Nguyễn Hữu Có

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Nguyễn Hữu Có (1925-2012) là một cựu Trung tướng Việt Nam Cộng hòa và cũng là một chính khách, từng giữ chức Phó thủ tướng, kiêm Tổng trưởng Quốc phòng Việt Nam Cộng Hòa, đồng thời là Tổng tham mưu trưởng Quân lực Việt Nam Cộng hòa (19651967)[1]. Ông từng đóng vai trò quan trọng trong chính trường Việt Nam Cộng hòa trong giai đoạn các tướng lĩnh cầm quyền (1963-1967), đến cuối đời lại được bầu làm Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với tư cách là nhân sĩ tự do. Ông được chính phủ của Đảng Cộng sản Việt Nam xem như một biểu tượng của sự hòa giải dân tộc, xóa bỏ hận thù sau chiến tranh.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 23 tháng 2 năm 1925 tại tỉnh Mỹ Tho, Nam kỳ thuộc Pháp. Thời học sinh, ông theo học tại trường Quốc học Khải Định, Huế. Đến năm 1939, ông nhập học Trường Thiếu sinh quân Đông Dương Cap Saint-Jacques, tốt nghiệp Trung học tại đây.

Bước đầu binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 4 năm 1943, ông gia nhập vào quân đội Pháp với cấp bậc Thiếu úy, Chỉ huy phó Thiếu sinh quân Đa Kao. Sau khi Cách mạng tháng 8 nổ ra, ông giải ngũ, tham gia Việt Minh một thời gian ngắn. Sau khi Pháp tái chiếm Nam Bộ, ông tái ngũ với cấp bậc cũ và được cử làm Chỉ huy trưởng trường Thiếu sinh quân Gia Định.

Năm 1948, ông được cử theo học khóa 1 Trường Võ bị Huế (còn gọi là khóa Bảo Đại, sau đổi thành Phan Bội Châu). Ông tốt nghiệp Thủ khoa khoá này năm 1949 với cấp bậc Trung úy. Sau khi tốt nghiệp, ông cùng 9 sĩ quan trẻ người Việt có thành tích học tập tốt nhất được đưa sang Pháp học tiếp 1 năm tại trường École d'Application d'Infanterie ở tỉnh Bretagne. Trong số này có các Thiếu úy Nguyễn Văn Thiệu, Đặng Văn Quang, Tôn Thất Đính... về sau đều giữ những vai trò quan trọng trong chính trường Việt Nam Cộng hòa.

Sau khi về nước năm 1950, ông được cử làm Đại đội trưởng thuộc Tiểu đoàn 1 Việt Nam. Năm 1952, ông chuyển ngạch sang Quân đội Quốc gia Việt Nam, được thăng Đại úy. Cuối năm 1953, ông được điều về vùng Bùi Chu tổ chức lại các tiểu đoàn khinh quân thành Trung đoàn 31 biệt lập, giữ chức chỉ huy trưởng. Không lâu sau được thăng Thiếu tá.

Năm 1954, ông được thăng cấp Trung tá, Chỉ huy trưởng Liên đoàn 31 Bộ binh. Đầu năm 1955, đơn vị ông được di chuyển vào Quảng Ngãi và được cải tổ thành cấp Sư đoàn.

Đệ nhất Cộng hòa và thời Loạn tướng[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Quân đội Việt Nam Cộng hòa thành lập, ông được chuyển sang làm Chỉ huy trưởng Phân khu miền Đông Nam phần. Năm 1956, ông được thăng cấp Đại tá, Chỉ huy phó Chiến dịch Bình định miền Đông Nam phần do Thiếu tướng Văn Thành Cao làm Chỉ huy trưởng.

Năm 1957, ông được bổ nhiệm chức Tư lệnh Sư đoàn 16 Khinh chiến. Tháng 3 năm 1959, Sư đoàn được giải tán, ông được chuyển sang làm Tham mưu trưởng Quân đoàn II. Đến năm 1962, được chuyển sang làm Tư lệnh phó Quân đoàn III.

