Nguyễn Văn Thiệu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nguyễn Văn Thiệu
President Nguyen Van Thieu.jpg
Tổng thống Đệ nhị Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu.
Chức vụ
Nhiệm kỳ 1967 – 1975
Tiền nhiệm Ngô Đình Diệm
Kế nhiệm Trần Văn Hương
Khu vực  Việt Nam Cộng hòa
Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ (1967-1971)
Trần Văn Hương (1971-1975)
Nhiệm kỳ 1965 – 1967
Tiền nhiệm Nguyễn Khánh
Kế nhiệm không có
Nhiệm kỳ 1964 – 1965
Tiền nhiệm Nguyễn Khánh
Kế nhiệm Nguyễn Hữu Có
Nhiệm kỳ 1964 – 1965
Tiền nhiệm Nguyễn Khánh
Kế nhiệm Nguyễn Hữu Có
Thông tin chung
Đảng phái Đảng Dân chủ
Sinh 5 tháng 4, 1923(1923-04-05)
Thanh Hải, Ninh Thuận, Việt Nam
Mất 29 tháng 9, 2001 (78 tuổi)
Boston, Massachusetts, Hoa Kỳ
Dân tộc Kinh
Tôn giáo Công giáo
Họ hàng Anh ruột: Nguyễn Văn Hiếu và Nguyễn Văn Kiểu
Vợ Nguyễn Thị Mai Anh

Nguyễn Văn Thiệu (5 tháng 4 năm 192329 tháng 9 năm 2001) là Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia Việt Nam Cộng hòa thời kỳ 1965-1967Tổng thống Việt Nam Cộng hòa thời kỳ 1967-1975.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyễn Văn Thiệu sinh tháng 11 năm 1924 (âm lịch), tại Phan Rang, Tháp Chàm, rửa tội theo Công giáo với tên thánh là Martino. Ông là con út trong gia đình có bảy người con (bốn trai, ba gái) nên lúc nhỏ được gọi là cậu Tám.[1] Ông có hai người anh: Nguyễn Văn Hiếu (hơn ông Thiệu 16 tuổi)[2] và Nguyễn Văn Kiểu. Nguyễn Văn Hiếu thời Đệ nhị Cộng hòa được bổ làm đại sứ ở Ý còn Nguyễn Văn Kiểu làm đại sứ ở Đài Loan.[3]

Khi đi học ông lấy ngày sinh là 24 Tháng 12, 1924.[1] Học hết lớp 9 ở quê nhà ông lên Sài Gòn để học nghề ở Trường Kỹ thuật Đỗ Hữu Vị.[cần dẫn nguồn] Sau đó, ông Thiệu được người anh cả Nguyễn Văn Hiếu giúp đưa vào học trong một trường dòng Công giáo của Pháp là Pellerin tại Huế. Khi chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, ông hoàn thành khóa học và quay trở về nhà. Trong ba năm Nhật Bản chiếm đóng, ông làm ruộng cùng với gia đình. Quan điểm của ông Thiệu về chủ nghĩa dân tộc ngày càng gia tăng cùng với sự bại trận của Nhật Bản và sự quay lại của quân đội PhápĐông Dương.

Ông Thiệu có thể nói giỏi hai thứ tiếng Anh[4] và Pháp[5].

Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc năm 1945, ông tham gia lực lượng Việt Minh do Hồ Chí Minh đứng đầu.[6] Ông cùng các đồng chí được huấn luyện vũ khí trong rừng dùng gậy tre vì họ không có súng. Năng lực quản lý của ông sớm được công nhận, sau đó được bổ nhiệm trở thành một người đứng đầu huyện. Nhưng sau chưa đến một năm, ông bắt đầu thất vọng, "Tôi biết rằng Việt Minhcộng sản," ông trả lời trong một cuộc phỏng vấn, và nói thêm: "họ bắn người dân, họ lật đổ các ủy ban xã, họ tịch thu đất đai".[6] Ông bí mật vào Sài Gòn, rồi với sự giúp đỡ của anh ông là Nguyễn Văn Hiếu, Nguyễn Văn Thiệu được nhận vào học Trường Hàng hải. Sau một năm, ông được phong hàm sĩ quan, nhưng ông từ chối làm việc trên một con tàu khi biết được chủ người Pháp sẽ trả lương cho ông thấp hơn lương của sĩ quan Pháp. Từ đó ông bỏ hẳn ý định theo nghiệp hàng hải và ghi danh khóa đầu tiên tại Trường Sĩ quan Việt Nam, tiền thân của Trường Võ bị Đà Lạt. Tháng 6 năm 1949, ông tốt nghiệp với quân hàm Thiếu úy, thuộc lực lượng Quân đội Quốc gia Việt Nam. Cùng năm đó, ông sang Pháp học ở Trường bộ binh Coetquidan.

