Đỗ Cao Trí

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đỗ Cao Trí
Lieutenant General Do Cao Tri photo 1.jpg
Tướng Đỗ Cao Trí
Tiểu sử
Sinh

20 tháng 11, 1929(1929-11-20)

Biên Hòa, Đông Dương thuộc Pháp
Mất

23 tháng 2, 1971 (41 tuổi)

Campuchia
Binh nghiệp
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực Việt Nam Cộng hòa
Năm tại ngũ 1947-1971
Cấp bậc US-O10 insignia.svg Đại tướng (Truy phong)
Đơn vị Liên đoàn Dù Việt Nam Cộng hòa
Quân đoàn I Việt Nam Cộng Hòa
Quân đoàn II Việt Nam Cộng Hòa
Quân đoàn III Việt Nam Cộng Hòa.
Chỉ huy Flag of France.svg Quân đội Pháp
Flag of South Vietnam.svg Quân đội Quốc gia Việt Nam
Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực Việt Nam Cộng hòa

Đỗ Cao Trí (19291971) là một tướng lĩnh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, được truy phong quân hàm Đại tướng. Ông từng giữ chức Tư lệnh Quân đoàn 3, Vùng 3 chiến thuật, từng được đánh giá là vị tướng chiến trường tài giỏi nhất trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa.[cần dẫn nguồn]

Thân thế và bước vào binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Đỗ Cao Trí sinh ngày 20 tháng 11 năm 1929 tại làng Bình Trước, Biên Hòa, cháu của một vị quan lại triều Nguyễn và là con của một điền chủ giàu có[cần dẫn nguồn]. Sau khi tốt nghiệp trung học với bằng Baccalauréat Part II (Tú Tài phần hai) tại trường Petrus Ký Saigon, gia nhập quân đội Pháp vào năm 1947 và được cử theo học khóa đào tạo sĩ quan Đỗ Hữu Vị tại tỉnh Biên Hòa. Năm 1948, ông tốt nghiệp khóa đào tạo sĩ quan người Việt phục vụ trong quân đội Pháp, sau đó được gởi sang Pháp theo học trường đào tạo Sĩ quan Thiết giáp Saumur và trường Sĩ quan Nhảy dù PauPháp. Năm 1949 ông tốt nghiệp và trở về nước.[cần dẫn nguồn]

Sau khi về nước, với sự thành lập Quân đội Quốc gia Việt Nam, Ðại đội 1 Nhảy dù Phòng vệ Bắc Việt được thành lập, ông được chuyển sang giữ chức vụ Trung đội trưởng, với cấp bậc Trung úy. Năm 1953, ông tham dự khóa học Chỉ huy và Tham mưu tại Hà Nội. Sau khi tốt nghiệp, ông được thăng chức Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Việt Nam 19 (BVN 19), với cấp bậc Đại úy, và là một trong những tiểu đoàn trưởng đầu tiên của Quân đội Quốc gia Việt Nam.[cần dẫn nguồn]

Phục vụ trong Quân đội Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi thất trận Điện Biên Phủ, quân đội Pháp phải rút khỏi Việt Nam theo những điều khoản của Hiệp định Genève, 1954. Ngày 29 tháng 9 năm 1954, quân đội Pháp bàn giao lại Liên đoàn 3 Nhảy dù lại cho Quân đội Quốc gia Việt Nam, tuy nhiên bộ chỉ huy tạm thời vẫn là người Pháp. Khi đó, ông đang là Tiều đoàn trưởng Tiểu đoàn 6 Nhảy dù với cấp bậc Thiếu tá. Ngày 1 tháng 5 năm 1955, Bộ chỉ huy Liên đoàn Nhảy Dù được chính thức thành lập, ông được cử giữ chức Chỉ huy trưởng với cấp bậc Trung tá. Tháng 11 năm 1955 ông được thăng Đại tá. Quân đội Quốc gia Việt Nam cải danh thành Quân đội Việt Nam Cộng hòa. Vì thế, ông trở thành chỉ huy trưởng đầu tiên của Binh chủng Nhảy dù Quân lực Việt Nam Cộng Hòa lúc chưa đầy 30 tuổi.[cần dẫn nguồn]

Tháng 9 năm 1956, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Tư lệnh Đệ tam Quân khu vừa mới thành lập (gồm các tỉnh Kon Tum, Pleiku, Phú Yên, Bình Định). Năm 1958, ông được chuyển sang giữ chức Tham mưu trưởng Quân đoàn 1, dưới quyền Trung tướng Trần Văn Đôn.[cần dẫn nguồn]

