năm 1969, Giáo hội Chính thống của Serbia đã ra lệnh cho các tăng lữ thu thập dữ liệu về vấn đề đang tiếp diễn của người Serbia ở Kosovo, nhằm gây áp lực cho chính phủ ở Beograd phải tăng cường bảo vệ sự trung thành của người Serbia. Tháng 2 năm 1982, một nhóm thầy tu từ Serbia thỉnh cầu Giám mục của mình đưa ra câu hỏi "Tại sao Giáo hội Serbia lại im lặng" và tại sao không có chiến dịch chống lại sự "hủy diệt, đốt phá, xúc phạm thần thánh của Kosovo". Những lo ngại như vậy đã thu hút sự chú ý của Beograd. Chuyện này được xuất hiện hết lần này đến lần khác trên báo chí Beograd, tuyên bố rằng người Serbia và Montenegro đang bị ngược đãi. Có một sự nhận thức xác thực giữa những người theo chủ nghĩa dân tộc Serbia là người Serbia đang bị đuổi ra khỏi Kosovo. Một thực tế quan trọng góp phần vào mối lo sợ và sự bất ổn định này là sự vận chuyển mai túy quy mô lớn của mafia ở Kosovo và Albania.

Một nhân tố khác nữa là tình trạng ngày càng tồi tệ của nền kinh tế Kosovo, khiến người Serbia không chọn nơi này để tìm việc. Người Albania cũng như người Serbia có xu hướng thích người cùng sắc tộc hơn khi thuê nhân viên mới, nhưng lượng công việc trong hoàn cảnh nào cũng quá ít so với dân số.

Kosovo và sự nổi lên của Slobodan Milosevic (1986-1990)[sửa | sửa mã nguồn]

Kosovo dưới sự quản lý trực tiếp của Serbia (1990-1996)[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc thảm sát Racak[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 1/1999, vụ thảm sát người Albania ở Racak trở thành giọt nước tràn ly. Phương Tây, vốn có quá nhiều vấn đề ở Bosnia, đã vào cuộc. Hội nghị Rambouillet tại Paris, Pháp, được triệu tập mùa xuân năm đó với ý định áp đặt một giải pháp chính trị cho quân nổi dậy nhưng không thành.

Hội nghị Rambouillet (tháng 1 - 3 năm 1999)[sửa | sửa mã nguồn]

Nam Tư rút lui và KFOR thế chỗ[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 24 tháng 3 năm 1999, NATO phát động một chiến dịch ném bom trên không nhằm vào Serbia. Hàng trăm ngàn người Albania bị các nhóm quân của Milosevic đuổi khỏi Kosovo. Sau 78 ngày ném bom, Belgrade nhượng bộ. Tại Kosovo, lực lượng Serbia được thay thế bằng lính của NATO và Liên hợp quốc. Kosovo trở thành xứ bảo trợ quốc tế, đặt dưới sự chỉ đạo của LHQ. Quy chế của tỉnh này được đóng băng trong 5 năm.

Suốt mùa hè năm 1999, bạo lực tăng cao chống lại người Serbia sống trong các khu vực toàn người Albania ở phía nam đất nước. Sau Bosnia, Kosovo là một bằng chứng mới cho thấy thất bại chính trị của phương Tây khi định khởi động chủ nghĩa đa sắc tộc ở Balkans.