Trong những trận đánh nhau với Việt Minh, Nguyễn Văn Thiệu có tiếng là dũng cảm và có năng lực chỉ huy. Với chính sách chế tài đối với những sĩ quan ở miền Trung và miền Nam nên ông được điều ra Bắc. Năm 1952, sau khóa đào tạo tiểu đoàn trưởng và liên đoàn lưu động tại Hà Nội, Nguyễn Văn Thiệu được điều chuyển cùng với Cao Văn Viên, lúc đó cũng là Trung úy, và Đại úy Đỗ Mậu về Bộ Chỉ huy Mặt trận Hưng Yên do Trung tá Dương Quý Phan làm chỉ huy trưởng. Tại đó, Đỗ Mậu được giữ chức Tham mưu trưởng, còn Nguyễn Văn Thiệu giữ chức Trưởng phòng Ba và Cao Văn Viên giữ chức Trưởng phòng Nhì…[7]

Năm 1951, ông kết hôn với Nguyễn Thị Mai Anh, con gái của một người hành nghề y thành đạt gốc ở Mỹ Tho thuộc tỉnh Định Tường (nay là tỉnh Tiền Giang). Bà là một tín đồ Công giáo Roma. Sau đó ông đã cải đạo, theo tôn giáo của vợ. Ông bà Thiệu có ba người con: một gái, Nguyễn Thị Tuấn Anh và hai trai, Nguyễn Quang LộcNguyễn Thiệu Long.

Năm 1954, với quân hàm thiếu tá chỉ huy một tiểu đoàn, Nguyễn Văn Thiệu đã dẫn đầu một cuộc đánh vào làng quê Thanh Hải, nơi ông từng sinh sống. Việt Minh rút lui vào căn nhà cũ của gia đình Nguyễn Văn Thiệu, tin rằng ông sẽ không tấn công tiếp, nhưng họ đã nhầm[8] Ông đã cho nổ mìn đánh bật được lực lượng Việt Minh ra khỏi khu vực, nhưng đồng thời căn nhà nơi ông sinh ra và lớn lên cũng bị phá hủy.

Sang thời Đệ nhất Cộng hòa năm 1955 ông là Trung tá, giữ chức Chỉ huy trưởng Trường Võ bị Đà Lạt. Đến năm 1962, ông thăng chức Tư lệnh Sư đoàn 5 bộ binh, hàm Đại tá. [cần dẫn nguồn]

Tham gia đảo chính và trở thành quốc trưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1963, ông tham gia lực lượng đảo chính lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm. Sau đảo chính, ông được phong hàm Thiếu tướng.

Khi tướng Nguyễn Khánh thực hiện "chỉnh lý", nắm quyền lãnh đạo chính quyền, ông được cử giữ chức Tham mưu trưởng sau đó được cử giữ chức Tổng trưởng Quốc phòng. Năm 1965, ông được thăng Trung tướng. Cũng năm này, chính phủ của Thủ tướng Phan Huy Quát đã giải tán và trao quyền lãnh đạo quốc gia lại cho Hội đồng Quân lực. Hội đồng tướng lĩnh đã bầu ông giữ chức Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia và tướng Nguyễn Cao Kỳ làm Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương. Ông trở thành quốc trưởng và tướng Kỳ trở thành thủ tướng của chính phủ mới.