Cuối năm 1958, ông sang Mỹ theo học tại Trường Chỉ huy & Tham mưu Lục quân Hoa KỳFort Leavenworth. Sau khi tốt nghiệp vào năm 1959, ông trở về nước, tiếp tục giữ chức vụ Tham mưu trưởng.[cần dẫn nguồn]

Năm 1961, ông được chỉ định vào chức vụ Chỉ huy trưởng Trường Hạ sĩ quan Nha Trang. Tháng 7 năm 1963, ông được thăng cấp Thiếu tướng. Tháng 9 năm 1963, ông được đề cử làm Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh, kiêm nhiệm xử lý thường vụ chức vụ Tư lệnh Quân đoàn 1.[cần dẫn nguồn]

Giải ngũ[sửa | sửa mã nguồn]

Tuy không tham gia vào Cuộc đảo chính 1963 tại Nam Việt Nam lật đổ Tổng thống Ngô Đình Diệm, ngày 2 tháng 11 năm 1963, ông vẫn được các tướng lĩnh chủ chốt của cuộc đảo chính thăng cấp Trung tướng và được chính thức giữ chức vụ Tư lệnh Quân đoàn 1 và Vùng 1 Chiến thuật.[cần dẫn nguồn]

Không lâu sau đó, tướng Nguyễn Khánh thực hiện cuộc "chỉnh lý" và lên nắm quyền. Ông được bổ nhiệm vào chức vụ Tư lệnh Quân đoàn 2 và Vùng 2, thay cho tướng Nguyễn Khánh.[cần dẫn nguồn]

Tuy nhiên, ngày 14 tháng 9 năm 1964, ông bị giải nhiệm chức vụ Tư lệnh Quân đoàn 2 và Vùng 2 vì bị nghi ngờ có liên quan đến cuộc chính biến do Trung tướng Dương Văn Đức cầm đầu nổ ra trước đó một ngày. Trong suốt gần một năm, ông không được phân công vào bất kỳ chức vụ quan trọng nào. Đến tháng 8 năm 1965, ông bị giải ngũ và được bổ nhiệm làm đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Đại Hàn.[cần dẫn nguồn]

Trở lại quân đội[sửa | sửa mã nguồn]

Trong kế hoạch loại trừ thế lực của các tướng lĩnh ủng hộ Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ, tháng 8 năm 1968, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã triệu hồi và bổ nhiệm tướng Đỗ Cao Trí thay Trung tướng Lê Nguyên Khang giữ chức vụ Tư lệnh Quân đoàn 3 và Vùng 3, kiêm Tư lệnh Biệt khu Thủ đô. Việc lựa chọn tướng Trí là một sự thỏa hiệp vì ông là một tướng lĩnh có uy tín nhưng không tham gia phe phái nào. Chính sự độc lập này đã đưa ông trở lại với binh nghiệp, đồng thời cũng không chịu ảnh hưởng của tổng thống khi thực hiện các kế hoạch tái tổ chức lại binh lực dưới quyền để nâng cao sức chiến đấu, kể cả việc cách chức hai tư lệnh sư đoàn là người thân tín của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.[cần dẫn nguồn]

Ngày 23 tháng 2 năm 1971 ông tử nạn phi cơ trực thăng[1] khi đang thị sát chiến trường Campuchia, sau đó được truy phong Đại tướng. (Có tin đồn rằng ông bị mưu sát do sự tranh giành quyền lực của chính quyền Sài Gòn)[2]. Cái chết của Đỗ Cao Trí để lại một khoảng trống lớn trong cấp chỉ huy chiến trường trong một thời gian dài.

Đỗ Cao Trí được đánh giá là tướng lĩnh có tầm nhìn chiến lược sắc bén, có tài cầm quân, có mưu lược, có dũng khí, có khả năng kích thích tinh thần chiến đấu binh sĩ và không có tham vọng chính trị. Tướng William Westmoreland đã nhận định: "Tướng Trí là một con cọp của chiến trường, một tướng George Patton (tướng thiết giáp lừng danh Mỹ) của Việt Nam."[cần dẫn nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Tử nạn cùng tướng Trí là phóng viên chiến trường người Pháp Francois Sully, viết cho báo New York Time.
  2. ^ Đại Tướng Đỗ Cao Trí

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]