Tại Belgrade, hậu quả trực tiếp của cuộc oanh tạc của NATO là Milosevic bị lật đổ ngày 5 tháng 10 năm 2000. Phương Tây khi đó muốn thiết lập một chính quyền thân châu Âu ở Belgrade, mà người Albania ở Kosovo có thể chấp nhận hợp tác. Nhưng tháng 3 năm 2003, vụ ám sát Zoran Djindjic, chính khách duy nhất của Serbia muốn giải quyết vấn đề Kosovo, đã dập tắt hy vọng này. Và chủ nghĩa dân tộc Serbia sống lại.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Thomas (2006), p. 47
  2. ^ “Europe | Kosovo rebels to disarm”. BBC News. 21 tháng 6 năm 1999. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2012. 
  3. ^ Daniszewski, John (14 tháng 4 năm 1999). “Yugoslav Troops Said to Cross Into Albania”. Los Angeles Times. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2012. 
  4. ^ Daly, Emma (14 tháng 4 năm 1999). “War In The Balkans: Serbs enter Albania and burn village”. The Independent (London). Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2012. 
  5. ^ Press Statement by Dr. Javier Solana, Secretary General of NATO from NATO's website, 23 March 1999.
  6. ^ Reitman, Valerie; Richter, Paul; Dahlburg, John-Thor (10 tháng 6 năm 1999). “Yugoslav, NATO Generals Sign Peace Agreement for Kosovo / Alliance will end air campaign when Serbian troops pull out”. San Francisco Chronicle. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2012. 
  7. ^ “Nato's bombing blunders”. BBC News. 1 tháng 6 năm 1999. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2012. 
  8. ^ a ă “The Balkans/Allied Force: Statistics”. planken.org. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2012. 
  9. ^ “Norske jagerfly på vingene i går”. Tux1.aftenposten.no. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2012. 
  10. ^ “Turkish Air Force”. Hvkk.tsk.tr. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2009. 
  11. ^ http://www.icty.org/x/cases/limaj/cis/en/cis_limaj_al_en.pdf
  12. ^ “Viewing Page 13067 of Issue 55325”. London Gazette. 30 tháng 11 năm 1998. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2012. 
  13. ^ “US used wrong map for embassy attack”. BBC News. 11 tháng 5 năm 1999. 
  14. ^ http://armed-services.senate.gov/statemnt/1999/991103kn.pdf
  15. ^ “French pilots fly for Nato”. BBC News. 24 tháng 4 năm 1999. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2012. 
  16. ^ Reinhard Jellen (10 tháng 6 năm 2011). “Der Kosovo, die UCK und Psychedelia à la Rudolf Scharping”. Heise.de. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2012. 
  17. ^ “Tony Blair: Kosovo crusader”. BBC News. 22 tháng 4 năm 1999. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2012. 
  18. ^ “IHS Events, Webinars, Training and User Groups”. Ihs.com. 31 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2012. 
  19. ^ “Viewing Page 14622 of Issue 56078”. London Gazette. 2 tháng 1 năm 2001. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2012. 
  20. ^ “Reader responds to criticism of military-minded Democrats”. Online Athens. 17 tháng 2 năm 2004. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2012. 
  21. ^ “Operation Allied Force – Operation Allied Force in Kosovo”. Militaryhistory.about.com. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2012. 
  22. ^ Lambeth, Benjamin S. (tháng 2 năm 2002). “Task Force Hawk”. Air Force Magazine 85 (2). Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2012. 
  23. ^ Tirpak, John A. (22 tháng 10 năm 2012). “Kosovo Retrospective”. Air Force Magazine 83 (4). Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2012. 
  24. ^ “BBC News – Serbian Vlastimir Djordjevic jailed over Kosovo murders”. BBC News. 24 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2012. 
  25. ^ “Serbia charges police officers with 1999 Kosovo murders”. SETimes.com. 28 tháng 4 năm 2006. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2012. 
  26. ^ John Pike. “Kosovo Liberation Army [KLA / UCK]”. Globalsecurity.org. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2012. 
  27. ^ “Forcat e Armatosura të Republikës së Kosovës facts”. Freebase. 1 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2012. 
  28. ^ 12 mal bewertet (24 tháng 3 năm 1999). “Die Bundeswehr zieht in den Krieg”. 60xdeutschland.de. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2012. 
  29. ^ John Pike. “Kosovo Order of Battle”. Globalsecurity.org. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2012. 
  30. ^ a ă â b c d “NATO Operation Allied Force”. Defense.gov. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2012. 
  31. ^ Kosovo Map The Guardian
  32. ^ “Fighting for a foreign land”. BBC News. 20 tháng 5 năm 1999. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2012. 
  33. ^ “Russian volunteer's account of Kosovo”. The Russia Journal. 5 tháng 7 năm 1999. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2012. 
  34. ^ Daalder & O'Hanlon 2000, p. 151
  35. ^ Andrei Kislyakov (9 tháng 10 năm 2007). “Unmanned Aerial Vehicles Increase In Numbers”. Radardaily.com. RIA Novosti. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2012. 
  36. ^ “Two die in Apache crash”. BBC News. 5 tháng 5 năm 1999. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2012. 
  37. ^ “How to Take Down an F-117”. Strategypage.com. 21 tháng 11 năm 2005. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2012. 
  38. ^ “Holloman commander recalls being shot down in Serbia”. F-16.net. 7 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2012. 
  39. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên ejection-history1
  40. ^ “Nato loses two planes”. BBC News. 2 tháng 5 năm 1999. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2012. 
  41. ^ “[http://nl.newsbank.com/nojavascript.html F-117 damage said attributed to full moon”. Atlanta Journal-Constitution. 6 tháng 5 năm 1999. tr. A14]. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2012. 
  42. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên John_Pike
  43. ^ Robert Fisk (21 tháng 6 năm 1999). “Serb army 'unscathed by Nato', KLA 'killed more Serbs than Nato did'”. The Independent. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2013. 
  44. ^ “Serbia marks anniversary of NATO bombing”. B92. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2012. 
  45. ^ Bideleux, Robert; Jeffries, Ian (2006). The Balkans: A Post-Communist History. Routledge. tr. 558. ISBN 978-0-203-96911-3. 
  46. ^ Chambers II, John Whiteclay (1999). The Oxford Companion to American Military History. Oxford University Press. tr. 375. ISBN 978-0-19-507198-6. 
  47. ^ Coopersmith, Jonathan; Launius, Roger D. (2003). Taking Off: A Century of Manned Flight. American Institute of Aeronautics and Astronautics. tr. 54. ISBN 978-1-56347-610-5. 
  48. ^ Andrew Cockburn (3 tháng 4 năm 2011). “The limits of air power”. Los Angeles Times. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2013. 
  49. ^ a ă Macdonald 2007, tr. 99
  50. ^ Bacevich & Cohen 2001, p. 22
  51. ^ Mann (2005), p. 357
  52. ^ Jonathan Steele (18 tháng 8 năm 2000). “Kosovo: 'Motivated to believe the worst'”. The Guardian. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2013. 
  53. ^ a ă “Serbia: 13,000 killed and missing from Kosovo war - rights group”. Relief Web. 6 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2012. 
  54. ^ Judah, Tim. The Serbs: History, Myth and the Destruction of Yugoslavia. Yale University Press. tr. 150. ISBN 978-0-300-15826-7. 
  55. ^ Kosovo/Kosova: As Seen. tr. Part III, Chap 14. 
  56. ^ Judah, Tim. Kosovo: What Everyone Needs to Know. Oxford University Press. tr. 14. ISBN 978-0-19-974103-8. 
  57. ^ The Crisis in Kosovo – Human Rights Watch 2000


Lỗi chú thích: Đã tìm thấy thẻ <ref> với tên nhóm “lower-alpha”, nhưng không tìm thấy thẻ tương ứng <references group="lower-alpha"/> tương ứng, hoặc thẻ đóng </ref> bị thiếu