Thành lập Đệ nhị Cộng hòa Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu quan sát bản đồ Đông Á
Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tiếp phái đoàn Hải quân Hoa Kỳ

Năm 1967, dưới sự hậu thuẫn từ phía Mỹ và lực lượng đảng Dân chủ do chính ông thành lập, Nguyễn Văn Thiệu được bầu làm tổng thống, tuyên bố thành lập nền Đệ nhị Cộng hòa Việt Nam, với 38% số phiếu. Ông giữ chức này cho đến khi chính thể Đệ nhị Cộng hòa sắp sụp đổ vào cuối tháng 4 năm 1975 (Xem Sự kiện 30 tháng 4 năm 1975). Thời kỳ này chính phủ Việt Nam Cộng Hòa càng lệ thuộc vào sự giúp đỡ của Hoa Kỳ nhiều hơn cả chính phủ tiền nhiệm của Ngô Đình Diệm. Ông đã tập trung quyền lực vào ngành hành pháp trong khi làm suy yếu quyền lập pháp của quốc hội.

Năm 1969, Tổng thống Thiệu kêu gọi hòa bình bằng cách đề nghị bầu cử bao gồm cả lực lượng Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam nhưng phó Tổng thống Kỳ đã cảnh báo rằng bất kỳ nỗ lực nào để Liên minh với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đều rất nguy hiểm.[9] Cũng trong năm này, Nguyễn Văn Thiệu đã vượt quyền hiến pháp, cụ thể là điều luật quy định sự bất khả xâm phạm của dân biểu, để bắt giữ và mở tòa án quân sự kết án dân biểu Trần Ngọc Châu 10 năm khổ sai, sau khi vị dân biểu này đề nghị lập một đoàn gồm các nhà lập pháp Việt Nam Cộng hòa ra Bắc để đàm phán với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.[10]

Trong những năm tại vị, Nguyễn Văn Thiệu đã ký tại Cần Thơ lệnh số 003/60 ban hành luật "Người cày có ruộng" (xem Cải cách điền địa (Việt Nam Cộng hòa)). Ông nói: "Hôm nay là ngày vui sướng nhất của đời tôi". Báo chí Hoa Kỳ ca ngợi, tờ Washington Evening Star gọi đó là "Tin tức tốt đẹp nhất đến từ Việt Nam kể từ khi kết thúc sự chiếm đóng của người Nhật". Còn tờ New York Times cho rằng "Có lẽ đây là cuộc cải cách ruộng đất không cộng sản mang nhiều tham vọng và tiến bộ nhất của thế kỷ 20". Theo ông Nguyễn Tiến Hưng trong sách Khi đồng minh tháo chạy: "Nhiều quan sát viên quốc tế đã cho chương trình "Người cày có ruộng" là một trong những chương trình cải cách điền địa thành công nhất ở các nước hậu tiến. Nó là điểm vàng son của nền Đệ nhị Cộng hòa". Chương trình này đã tạo ra một tầng lớp tiểu nông đông đảo, thúc đẩy kinh tế hàng hóa trong nông nghiệp phát triển. Nông dân hăng hái sản xuất và năng suất lao động trong sản xuất lúa gạo tăng lên nhanh chóng, đời sống của nông dân được cải thiện.

Năm 1971, Việt Nam Cộng hòa tổ chức bầu cử tổng thống một lần nữa. Sau cố gắng bất thành của Nguyễn Văn Thiệu trước kia nhằm gạt hẳn Nguyễn Cao Kỳ ra khỏi cuộc đua, trong kỳ này Dương Văn Minh rút lui không tham gia tranh cử và Nguyễn Cao Kỳ cũng từ chối ra tranh cử nên cuộc bầu cử chỉ có một ứng cử viên. Kết quả là Nguyễn Văn Thiệu đạt được 94% số phiếu.[11]

Năm 1973, sau khi ký kết Hiệp định Paris, Mỹ triệt thoái hoàn toàn quân đội ra khỏi Miền Nam Việt Nam. Một thời gian ngắn sau đó Hoa Kỳ cũng cắt giảm một nửa các kinh phí viện trợ cho chính quyền Việt Nam Cộng Hòa khiến khả năng quân sự của chính quyền bị suy giảm nặng. Dầu vậy Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đưa ra Chánh sách Bốn Không làm căn bản trong chiến cuộc chống với những người Cộng sản.

