Chung Tấn Cang

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Chung Tấn Cang (1926-2007) là sĩ quan hải quân đầu tiên và duy nhất mang cấp bậc Phó đô đốc Hải lực Việt Nam Cộng hòa. Từng được biết là một thành viên của nhóm tướng trẻ nắm vai trò quan trọng trong chính trường Việt Nam Cộng hòa 1964-1967, ông cũng là vị chỉ huy cuộc di tản năm 1975 của Hải quân Việt Nam Cộng hòa, đưa hầu hết hạm đội của Hải quân Việt Nam Cộng hòa sang Philippines.

Thân thế và sự nghiệp hàng hải[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 22 tháng 7 năm 1926 tại Gia Định trong một gia đình Công giáo. Do điều kiện gia đình, ông có được nền tảng học vấn cơ bản và từng tốt nghiệp Tú tài Pháp.

Cách mạng tháng 8 nổ ra, ông tham gia phong trào độc lập do Việt Minh lãnh đạo một thời gian. Khi người Pháp tái chiếm Đông Dương, ông từng có ý định ra bưng theo kháng chiến[1], tuy nhiên sau đó ông đổi ý định, chuyển sang sự nghiệp hàng hải, theo học Trường Hàng hải Thương thuyền (Ecole Marine Marchande). Tại đây, ông kết bạn với một học viên trẻ tên là Nguyễn Văn Thiệu.[2][3]

Nguyễn Văn Thiệu sau đó bỏ học vì không đạt tiêu chuẩn trong học tập, sau đó theo con đường binh nghiệp, theo học khóa đầu tiên của trường sĩ quan Huế (sau này trở nên trường Võ bị Đà Lạt). Riêng ông tiếp tục theo học và tốt nghiệp năm 1947, sau đó phục vụ trong ngành với tư cách sĩ quan hàng hải, bấy giờ đặt dưới quyền quản lý của người Pháp.

Khởi đầu binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối năm 1951, ông cùng 7 sĩ quan hàng hải được chuyển sang phục vụ trong Quân đội Quốc gia Việt Nam, được cử đi học khoá 1 Trường sĩ quan Hải quân Nha Trang thuộc ngành chỉ huy. Cả 6 khoá sinh ngành chỉ huy hải quân này về sau đều lần lượt giữ chức vụ chỉ huy trưởng của Hải quân Việt Nam Cộng hòa, gồm:

  1. Lê Quang Mỹ, Hải quân Thiếu tá, Tư lệnh Hải quân (1955-1957). Cấp bậc sau cùng: Hải quân Đại tá (1956)
  2. Trần Văn Chơn, Hải quân Thiếu tá, Tư lệnh Hải quân (1957-1959, lần thứ nhất), Hải quân Đại tá Tư lệnh Hải quân (1966-1974, lần thứ 2). Cấp bậc sau cùng: Hải quân Đề đốc (1970).
  3. Hồ Tấn Quyền, Hải quân Đại tá, Tư lệnh Hải quân (1959-1963), bị sát hại vào ngày đảo chính 1/11/1963.
  4. Chung Tấn Cang, Hải quân Trung tá, Tư lệnh Hải quân (1963-1965, lần thứ nhất), Hải quân Phó đô đốc, Tư lệnh Hải quân (1975).
  5. Trần Văn Phấn, Hải quân Đại tá, Tư lệnh Hải quân (1965-1966).
  6. Lâm Ngươn Tánh, Hải quân Đề đốc, Tư lệnh Hải quân (1974-1975)

Ban đầu, cả 9 khoá sinh khoá 1 Hải quân (gồm cả 3 sĩ quan ngành cơ khí) đều được đưa xuống Hàng không Mẫu hạm Arromanches để thụ huấn lúc ban đầu, sau đó thụ huấn chuyên nghiệp qua hầu hết các chiến hạm Viễn Đông của Hải quân Pháp vì Trung tâm Huấn luyện Hải quân Nha Trang đang trong thời kỳ xây dựng. Đến ngày 12 tháng 7 năm 1952, Trung tâm Huấn luyện Hải quân Nha Trang được khánh thành, các khoá sinh được đưa trở về Trung tâm để tiếp tục thụ huấn.

