Phêrô Máctinô Ngô Đình Thục

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Phêrô Máctinô Ngô Đình Thục
Tổng Giám mục Huế
Giám quản Tông tòa Vĩnh Long
Ngodinhthuc.JPG
Khẩu hiệu: "Chiến sĩ Chúa Kitô"
Tấn phong 4 tháng 5, 1938
Hưu
Tiền nhiệm
Thụ phong 20 tháng 12, 1925
Ngày sinh 6 tháng 10, 1897
Ngày mất 13 tháng 12, 1984
Nơi an táng Springfield, Missouri, Hoa Kỳ
Giáo hội Công giáo Rôma

Phêrô Máctinô Ngô Đình Thục (chữ Hán: 吳廷俶; 6 tháng 10 năm 1897 - 13 tháng 12 năm 1984) là một Giám mục Công giáo người Việt. Ông từng giữ chức giám quản Tông Tòa Giáo phận Vĩnh Long, đặc biệt là chức tổng Giám mục Tổng Giáo phận Huế.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Ngô Đình Thục sinh ngày 6 tháng 10 năm 1897 tại Phủ Cam, Huế trong một gia đình vọng tộc. Ông là con thứ thứ ba trong số chín người con của Micae Ngô Đình Khả (nguyên quán làng Đại Phong, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình) - một quan đại thần của triều Nguyễn, thời vua Thành TháiDuy Tân. Gia đình Ngô Đình của ông còn có thể kể đến: Ngô Đình Khôi, Diệm, Nhu, Cẩn, Luyện (các anh em trai), Ngô Đình Thị Giao, Hiệp, Hoàng (các chị em gái) và Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận (con bà Ngô Đình Thị Hiệp). Như những người anh em của mình đều được thân phụ đặt tên bằng chữ Hán theo các đức tính, tên Thục (俶) của ông có ý nghĩa là "Sự chỉnh tề".

Học tập[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1904-1908, Ngô Đình Thục theo học tại trường Pellerin, một trường tư thục do Sư Huynh Dòng La San điều hành. Tháng 9 năm 1909, ông vào Tiểu Chủng Viện An Ninh, Quảng Trị và đến tháng 9 năm 1917, được lên tiếp vào Đại Chủng Viện Phú Xuân thuộc Giáo phận Huế. Tháng 11 năm 1919, Giám mục Eugène Allys (tên Việt là Lý, 1852-1936) gửi ông đi du học trường Truyền giáo Rôma. Trong quá trình du học Roma, Ngô Đình Thục đỗ các bằng cấp: Tiến sĩ Triết học năm 1922, Tiến sĩ Thần học năm 1926, cử nhân Văn chương và được vào yết kiến Giáo hoàng Piô XI năm 1922. Rồi từ Roma Ông được cử sang Pháp dạy đại học Sorbonne ở Paris.

Hoạt động tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Linh mục[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 20 tháng 12 năm 1925, tại Roma, ông được thụ phong linh mục (do Hồng y Van Rossum truyền chức). Sau đó, linh mục Ngô Đình Thục tiếp tục học thêm một năm ở Đại học Appolinaire lấy bằng Tiến sĩ Giáo luật năm 1927. Linh mục Thục sang Pháp học tại Institut Catholique de Paris từ tháng 10 năm 1927 đến tháng 06 năm 1929 và đỗ Cử nhân Văn chương.

Năm 1929, linh mục Ngô Đình Thục quay về Việt Nam và làm giáo sư dòng Thánh Tâm ở Huế. Từ tháng 11 năm 1929 đến tháng 9 năm 1931, Giám mục Alexandre Chabanon (tên Việt là Giáo, 1873-1936) bổ nhiệm ông làm giáo sư Đại Chủng Viện Phú Xuân, Huế. Tháng 10 năm 1933, ông làm Giám đốc trường Thiên Hựu (Providence), một trường tư thục Công giáo tại Huế. Năm 1935, ông làm Chủ nhiệm báo Sacerdos Indosinensis.

Giám mục[sửa | sửa mã nguồn]

Huy hiệu giám mục của ông có khẩu hiệu tiếng Latinh nghĩa là: Chiến sĩ Chúa Kitô

Ngày 8 tháng 1 năm 1938, Tòa Thánh thành lập tại Việt Nam giáo phận mới là Giáo phận Vĩnh Long, tách từ Giáo phận Sài Gòn, bao gồm địa giới tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre và 2 quận thuộc tỉnh Cần Thơ. Tòa Thánh bổ nhiệm linh mục Phêrô Máctinô Ngô Đình Thục làm Giám mục giám quản tân giáo phận này (Giám mục Hiệu toà Sæsina). Ngày 4 tháng 5 năm 1938, tại nhà thờ Chính tòa Phủ Cam, Khâm sứ Tông tòa Antonin Drapier chủ lễ tấn phong Giám mục Ngô Đình Thục. Đây là vị Giám mục người Việt thứ ba.