Tháng 3 năm 1975, sau khi Ban Mê Thuột (nay gọi là Buôn Ma Thuột) bị Quân đội Nhân dân Việt Nam đánh chiếm và quân đội Việt Nam Cộng Hòa phản kích thất bại, Nguyễn Văn Thiệu tỏ ra lúng túng rồi quyết định rút bỏ toàn phần Cao nguyên Trung phần. Sai lầm chiến lược đó đã đưa đến những cuộc tháo chạy hỗn loạn khỏi các tỉnh Tây Nguyên và bị Quân giải phóng miền Nam tấn công gây thiệt hại nặng. Sau đó các tỉnh duyên hải miền Trung cũng thất thủ.

Vài tuần cuối cùng trước khi cuộc chiến kết thúc, ông Thiệu lui vào trong Dinh Độc Lập ngày càng nhiều hơn, ngày càng ít nói chuyện với các cố vấn hơn, ngay cả với cố vấn cao cấp Mỹ người mà ông đã duy trì trong nhiều năm hiếm khi thấy ông trong những ngày tháng tư. Khi các lực lượng quân sự của Quân đội Nhân dân Việt NamQuân Giải phóng Miền Nam Việt Nam sắp giành được chiến thắng, do sức ép lớn từ các tướng dưới quyền như Trần Văn Đôn, Cao Văn Viên, thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn, bộ trưởng kinh tế Nguyễn Văn Hào[12], ông từ chức vào ngày 21 tháng 4 năm 1975, trao quyền cho ông Phó tổng thống Trần Văn Hương lên thay làm tổng thống. 9 ngày sau đó Việt Nam Cộng hòa đầu hàng vô điều kiện. Chiến tranh Việt Nam chấm dứt.

Lưu vong[sửa | sửa mã nguồn]

Đêm 25 tháng 4 năm 1975, Nguyễn Văn Thiệu rời Việt Nam với tư cách là đặc sứ của Việt Nam Cộng hòa đến Đài Bắc để phúng điếu Tưởng Giới Thạch. Khi ông rời bỏ đất nước ra đi, khắp Sài Gòn, từ dân chúng đến giới báo chí lúc đó xôn xao tin đồn rằng Nguyễn Văn Thiệu đã đem theo 16 tấn vàng trong ngân khố quốc gia ra nước ngoài (mà sau này đã được xác nhận là tin đồn không có thực). Sau đó, ông đến Anh định cư. Đầu những năm 1990, ông Thiệu chuyển sang định cư tại Foxborough, Massachusetts, Mỹ và sống một cuộc sống thầm lặng trong quãng đời còn lại ở đây.

Ngày 16/6/1990, ông Thiệu có một cuộc trả lời phỏng vấn mang tính lịch sử tại Orange County, California, với hơn 500 khách mời, cùng thời lượng 1 tiếng đồng hồ[13]. Trong bài phỏng vấn này ông có nói rõ hoàn cảnh rời bỏ đất nước năm 1975, về lời đồn đại 16 tấn vàng.

Vào năm 1992, ông đã lên tiếng tố cáo sự xích lại gần nhau giữa chính phủ Hợp chúng quốc Hoa Kỳ và chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhưng ít lâu sau ông lại có ý muốn tham gia vào các cuộc thảo luận hòa giải dân tộc, điều này đã làm một số người cực đoan tức giận, còn tướng Trần Văn Đôn nhận xét qua hồi ký của mình (xuất bản năm 1997) thì ông Thiệu là người thức thời với chủ trương đối thoại với chính quyền trong nước.[cần dẫn nguồn]

Ông Thiệu qua đời vào ngày 29 tháng 9 năm 2001 tại Trung tâm Y tế Beth Israel Deaconess Medical Center tại Boston, Massachusetts, Hoa Kỳ, sau khi đột quỵ tại nhà vùng Foxborough thọ 78 tuổi. Ông được chôn cất tại Boston.[14]

Nguyễn Văn Thiệu và Hiệp định Paris[sửa | sửa mã nguồn]