Ông là một trong 2 Đại tá chủ chốt tham gia vào mưu đồ đảo chính lật đổ Tổng thống Ngô Đình Diệm năm 1963 (người còn lại là Đại tá Nguyễn Văn Thiệu). Sau khi đảo chính vừa nổ ra, ông lập tức được điều về Mỹ Tho tước quyền chỉ huy Sư đoàn 7 Bộ binh (hậu thân của Sư đoàn 31 trước đây) của Đại tá Bùi Đình Đạm và cho di chuyển các chiếc phà Mỹ Thuận nhằm ngăn không cho lực lượng của Quân đoàn IV có thể về Sài Gòn cứu viện cho Tổng thống Diệm. Sau khi đảo chính thành công, ông được thăng Thiếu tướng và được cử làm Tư lệnh phó xử lý thường vụ Quân đoàn IV & Vùng 4 Chiến thuật, trên thực tế nắm quyền Tư lệnh thay Thiếu tướng Huỳnh Văn Cao. Đồng thời kiêm nhiệm chức Ủy viên Hội đồng Quân nhân Cách mạng do tướng Dương Văn Minh làm Chủ tịch.

Tuy nhiên, tháng 1 năm 1964, ông tham gia cuộc chỉnh lý do tướng Nguyễn Khánh cầm đầu lật đổ các tướng lãnh đạo Hội đồng Quân nhân Cách mạng. Sau đó, ông được tướng Khánh bổ nhiệm vào chức Tư lệnh Quân đoàn II.

Cùng với các tướng Nguyễn Văn ThiệuNguyễn Cao Kỳ, ông được xem là một trong những thủ lĩnh của nhóm tướng trẻ ủng hộ tướng Khánh nắm quyền. Tuy nhiên, trước tham vọng quyền lực cũng như sự bất lực của tướng Khánh trong việc ổn định tình hình, năm 1965, nhóm tướng trẻ đã làm áp lực buộc tướng Khánh phải lưu vong, trao quyền cho Thủ tướng Phan Huy Quát. Tuy nhiên, đến ngày 12 tháng 6 năm 1965, Quốc trưởng Phan Khắc Sửu và Thủ tướng Phan Huy Quát đồng loạt từ chức giao quyền hành cho Hội đồng Quân lực (hậu thân của Hội đồng Quân nhân Cách mạng). Cũng trong ngày 12, Hội đồng Quân lực họp bàn để thành lập Ủy ban Lãnh đạo Quốc giaỦy ban Hành pháp Trung ương. Ông được bầu làm Phó chủ tịch của Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia, đồng thời là Tổng ủy viên Chiến tranh kiêm Ủy viên Quốc phòng của Ủy ban Hành pháp Trung ương, trở thành nhân vật thứ 3 trong Hội đồng Quân lực, sau tướng Nguyễn Văn Thiệu, Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia và tướng Nguyễn Cao Kỳ, Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương. Ngày 15 tháng 7, ông được Hội đồng Quân lực cử kiêm nhiệm Tổng tham mưu trưởng thay tướng Thiệu, đến ngày 1 tháng 10 thì thôi kiêm nhiệm Tổng tham mưu trưởng và được cử làm Đệ nhất Phó chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương (tương đương Phó thủ tướng). Ngươi thay ông trên cương vị Tổng tham mưu trưởng là Thiếu tướng Cao Văn Viên. Tháng 11 cùng năm, ông được thăng Trung tướng.

Cùng được thăng cấp Trung tướng bấy giờ là tướng Nguyễn Chánh Thi, Đại biểu chính phủ tại Trung phần. Tuy nhiên, tại miền Trung, tướng Thi đã có những cáo buộc nảy lửa công khai về tệ tham những cũng như những chỉ trích sự độc tài trong chính phủ của tướng Kỳ. Phong trào Phật giáo ở đâu cũng bùng nổ mạnh hơn hết do lực lượng quân đội của Quân đoàn I do tướng Thi chỉ huy đã không thực hiện các mệnh lệnh trấn áp phong trào Phật giáo từ chính phủ trung ương đưa xuống, là một cách không chính thức chống lại quyền lực của chính phủ tướng Kỳ. Nhận định tướng Thi một đối thủ nguy hiểm, tướng Kỳ đã tìm cách liên kết với nhiều tướng lãnh để giải trừ chức vụ của tướng Thi đồng thời trấn áp cuộc tranh đấu của Phật giáo miền Trung. Ngày 10 tháng 3 năm 1966, tướng Kỳ ra quyết định cách chức Tư lệnh Quân đoàn I của tướng Thi. Chính ông là người ra lệnh bắt giữ và đưa tướng Thi vào giam lỏng tại Sài Gòn một ngày sau đó, 11 tháng 3 năm 1966. Sau đó tướng Thi bị buộc phải lưu vong sang Mỹ với lý do chữa bệnh "thối mũi".