Kết khoá, ông tốt nghiệp vị trí Á khoa với cấp bậc Hải quân Chuẩn úy và được điều động làm Chỉ huy trưởng Toán Hải thuyền Xung kích 264 thuộc Giang đoàn Xung phong. Năm 1953, được thăng Hải quân Thiếu úy, Chỉ huy trưởng Liên toán Hải thuyền Xung kích 731 và 741, cuối năm thăng Hải quân Trung úy.

Đầu năm 1954, ông trở thành Hạm trưởng đầu tiên của Giang vận hạm HQ 533 do Hải quân Pháp chuyển giao lại cho Hải quân Quốc gia Việt Nam và được thăng cấp Hải quân Đại úy.

Chống đảo chính rồi tham gia đảo chính[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu năm 1955, ông được chuyển sang làm Hạm trưởng Giang pháo hạm Lôi công HQ 330. Khi chính thể Việt Nam Cộng hòa được thành lập, ông ở lại phục vụ và được bổ nhiệm chức vụ Chỉ huy trưởng Trung tâm Huấn luyện Hải quân Nha Trang tháng 10 năm 1955. Năm 1957, ông được cử đi du học Trường Hành quân Thủy Bộ Coranado, California, Hoa Kỳ. Sau đó, ông được thăng cấp Hải quân Thiếu tá.

Năm 1959, ông được bổ nhiệm chức vụ Chỉ huy trưởng Giang lực. Không lâu sau, kiêm nhiệm Hạm trưởng Trục lôi hạm Hàm Tử II HQ-114 do Hải quân Hoa Kỳ chuyển giao.

Khi cuộc đảo chính năm 1960 nổ ra, ông chỉ huy lực lượng giang thuyền đóng tại bến Bạch Đằng nổ sung tấn công vào quân đảo chính. Cuộc đảo chính thất bại, để tưởng thưởng công lao, ông được Tổng thống Ngô Đình Diệm thăng Hải quân Trung tá và được cử đi du học lớp Chỉ huy tại Trường Cao đẳng Hải chiếnNew Port, Rhode Island, Hoa Kỳ. Trở về nước năm 1961, ông tái nhiệm chức vụ Chỉ huy trưởng Giang lực.

Tuy nhiên, đến năm 1963, ông là một trong số những sĩ quan hải quân đầu tiên tham gia vào âm mưu đảo chính. Theo đó, sau khi Đại tá Hồ Tấn Quyền, Tư lệnh Hải quân, bị sát hại; ông sẽ chỉ huy lực lượng giang đỉnh tiến vào Bộ Tư lệnh Hải quân, đảm nhiệm vai trò Tư lệnh Hải quân. Chỉ một ngày sau, ngày 2 tháng 11 năm 1963, ông được Hội đồng Quân nhân Cách mạng thăng cấp Hải quân Đại tá.[4]

Chỉ 3 tháng sau, tháng 1 năm 1964, ông cùng các sĩ quan trẻ ủng hộ tướng Nguyễn Khánh thực hiện của "chỉnh lý" tước quyền các tướng lĩnh lãnh đạo Hội đồng Quân nhân Cách mạng, tham gia hội đồng đối chất tướng Trần Văn Đôn (cùng các tướng Lê Văn Kim, Mai Hữu XuânTôn Thất Đính) vì bị tình nghi là “trung lập”.[5] Để tưởng thưởng việc này, ngày 8 tháng 4 năm 1964, ông cùng Đại tá Nguyễn Cao Kỳ, Tư lệnh Không quân, được thăng cấp bậc Chuẩn tướng vừa được đặt ra (trong Hải quân được gọi là Phó đề đốc).[6]