Ông chính là người phản đối quyết liệt nhất việc ký kết Hiệp định Paris vào lúc đó, vì theo ông việc đó sẽ làm cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có được lợi thế đáng kể so với Việt Nam Cộng hòa. Cụ thể là người Mỹ sẽ chấm dứt những cam kết và ủng hộ của mình đối với Việt Nam Cộng hòa, đồng nghĩa với việc viện trợ cho chính phủ của ông bị cắt giảm và ưu thế quân sự sẽ nghiêng về phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Theo quyển Võ Nguyên Giáp - Tổng tập hồi ký thì hãng AP dẫn lời của Nguyễn Văn Thiệu vào tháng 8/1972 kêu gọi Mỹ "hãy ném bom tan nát miền Bắc Việt Nam". Cuối cùng, Mỹ đã thực hiện mong muốn đó của ông bằng Chiến dịch Linebacker II, huy động 200 chiếc B-52 ném bom trải thảm miền Bắc Việt Nam suốt 12 ngày đêm. Cuốn hồi ký của Võ Nguyên Giáp cũng dẫn bài trên báo Nhân đạo (L'humanité) của Pháp bình luận rằng: "Ngay cả trong Thế chiến thứ hai, những viên tướng Pháp phản bội cũng không dám đề nghị đồng minh của chúng (Đức Quốc xã) tàn phá Paris (để ngăn quân Anh-Mỹ). Thế mà nay Thiệu lại muốn Mỹ ném bom tàn phá đất nước mình. Thiệu thật đáng xấu hổ hơn cả sự xấu hổ"[15]

Cuối cùng, Chiến dịch Linebacker II đã thất bại và Mỹ đã chấp nhận ký Hiệp định Paris với những điều khoản có lợi cho quân Giải phóng. Nguyễn Văn Thiệu đã cố tình trì hoãn việc đồng ý ký kết hiệp định, nhưng phía Mỹ đã có quyết định dứt khoát về việc này và gây áp lực cho chính phủ của ông, trong thư của Tổng thống Nixon gửi ông vào ngày 16 tháng 1 có đoạn: "Tôi đã quyết định dứt khoát sẽ ký tắt hiệp định vào ngày 23 tháng 1 năm 1973 tại Paris. Nếu cần tôi sẽ làm đúng như nói trên một mình. Trong trường hợp đó tôi phải giải thích công khai rằng chính phủ của ông cản trở hòa bình. Kết quả sẽ là sự chấm dứt không tránh khỏi và lập tức viện trợ kinh tế và quân sự của Hoa Kỳ - và một sự thay đổi nhân sự trong chính phủ của ông khó mà nói trước".

Trong bức thư đề ngày 6 tháng 10 năm 1972, Nixon còn ngầm đe dọa: "Tôi yêu cầu ông cố áp dụng mọi biện pháp để tránh sinh ra sau này một tình huống có thể đưa tới những biến cố tương tự như biến cố mà chúng tôi đã ghê tởm năm 1963 và chính bản thân tôi cũng đã kịch liệt phản đối năm 1968...". Cũng theo cuốn "Khi đồng minh tháo chạy" của Nguyễn Tiến Hưng, ngày 21/10/1972, hai chuyên viên trong Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ là Roger Morris và Anthony Lake đã viết cho cố vấn an ninh quốc gia Henry Kissinger một phúc trình mà trong đó có nói tới các phương án lật đổ Nguyễn Văn Thiệu. Sau này, Morris xác nhận: "Tôi bảo Tony rằng hai đứa mình phải cho Henry hiểu rõ là ta sẵn sàng thanh toán Thiệu".

Kết quả là Nguyễn Văn Thiệu chấp nhận ký kết hiệp định một cách miễn cưỡng, mặc dù đã được chính phủ của tổng thống Nixon cam kết sẽ đảm bảo sự tồn tại của Việt Nam Cộng hòa, Nixon cũng bí mật cam kết với Nguyễn Văn Thiệu rằng sẽ khôi phục lại việc Hoa Kỳ cho B-52 ném bom không kích chống lại bắc Việt Nam để trả đũa cho bất kỳ cuộc tấn công tăng cường nào của những người cộng sản. Nhưng Nixon đã từ chức trước khi kết thúc nhiệm kỳ của mình, và những lời hứa của Mỹ cũng không bao giờ được thực hiện.

