Phan Huy Quát

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Phan Huy Quát
Phan Huy Quat.jpg
Ảnh chân dung ông Phan Huy Quát chụp tại Paris.
Chức vụ
Tổng trưởng Giáo dục Quốc gia Việt Nam
Nhiệm kỳ 2 tháng 7, 1949 – 22 tháng 1, 1950
Tiền nhiệm ?
Kế nhiệm ?
Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thiệu
Nhiệm kỳ Tháng 6, 1953 – 1954
Tiền nhiệm Nguyễn Phúc Bửu Lộc
Kế nhiệm Ngô Đình Diệm
Tổng trưởng Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa
Nhiệm kỳ 8 tháng 2, 1964 – ?, 1964
Tiền nhiệm Trần Văn Đỗ
Kế nhiệm Trần Văn Lắm
Nhiệm kỳ 16 tháng 2, 1965 – 5 tháng 6, 1965
Tiền nhiệm Nguyễn Xuân Oánh
Kế nhiệm Nguyễn Cao Kỳ
Thông tin chung
Đảng Flag of VNQDD.svg Đại Việt Quốc dân Đảng
Sinh 12 tháng 6, 1908
Thạch Châu, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh, xứ Trung Kỳ
Mất 27 tháng 4, 1979
Nhà lao Chí Hòa, thành phố Hồ Chí Minh,  Việt Nam
Nơi ở Sài Gòn,  Việt Nam Cộng hòa
Dân tộc Kinh
Tôn giáo Không
Họ hàng Dòng họ Phan Huy
Vợ Đặng Thị Lý
Con cái Phan Huy Kiểm (trưởng nam)
Phan Huy Bách (thứ nam)
Phan Huy Anh (tam nam)
Phan Mạnh Giao (trưởng nữ)
Phan Mỹ Chương (thứ nữ)
Phan Thị Lâm Hương (tam nữ)
Chữ ký 180px
Binh nghiệp

Phan Huy Quát[1] (1908 - 1979) quê quán Hà Tĩnh, là thủ tướng Việt Nam Cộng hòa từ ngày 16 tháng 2 năm 1965 đến ngày 5 tháng 6 năm 1965. Phan Huy Quát đồng thời là thành viên Đại Việt Quốc dân Đảng và Tổng trưởng Quốc phòng Quốc gia Việt Nam. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông bị giam và mất trong nhà lao Chí Hòa ngày 27 tháng 4 năm 1979.

Ông có bằng tiến sĩ ngành y khoa.

Tham gia chính phủ Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Khi Quốc gia Việt Nam được thành lập, ông làm Tổng trưởng các bộ Giáo dục (1949), Quốc phòng (1950 - 1954) trong các chính phủ Quốc gia Việt Nam thời Quốc trưởng Bảo Đại. Sau đó ông lui về hành nghề bác sĩ tại Sài Gòn.

Đảm nhiệm chức Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Sau cuộc Đảo chánh 1963, tướng Dương Văn Minh rồi Nguyễn Khánh lên nắm quyền trong thời kỳ quân quản của Việt Nam Cộng hòa nhưng tình hình vẫn nhiều xáo trộn. Vì áp lực của Hội đồng Quân lực, tướng Nguyễn Khánh phải rút khỏi chính trường và chính phủ dân sự được thành lập do ông đứng đầu với cương vị Thủ tướng. Phó thủ tướng là Nguyễn Văn Thiệu. Nội các gồm có Bộ trưởng Thông tin Linh Quang Viên, Bộ trưởng Giáo dục Nguyễn Tiến Hỷ, Bộ trưởng Phủ thủ tướng Bùi Diễm, Bộ trưởng Ngoại giao Trần Văn Đỗ.[2]

Ngày 25 Tháng Năm năm 1965 ông quyết định cải tổ Nội các[3], thay thế một số Tổng trưởng nhưng phe giáo dân Thiên Chúa giáo phản đối. Quốc trưởng Phan Khắc Sửu cũng không đồng tình nên không phê chuẩn.[4] Tình hình bế tắc kéo dài sang tháng 6 vì bất đồng giữa Quốc trưởng Phan Khắc Sửu và Thủ tướng Phan Huy Quát không giải quyết được; chính phủ hoàn toàn bị tê liệt.

Ngày 11 tháng 6, ông triệu tập hội đồng chính phủ để giải quyết nhưng không đạt được thỏa hiệp nào nên ông ra lệnh giải tán chính phủ và từ chức Thủ tướng. Các tướng lãnh tiếp thu chính quyền và đặt hai cơ quan: Ủy ban Hành pháp Trung ươngỦy ban lãnh đạo Quốc gia. Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu làm chủ tịch Ủy ban lãnh đạo Quốc gia với cương vị quốc trưởng trong khi Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ làm chủ tịch Ủy ban hành pháp trung ương với cương vị Thủ tướng cho tới khi thành lập nền Đệ nhị Cộng hòa Việt Nam vào năm 1967.

Tù đày và tạ thế[sửa | sửa mã nguồn]

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông và gia đình bị kẹt lại ở Việt Nam do không kịp di tản. Ông không ra trình diện theo lệnh của chính quyền mới và sống trốn tránh trong một thời gian ngắn. Trên đường đi trốn, ông bị bắt giam cùng con trai út là Phan Huy Anh rồi mất tại nhà lao Chí Hòa[5]viêm gan và không được cứu chữa kịp thời ngày 27 tháng 4 năm 1979.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]