Năm tháng sau, ngày 13 tháng 9 năm 1964, hai tướng Dương Văn ĐứcLâm Văn Phát làm đảo chánh với mục đích muốn loại bỏ tướng Khánh. Ông cùng với các tướng trẻ ra tuyên bố chung không chấp nhận cuộc đảo chính, "cương quyết đòi tướng Dương Văn Đức rút quân về các vị trí cũ tại vùng IV; nếu không, sẽ đối phó."[7] Cuộc đảo chính thất bại. Để tưởng thưởng sự ủng hộ này, ngày 21 tháng 10 năm 1964, ông cùng với các tướng Nguyễn Cao Kỳ, Lê Nguyên Khang, Nguyễn Chánh Thi, Phạm Văn Đổng, Bùi Hữu Nhơn, được thăng Thiếu tướng (trong Hải quân được gọi là Đề đốc).[6]

"Những đứa bé đần độn" của Đại sứ Taylor[sửa | sửa mã nguồn]

Với sự ủng hộ của các tướng trẻ, tướng Khánh tìm mọi cách để từng bước nắm các quyền lực tối cao. Ngày 18 tháng 12 năm 1964, các tướng lãnh thành lập Hội đồng Quân lực. Trưa ngày 20 tháng 12 năm 1964, Hội đồng Quân lực họp báo, tuyên bố giải tán Thượng hội đồng Quốc gia, đoạt quyền của chính quyền dân sự. Tuy nhiên, việc này vấn phải phản ứng mạnh mẽ của Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Cộng hòa bấy giờ là cựu tướng Maxwell Taylor do lo ngại hành động này gây xáo trộn lớn về chính trị cho Việt Nam Cộng hòa. Trong cuộc nói chuyện với các tướng Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, Nguyễn Chánh ThiChung Tấn Cang, tại Tòa Đại sứ Hoa Kỳ, Đại sứ Taylor đã xem các tướng lãnh Việt Nam Cộng hòa "như là những học sinh lang thang bị bắt gặp đang trộm quả trong một vườn cây ăn trái”"đối xử với những tướng lãnh cấp cao của Việt Nam như là với những đứa bé đần độn".[8]

Cuộc nói chuyện với tướng Nguyễn Khánh tại văn phòng tướng Khánh của Đại sứ Taylor cũng không nhẹ nhàng gì, vì vậy sau đó tướng Khánh đã triệu tập một buổi họp Hội đồng Tướng lãnh để phản ứng về những lời lẽ thiếu ngoại giao của Đại sứ Taylor. "Tất cả đồng thanh quyết định gửi văn thư cho Quốc trưởng Phan Khắc Sửu và Thủ tướng Trần Văn Hương yêu cầu trục xuất Đại sứ Taylor. Tướng Khánh cũng họp báo tố cáo Đại sứ Taylor can thiệp vào chuyện nội bộ của Việt Nam."[9] Tuy nhiên, chính phủ Hoa Kỳ phản ứng mạnh, đe dọa chấm dứt viện trợ cho Việt Nam Cộng hòa. Nhờ sự can thiệp khéo léo của Thủ tướng Trần Văn Hương, xung đội này mới được giải tỏa nhưng số phận của tướng Khánh đã được định đoạt.[6]

Tháng 2 năm 1965, chính phủ Thủ tướng Phan Huy Quát được thành lập. Ông được cử làm thành viên Hội đồng Quốc gia Lập pháp. Đến tháng 4, ông bị buộc phải bàn giao chức vụ Tư lệnh Hải quân lại cho Thiếu tướng Lê Nguyên Khang, Tư lệnh Thủy quân Lục chiến, kiêm nhiệm; do bị buộc tội bán các đồ viện trợ dành cho các nạn nhân bão lụt cho bọn buôn chợ đen nhằm trục lợi năm 1965[3]. Vì vậy, ông không có mặt trong phiên họp ngày 5 tháng 5 năm 1965 của Hội đồng Quân lực tuyên bố tự giải tán.[6] Tuy nhiên, do sự can thiệp của người bạn cũ Nguyễn Văn Thiệu, bấy giờ là Trung tướng, Phó thủ tướng kiêm Tổng trưởng Quân lực, can thiệp để tránh cho ông khỏi bị đưa ra tòa. Đến tháng 10, ông được bổ nhiệm vào chức vụ Phụ tá Đặc biệt Tổng tham mưu trưởng, một chức vụ hữu danh vô thực.[3]