Ngày 23 tháng 01 năm 1973, Nguyễn Văn Thiệu đã ban hành Công điện số 004-TT/CĐ gửi Thủ tướng chính phủ, các đô, tỉnh, thị trưởng, Tổng Tham mưu trưởng và tư lệnh các quân đoàn, quân khu "ra lệnh treo cờ trên toàn quốc" nhằm "tràn ngập lãnh thổ bằng cờ quốc gia để xác nhận phần đất và phần dân"[16]. Trong đó ấn định ngày giờ cụ thể: "Ngày giờ có thể là 12 giờ trưa, ngày thứ Tư, 24 tháng Giêng năm 1973. Ngày giờ này sẽ được xác nhận vào sáng thứ Tư, 24 tháng Giêng năm 1973 vừa bằng công điện vừa bằng hai đài phát thanh quốc gia và quân đội"[16]. Cùng ngày, thực hiện công điện của Nguyễn Văn Thiệu, Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham mưu trưởng quân lực Việt Nam Cộng hòa ra lệnh cho quân lực Việt Nam Cộng hòa thực hiện chiến dịch "Tràn ngập lãnh thổ". Cụ thể: "Yêu cầu các nơi nhận lãnh ngay Quốc kỳ tại cơ quan tiếp vận liên hệ. Theo tiêu chuẩn mỗi quân nhân ba lá và phân phối cho toàn thể quân nhân các đơn vị hành quân. Thực hiện cắm cờ trong vùng hành quân tại các vị trí trọng yếu: Đình, chùa, nhà thờ, trường học, cầu cống, đồi núi, cao điểm, nhà dân chúng…"[17]

Trả lời phỏng vấn đài ABC Mỹ ngày 31 tháng 01 năm 1975, ông Thiệu nói Hiệp đinh Paris đã không công bằng về hòa bình (nguyên văn: unfair), vì Bắc Việt Nam có quyền tự do phát triển kinh tế, có hòa bình, lại có thể điều quân và vũ khí vào miền Nam mà không chịu bất kỳ phản ứng nào của Hoa Kỳ, trong khi Miền Nam Việt Nam thì bị chiến tranh.[18]

Nhận xét[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyễn Văn Thiệu có ý kiến khác biệt với chính phủ Mỹ về văn bản chính thức của Hiệp định Paris, thực tế sau này cho thấy nhận thức của ông về sự thất bại có thể xảy ra cho Việt Nam Cộng hòa nếu chấp nhận văn bản đó là đúng đắn. (Cuối cùng, dưới áp lực của Mỹ, chính phủ của Việt Nam Cộng hòa đã bị buộc ký vào hiệp định Paris). Ông là vị nguyên thủ quốc gia có thái độ cứng rắn với Cộng sản với Lập trường bốn không: không chấp nhận, không thương lượng, không liên hiệp và không nhượng đất cho Cộng sản. Ông bị chỉ trích về khả năng lãnh đạo quân sự.

Đánh giá của người trong cuộc[sửa | sửa mã nguồn]

Tướng Cao Văn Viên, trong một cuộc phỏng vấn lúc cuối đời, đã có một số nhận xét về Nguyễn Văn Thiệu cũng như so sánh giữa Nguyễn Văn Thiệu và Ngô Đình Diệm[cần dẫn nguồn]

"Mỗi người độc tài theo cách riêng. Tổng thống Diệm cai trị nước như một quan lại của thời quân chủ, ông bẩm sinh chống cộng, tự ban cho mình 'thiên mạng' cứu nước.
"Tổng thống Diệm tự hào về dân tộc, tự đại về gia đình, thích độc thoại, không chấp nhận dễ dàng sự chỉ trích. Ông chủ trương 'tiết trực tâm hư' nhưng bị ảnh hưởng nặng của gia đình. Còn ông Thiệu thì theo đường lối 'độc tài trong dân chủ', bên trong chi phối cả hai ngành lập pháp và tư pháp. Bàn tay sắt trong đôi găng nhung.
"Vì không vững kiến thức như ông Diệm, ông Thiệu chịu khó thăm dò ý kiến của các chuyên viên, lắng nghe, đúc kết lại để quyết định một mình. Tổng thống Diệm dễ tin người xu nịnh nên dễ bị phản trắc. Ông Thiệu đa nghi Tào Tháo và không e ngại ban phát ân huệ để tạo phe cánh và chia rẽ đối phương như ông đã làm tại Quốc hội. Ông chủ trương 'làm chính trị phải lì'. Bởi thế Tổng thống Thiệu 'lật' ông Kỳ không khó và tồn tại lâu hơn Tổng thống Diệm nhưng ông không khí khái bằng ông Diệm. Ông Thiệu mưu sĩ, ông Diệm đạo đức."