Bên lề thời cuộc[sửa | sửa mã nguồn]

Điều trớ trêu là sau khi tướng Thi bị loại, đến lượt ông trở thành đối tượng mà tướng Thiệu và tướng Kỳ phải gạt bỏ. Năm 1967, trong khi đang đi công tác ở Đài Loan, ông bị gạt ra khỏi mọi chức vụ trong Quân đội đồng thời buộc phải giải ngũ. Ông sang Hongkong xin tị nạn chính trị, mãi đến năm 1970 mới được tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cho hồi hương.

Sau khi được hồi hương, ông quyết định không tham gia chính trường và mở một trại gà ở Thủ Đức để sinh kế. Bên cạnh đó, ông cũng theo học thêm các chứng chỉ về Văn khoa, Kinh tế. Với những kiến thức này, về sau ông tham gia thương trường và từng giữ chức Phó tổng giám đốc Tín Nghĩa Ngân hàng. Sau khi Tín Nghĩa Ngân hàng bị chính quyền Việt Nam Cộng hòa thanh tra và buộc phải ngừng hoạt động năm 1973, ông chuyển sang hợp tác với các cựu tướng từng bị ông phế truất là Trần Văn Đôn, Mai Hữu Xuân, Lê Văn Kim dựng nên một xưởng sản xuất dép mềm lấy thương hiệu theo tên ghép của 4 người DOXUKICO. Ông còn có một hiệu buôn xe đạp và một tiệm chế biến khô mực xuất khẩu.

Tuy được xem là kẻ cựu thù, nhưng ông lại là người ủng hộ tướng Dương Văn Minh làm lãnh đạo của lực lượng thứ ba tham gia chính trường. Khi tướng Dương Văn Minh nhậm chức Tổng thống, ông xin tái ngũ và được cử giữ chức cố vấn quân sự. Ông là một trong 2 tướng lĩnh còn ở lại bên tổng thống đến giờ phút cuối cùng của Sài Gòn (người kia là Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh).

Sau ngày 30 tháng 4 năm , ông bị chính quyền Việt Nam bắt đi cải tạo đến năm 1987. Sau khi được trả tự do, ông không xuất cảnh theo diện H.O mà ở lại Việt Nam. Năm 1994, ông được Mặt trận Tổ quốc Thành phố Hồ Chí Minh mời tham gia như một "nhân sĩ tự do". Đại tướng Võ Nguyên Giáp, lần đầu tiên gặp ông, khi ông Có được Mặt trận Tổ quốc mời ra Hà Nội họp, đã nói: "Chào mi, ta với mi lúc trước hai đứa hai chiến tuyến nhưng nay ta đã là hai anh em".[2]

Đến cuối năm 2004, ông được bầu làm Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với tư cách là nhân sĩ tự do và là thành viên "Ban liên lạc Việt kiều Yêu nước". Ông được chính phủ Việt Nam xem như một biểu tượng của sự hòa giải dân tộc, xóa bỏ hận thù của 30 năm chiến tranh.[3]

Ông mất tại Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam vào lúc 11 giờ 38 phút ngày 3 tháng 7 năm 2012, hưởng thọ 87 tuổi.[4]

Những chi tiết khác[sửa | sửa mã nguồn]

Ông lập gia đình với bà Nguyễn Thị Tín. Ông bà có với nhau 12 người con cả trai lẫn gái.

Tướng Nguyễn Hữu Có được cho là người quyết định cấp hiệu của sĩ quan cấp Tá được gắn thêm một vạch ngang phía dưới bông mai trắng để dễ phân biệt giữa cấp Úy với cấp Tá.[5]

Nguyên gốc gia đình ông theo truyền thống Tam giáo. Mãi đến sau năm 1975, trong thời gian bị cải tạo, ông mới gia nhập đạo Tin Lành năm 1983 và giữ tôn giáo này đến ngày qua đời.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Chuyện của Tổng trưởng Quốc phòng chế độ cũ
  2. ^ Tướng VNCH 'ủng hộ hòa giải' qua đời, BBC, 6.7.2012
  3. ^ Thăm ông Nguyễn Hữu Có
  4. ^ Viễn Sự (3 tháng 7 năm 2012). “Ông Nguyễn Hữu Có qua đời”. Tuổi Trẻ Online. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2012. 
  5. ^ Phạm Bá Hoa, Nhớ Ngày Quân Lực 19/6.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]