Trở lại vị trí chỉ huy[sửa | sửa mã nguồn]

Mãi sau khi tướng Nguyễn Văn Thiệu trúng cử Tổng thống, cuối năm 1967, ông được bổ nhiệm làm Chỉ huy trưởng trường Đại học Quân sự (tiền thân Trường Chỉ huy & Tham mưu). Tháng 8 năm 1969, ông chuyển sang giữ chức Phụ tá Nghiên huấn Bộ Quốc phòng kiêm Chủ tịch Ủy ban Quốc gia Bài trừ Tham nhũng. Tuy nhiên, trên cương vị này, ông bị nghi ngờ có liên can đến tướng Đặng Văn Quang trong các phi vụ buôn lậu giữa năm 1970.[3]

Sau khi trúng cử Tổng thống nhiệm kỳ 2 trong một cuộc bầu cử độc diễn năm 1971, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã bổ nhiệm ông vào Tư lệnh Biệt khu Thủ đô kiêm Tổng trấn Sài Gòn - Gia Định. Tháng 7 cùng năm, ông được vinh thăng Phó Đô đốc, trở thành sĩ quan hải quân đầu tiên và duy nhất mang cấp bậc Phó đô đốc của Hải lực Việt Nam Cộng hòa, dù trên thực tế ông không còn ở trong ngành Hải quân từ 6 năm trước.

Chỉ huy hạm đội di tản năm 1975[sửa | sửa mã nguồn]

Mãi đến hạ tuần tháng 3 năm năm 1975, ông mới được Tổng thống Thiệu bổ nhiệm trở lại vào chức vụ Tư lệnh Hải quân. Tuy nhiên, tình thế quân sự tại Nam Việt Nam đã thay đổi khi hầu hết địa bàn của Quân khu I và Quân khu II đã rơi vào tay của lực lượng Cộng sản. Trong những động thái cuối cùng, ông đã cho thành lập Lực lượng Đặc nhiệm 99, khai thông tuyến đường thủy từ Sài Gòn ra biển, đề phòng đối phương cắt đứt Quốc lộ 4, ngang khúc Long An trong trường hợp tiến đánh Sài Gòn; đồng thời lập kế hoạch di tản bằng đường thủy các đơn vị Quân lực Việt Nam Cộng hòa và các công nhân viên chức chính phủ về Quân khu IV trong trường hợp Sài Gòn thất thủ.

Tuy nhiên, mọi thứ đã quá trễ! Sau khi Tổng thống Thiệu từ chức và bay ra nước ngoài, Phó tổng thống Trần Văn Hương cũng giữ chức vụ Tổng thống trong 7 ngày rồi bàn giao lại cho tướng Dương Văn Minh. Không còn hy vọng về quân sự, tân tổng thống Dương Văn Minh đã giao quyền cho Tư lệnh Chung Tấn Cang tự quyết các vấn đề về Hải quân. Ngay trong ngày 29 tháng 4 năm 1975, ông ra lệnh giải tán Bộ Tư lệnh Hải quân rồi lên Tuần dương hạm Trần Nhật Duật HQ 3, cùng nhiều chiến hạm khác lập thành một hạm đội di tản nhiều quân nhân và thường dân chuyển về tập kết tại Côn Đảo. Trưa ngày 30 tháng 4, sau khi nghe thông báo đầu hàng của tướng Dương Văn Minh trên đài phát thanh, ông đã ra lệnh toàn bộ hạm đội di chuyển về căn cứ Subic (Philippines)[1]. Tại đây, ông cùng các sĩ quan Hải quân Việt Nam Cộng hòa đã làm lễ hạ cờ và bàn giao các chiến hạm lại cho Hải quân Hoa Kỳ ngày 7 tháng 5 năm 1975[10]. Các chiến hạm này về sau đều được Hải quân Philippines sử dụng.