Cựu Bí thư kiêm Tham vụ Báo chí Hoàng Đức Nhã, cựu bộ trưởng Dân vận và Chiêu hồi của VNCH, và cũng là em họ Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu nhận xét về ông như sau:

"Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu là người ái quốc, có đường lối lãnh đạo quốc gia rất rõ ràng theo quy định của Hiến pháp mà không phải là người bất chấp Hiến pháp. Cho đến hơi thở cuối cùng, dù không còn làm Tổng thống nữa, ông vẫn muốn tập thể Việt Nam ở hải ngoại hậu thuẫn giúp cho đồng bào ở trong nước vẫn sống trong một chế độ không được dân chủ ở Việt Nam hiện nay."[19]

Trong số các chính khách nước ngoài, Henry Kissinger về sau trong hồi ký của mình đã dành những lời rất nặng nề để nói về Nguyễn Văn Thiệu. Mặc dù không phủ nhận rằng Tổng thống Thiệu là một người khôn ngoan hoạt bát nhưng lại cho rằng, Nguyễn Văn Thiệu đã điều hành quốc sự theo một kiểu "tàn bạo", "xấc láo", "ích kỷ, độc ác" với những "thủ đoạn gần như điên cuồng" khi làm việc với người Mỹ. Kissinger cũng tiết lộ rằng, khi nói về việc Nguyễn Văn Thiệu ngăn cản Mỹ ký Hiệp định Paris, Tổng thống Nixon đã giận dữ thốt lên: "Ông sẽ hiểu thế nào là sự tàn bạo nếu tên đểu giả đó không chịu chấp thuận. Ông hãy tin lời tôi."[20][cần dẫn nguồn]

Câu nói nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đừng nghe những gì Cộng sản nói, mà hãy nhìn những gì Cộng sản làm![21][22]
  • Sống mà không có tự do là chết.[23]
  • Đất nước còn, còn tất cả, đất nước mất, mất tất cả[24]
  • Mỹ còn viện trợ, thì chúng tôi còn chống cộng![25][26]
  • Nếu Hoa Kỳ mà không viện trợ cho chúng tôi nữa thì không phải là một ngày, một tháng hay một năm mà chỉ sau ba giờ, chúng tôi sẽ rời khỏi Dinh Độc Lập![27]
  • Nếu họ (Hoa Kỳ) muốn ám sát tôi thì cũng dễ thôi. Rồi sau đó cứ việc đổ cho Việt Cộng hoặc là do âm mưu đảo chính.[28]
  • Họ (Hoa Kỳ) đã đâm sau lưng chúng tôi[29]

Giai thoại 16 tấn vàng[sửa | sửa mã nguồn]

Trước và sau năm 1975, báo chí thế giới và trong nước loan tin tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trước khi ra đi đã mang theo 16 tấn vàng là tài sản quốc gia. Giai thoại này lan truyền rất rộng rãi nhưng không có sự xác nhận hay phủ nhận chính thức của chính quyền trong nước. Đến năm 2006, báo Tuổi trẻ đã thực hiện một loạt phóng sự điều tra xác nhận rằng toàn bộ số vàng (1234 thỏi) và tiền mặt (hơn 1000 tỷ đồng) đã được bàn giao cho Ban Quân quản " khớp với sổ sách từng chi tiết nhỏ,"[30] như vậy ông Thiệu không có đem vàng của quốc gia đi.

