Vũ Văn Mẫu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Vũ Văn Mẫu
Chức vụ
Nhiệm kỳ 29 tháng 4 năm 1975 – 30 tháng 4 năm 1975
Tiền nhiệm Nguyễn Bá Cẩn
Kế nhiệm chức vụ bị giải thể
Khu vực Nam Việt Nam
Nhiệm kỳ 1955 – 22 tháng 8 năm 1963
Khu vực Nam Việt Nam
Thông tin chung
Đảng Liên danh Hoa Sen, Khối Dân tộc
Sinh 25 tháng 7, 1914(1914-07-25)
Hà Nội, Đông Dương thuộc Pháp
Mất 20 tháng 8, 1998 (84 tuổi)
Paris, Pháp
Alma mater Đại học Luật khoa Paris, Pháp.
Tôn giáo Phật giáo
Họ hàng

em trai: Vũ Như Canh,Vũ Văn Giáp chị gái: Vũ Thị Đức

em gái: Vũ Thị Sửu,Vũ Thị Tám
Vợ Hoàng Thị Ngụyêt My
Con cái Vũ Hoàng Anh, Vũ Thị Việt Hưong, Vũ Hoàng Dũng, Vũ Hoàng Châu, Vũ Hoàng Đạt
Binh nghiệp

Vũ Văn Mẫu (1914-1998) là một học giả lớn về Luật Việt Nam, một chính trị gia nổi tiếng trước năm 1975 ở Sài Gòn. Ông từng là Thượng Nghị sĩ trong Liên danh Hoa Sen, Khối Dân tộc, từng giữ chức vụ Bộ trưởng Ngoại giao rồi Thủ tướng của Việt Nam Cộng hòa. Ngoài ra ông còn là Thẩm phán Tòa Thượng thẩm Sài Gòn, giáo sư thực thụ Đại học Luật khoa Sài Gòn.

Cuộc đời và sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 25 tháng 7 năm 1914 tại làng Quất Động, Huyện Thường Tín, Tỉnh Hà Đông (Hà Tây - Hà Nội). Như mọi thanh niên thuộc gia đình danh giá thời bấy giờ, ông được gia đình đưa sang học ở Pháp và tốt nghiệp Đại học Luật khoa Paris, Pháp. Ông tiếp tục theo học tại đây cho đến khi lấy được bằng Thạc sĩ và trở về hành nghề luật tại Hà Nội. Hồi trước 1945, ông làm tri huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên. Cha vợ ông là Cụ Cử Sen Hồ Hoàng Gia Luận, em trai Tổng Đốc Hà Đông Hoàng Trọng Phu.

Trưởng khoa Luật đầu tiên Đại học Sài Gòn[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1954, ông cùng gia đình chuyển vào Sài Gòn và tham gia giảng dạy Khoa Luật tại Đại học Sài Gòn. Ông trở thành Trưởng khoa người Việt đầu tiên của khoa này và được công nhận là một chuyên gia về pháp luật dân sự và lịch sử.

Trở thành Bộ trưởng Ngoại giao[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi thực hiện Cuộc trưng cầu dân ý miền Nam Việt Nam, 1955, phế truất Quốc trưởng Bảo Đại, tân thổng thống Ngô Đình Diệm thành lập chính phủ và mời ông giữ chức vụ Bộ trưởng Ngoại giao của Việt Nam Cộng hòa. Ông giữ chức vụ này trong 8 năm, từ 1955 đến 1963. Trong cuộc khủng hoảng Phật giáo năm 1963, ông đã từ chức, cạo đầu giống như một nhà sư để phản đối.[1] Khi ông cố gắng rời Việt Nam Cộng hòa để tham gia một cuộc hành hương đến đất phật Ấn Độ, thì bị bắt và bị quản thúc.