Cuộc sống lưu vong[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi đến Hoa Kỳ, ông cùng gia đình định cư tại Backerfield, California. Năm 1981, Mặt trận Thống nhất các Lực lượng yêu nước Giải phóng Việt Nam tuyên bố thành lập, do ông Lê Quốc Túy làm Chủ tịch. Ông Lê Quốc Túy có cử người liên lạc với ông để vận động hợp tác. Tuy nhiên, sau đó ông đã từ chối vì cho rằng "ông Túy thường hành động theo ý kiến cá nhân, thiếu tinh thần tập thể."[11] Quả nhiên sau 6 năm đưa người về Việt Nam hoạt động đều thất bại, ngày 4 tháng 3 năm 1988, bức điện cuối cùng nhân danh Chủ tịch Lê Quốc Túy được gửi về cho các toán ở trong nước với thông báo giải tán toàn bộ tổ chức.

Trong những năm sau đó ông sống thầm lặng, thỉnh thoảng tham dự những cuộc họp mặt thân hữu. Ngày 24 tháng 1 năm 2007, ông từ trần tại nơi định cư, hưởng thọ 81 tuổi.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh trưởng trong một gia đình Công giáo, có 2 người cậu làm Linh mục. Ngoài người anh Chung Tấn Thắng (Kỹ sư), ông còn có 2 người em trai đều phục vụ trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa:

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Phan Lạc Tiếp, Một Ngày Với Ðô Ðốc Chung Tấn Cang. 1999
  2. ^ Hoàng Văn Lạc và Hà Mai Việt. Blind Design, 1996
  3. ^ a ă â b Alfred W. McCoy, The Politiques of Heroin in SEA. Harper Colophon Books, 1973
  4. ^ Nguyễn Bá Cẩn, Cái chết của Hải quân Đại tá Hồ Tấn Quyền, Tư lệnh Hải quân, trong cuộc binh biến 1 tháng 11 năm 1963, dẫn theo Hải sử tuyển tập.
  5. ^ Trần Văn Đôn, Việt Nam nhân chứng. NXB Xuân Thu, Hoa Kỳ, 1989
  6. ^ a ă â b Lâm Vĩnh Thế, Nhóm tướng trẻ trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa vào giai đoạn 1964-1965
  7. ^ Đoàn Thêm. Hai mươi năm qua: việc từng ngày (1945-1964). Los Alamitos, Calif. NXB Xuân Thu, 1989. Tr. 407. Dẫn theo Lâm Vĩnh Thế, Nhóm tướng trẻ trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa vào giai đoạn 1964-1965.
  8. ^ Nguyễn Cao Kỳ, Chúng ta đã thua trận tại Việt Nam như thế nào?. NXB Thông tấn xã Việt Nam, 1985. Tr.33. Bản tiếng Anh, How We Lost the Vietnam War. Cooper Square Press, 2002. p.55
  9. ^ Lâm Vĩnh Thế. Việt Nam Cộng Hòa, 1963-1967 : những năm xáo trộn. Hamilton, Ont. : Hoài Việt, 2010. Tr. 98.
  10. ^ Phan Lạc Tiếp, Đôi Giòng Tiểu Sử về Phó Đô Đốc Chung tấn Cang.
  11. ^ Điệp Mỹ Linh, Hải-Quân Việt-Nam Cộng Hòa Ra Khơi, 1975. Chương IX: Phỏng Vấn Những Nhân Vật Liên Hệ Đến Chuyến Ra Khơi Cuối Cùng Của Hải-Quân V.N.C.H.", phần "Nguyên Phó-Đô-Đốc Chung Tấn Cang"

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]