Ông Lữ Minh Châu nguyên Trưởng ban Quân quản các ngân hàng Sài Gòn - Gia Định, là người tổ chức tiếp quản toàn bộ tiền, vàng của chế độ Việt Nam Cộng hòa cũng xác nhận 16 tấn vàng, tiền dự trữ và châu báu, nữ trang còn nguyên và được chuyển vào ngân khố quốc gia.[31]

Tư liệu phim ảnh về Nguyễn Văn Thiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Sách về Nguyễn Văn Thiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nguyễn Tiến Hưng. Tâm tư Tổng thống Thiệu. Westminster, CA: Hứa Chấn Minh, 2010.
  1. ^ a ă Nguyễn Tiến Hưng. Tr 360
  2. ^ "South Viet Nam: A Vote for the Future" theo báo Time số 15 tháng Chín, 1967
  3. ^ Hà Thúc Ký. Sống còn với Dân tộc, hồi ký chính trị. ?: Phương Nghi, 2009. tr 301-4
  4. ^ Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu họp báo BBC 31.01.1975
  5. ^ Phim tài liệu về Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu
  6. ^ a ă “Los angeles time, David Lamb,1/10/2001”. bằng tiếng anh. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2001. 
  7. ^ Tổng thống Sài Gòn cũ Nguyễn Văn Thiệu và con đường chiến bại (kỳ I), Công An Nhân Dân
  8. ^ "South Viet Nam: A Vote for the Future". Time. 15 September 1967.
  9. ^ Chiến tranh Việt Nam-Được và Mất-Nigel Cawthorne-NXB Đà Nẵng, tr. 344
  10. ^ Frances FitzGerald, Fire in the Lake, Vintage Book, New York, 1972, p. 513
  11. ^ Frances FitzGerald, p. 528
  12. ^ Cuộc từ chức đầy kịch tính của Tổng thống Thiệu, Tiền phong
  13. ^ Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu trả lời phỏng vấn
  14. ^ "Former President Thiệu Died"
  15. ^ Võ Nguyên Giáp - Tổng tập hồi ký. NXB Quân đội nhân dân 2011. Trang 1148
  16. ^ a ă Công điện số 004-TT/CĐ ngày 23.01.1973, của Tổng thống chính quyền Sài Gòn, Phông ĐIICH, hồ sơ số 1229
  17. ^ Công điện hỏa tốc số 006-TTM/TC.CTCT/KH.1 ngày 23.01.1973, của Đại tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham mưu trưởng quân lực chính quyền Sài Gòn, Phông ĐIICH, hồ sơ số 1229
  18. ^ Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu họp báo BBC năm 1975, YouTube.
  19. ^ Di sản cự̣u Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu
  20. ^ Kissinger, Henry. À la maison blanche 1968-1973. Edition Fayard. Paris. 1979
  21. ^ “ĐÚNG! Đừng Nghe Những Gì CS Nói, Mà Hãy Nhìn Những Gì CS Làm!”. Việt Báo Daily Online. 26 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2013. 
  22. ^ Hà Minh Thảo (16 tháng 7 năm 2013). “Cứu trợ nạn nhân là nghĩ vụ pháp lý và đạo đức”. TTX Công Giáo Việt Nam. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2013. 
  23. ^ Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu: 'Sống mà không có tự do là chết'
  24. ^ [1]
  25. ^ Michael Mc Lear. Vietnam, the ten thousand day war. Thames Methuen. London. 1982. pg. 896.
  26. ^ Nguyễn Tiến Hưng: Khi đồng minh tháo chạy (Trích thư Nguyễn Văn Thiệu gửi quốc hội và tổng thống Hoa Kỳ năm 1974)
  27. ^ Michael Mc Lear. Vietnam, The Ten Thousand Day War. London: Thames Methuen, 1982. trang 895.
  28. ^ Tổng thống Sài Gòn cũ Nguyễn Văn Thiệu và con đường chiến bại (kỳ III) An ninh Thế giới
  29. ^ Việt Nam. Cuộc chiến 10.000 ngày. Tập 8 - Hòa bình
  30. ^ Câu chuyện 16 tấn vàng tháng 4-1975
  31. ^ Người "buôn tiền" thành bộ trưởng 04/10/2006

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]