Mâu thuẫn với chế độ Ngô Đình Diệm[sửa | sửa mã nguồn]

Vốn là một nhà kỹ trị, ông hầu như đứng ngoài mọi biến động của thời cuộc bấy giờ. Tuy nhiên, là một Phật tử với pháp danh Minh Không, ông phản đối những biện pháp đàn áp khốc liệt của chính phủ Ngô Đình Diệm với Phật giáo. Ông cạo trọc đầu và sau đó từ chức Bộ trưởng ngày 22 tháng 8 năm 1963 để phản đối hành động tấn công các chùa Phật giáo của chính quyền Việt Nam Cộng hòa.

Trở về Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Suốt thời gian biến động miền Nam 1964-1967, ông hoàn toàn không tham gia vì công tác ở đại sứ ở nước ngoài. Mãi đến khi tướng Nguyễn Văn Thiệu lên nắm quyền tổng thống, ông mới được triệu hồi về nước. Ông trở thành Thẩm phán Tòa Thượng thẩm Sài Gòn. Năm 1972, ông tranh cử Thượng nghị sĩ trong liên danh Hoa Sen và đắc cử.

Thủ tướng 1 ngày[sửa | sửa mã nguồn]

Trong suốt nhiệm kỳ của mình, ông luôn hoạt động tích cực cho phong trào hòa bình và hòa giải cho dân tộc. Chính vì vậy, khi tướng Dương Văn Minh trở thành tổng thống, ông được đề cử cho chức vụ Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa với mục đích tham gia thương lượng chấm dứt chiến tranh. Tuy nhiên, ông chỉ ở trong chức vụ chỉ vỏn vẹn được một ngày thì Việt Nam Cộng hòa sụp đổ trước sức tiến công của quân đội Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Ông phải cùng tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện để tránh đổ máu thêm nữa.

Cuộc sống cuối đời[sửa | sửa mã nguồn]

Cũng như tướng Dương Văn Minh, nhà cầm quyền mới tuy thực hiện các biện pháp hạn chế nhưng không quá khắt khe với ông. Sau khi tình hình ổn định, họ cho phép ông được xuất cảnh sang Pháp và định cư ở đây cho đến tận cuối đời. Ông mất ngày 20 tháng 8 năm 1998 tại Paris, thọ 84 tuổi.

Ông là một học giả lớn về luật của Việt Nam, uyên thâm cựu và tân học, biết nhiều thứ tiếng như Anh, Pháp, Hán và là một giáo sư giảng giải luật rất hấp dẫn. Tác phẩm của ông còn được René David và John E.C Brierley trích dẫn trong cuốn sách nổi tiếng về luật so sánh Major Legal Systems in the World Today.

Trước tác tiếng Việt[sửa | sửa mã nguồn]

  • Dân luật khái luận, Đại học Luật khoa Sài Gòn xuất bản
  • Dân luật lược giảng, 2 tập, Đại học Luật khoa Sài Gòn xuất bản
  • Pháp luật diễn giảng, 2 tập, Đại học Luật khoa Sài Gòn xuất bản
  • Cổ luật Việt Nam và Tư pháp sử diễn giảng, Đại học Luật khoa Sài Gòn xuất bản, 1973
  • Cổ luật Việt Nam thông khảo, 2 tập, 1974
  • Tiểu từ điển luật và kinh tế 350 trang; đồng tác giả với Hồ Thới Sanh, Lê Đình Chân, Lưu Văn Bình, Nguyễn Cao Hách, 1973
  • Tự điển Hiến luật và Dân luật, đồng tác giả với Lê Đình Chân
  • Tự điển Pháp-Việt: pháp chính kinh tài xã hội 895 trang; Viện Đại học Vạn hạnh xuất bản, 1970
  • Tự điển Pháp-Việt: pháp luật, chính trị và kinh tế 125 trang, 1955.

Năm 1989 khi lấy hiệu là Minh Không, ông có viết bộ sách nói về "Hành trình mở cõi của dân tộc Việt" gồm 3 tập:

  • Tập 1: Việt - ChămPa
  • Tập 2: Việt - Phù Nam
  • Tập 3: Việt - Campuchia

Sách được đánh máy trên khổ giấy A4, không rõ ông đã hoàn thành chưa.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]