Ngày 23 tháng 6 năm 1938, Giám mục Ngô Đình Thục chính thức nhận giáo phận với khẩu hiệu “Chiến sĩ Chúa Kitô”. Đây là vị Giám mục tiên khởi của giáo phận Vĩnh Long và có nhiều đóng góp xây dựng giáo phận này suốt 23 năm tại nhiệm.

Trên cương vị Giám mục Vĩnh Long, ông đã mua một kiến trúc tư gia để làm trụ sở Tòa Giám mục, lập Tiểu Chủng viện Á Thánh Minh năm 1944 gồm 3 lớp, khai giảng ngày 15 tháng 8 năm 1944 ban đầu có 15 chủng sinh. Dòng Thầy giảng Cái Nhum được trùng tu và mang tên mới là Dòng Sư Huynh Kitô Vua. Cải tiến Dòng Mến Thánh Giá Cái Mơn và Cái Nhum, các nữ tu được gửi đi học các trường trung học và đại học. Tổ chức khoá huấn luyện thanh niên, hoạt động Công giáo Tiến hành.

Tổng Giám mục[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1960, Công giáo tại Việt Nam được Tòa Thánh thiết lập Hàng giáo phẩm Chính tòa với ba Tổng giáo phận: Hà Nội, Huế, Sài Gòn. Giám mục Ngô Đình Thục được thăng chức tổng Giám mục và về nhận sứ vụ tại Tổng giáo phận Huế vào ngày 12 tháng 4 năm 1961. Đây là lần đầu tiên một người Việt Nam làm Giám mục chính tòa cai quản một giáo phận. Giáo phận Vĩnh Long lúc này do tân Giám mục Antôn Nguyễn Văn Thiện cai quản.

Khi đương nhiệm Tổng Giám mục Huế, Giám mục Ngô Đình Thục đã kiến tạo hoàn toàn Nhà Thờ Chánh toà Phủ Cam. Nhà thờ cổ kính này được xây cất từ 1898 nên xuống cấp trầm trọng, Giám mục Thục cho phá hủy và xây mới theo đồ án thiết kế của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ. Cũng trong thời gian từ năm 1962-1963, Giám mục Ngô Đình Thục đã thực hiện cho tổng giáo phận này nhiều công trình:

  • Trùng tu Tòa Giám mục và Nhà Chung.
  • Sửa sang Đại Chủng Viện Phú Xuân Huế, mời các linh mục giáo sư thuộc Hội Xuân Bích (Sulpice) về giảng dạy.
  • Thành lập Tiểu Chủng viện Hoan-Thiện (lấy tên hai vị thánh Tử đạo Đoàn Trinh Hoan và Trần Văn Thiện). Sau đó tiến hành Thành lập Liên chủng viện cho toàn tổng giáo phận Huế.
  • Năm 1962, thống nhất các dòng Mến Thánh Giá trong tổng giáo phận: Di Loan (dời vào La Vang), Tam Toà (dời vào Kim Long), Kẻ Bàng (sát nhập vào Phủ Cam), Phủ Cam, Dương Sơn, Trí Bưu. Sáu nhà dòng này tạo thành Dòng Mến Thánh Giá Thừa sai Huế, nay là Dòng Mến Thánh Giá Huế.
  • Đặc biệt, ông tiến hành trùng tu và tôn tạo khu vực La Vang trở thành trung tâm hành hương của giáo dân Việt Nam. Xin Tòa Thánh nâng nhà thờ La Vang lên bậc Vương cung thánh đường. Lập tờ Nguyệt san Đức Mẹ La Vang, thu hút đông đảo người đọc và người viết cộng tác.

Hoạt động xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Giám mục Thục còn tham gia các hoạt động xã hội như: xây dựng 6 trường Trung học tư thục, nhận học sinh Công giáo và cả học sinh không Công giáo. Xây cất dưỡng đường Á Thánh Minh ở Vĩnh Long và dưỡng đường thánh Phêrô ở Sài Gòn. Xây nhà Xã hội tại thị xã Vĩnh Long làm nhà đọc sách, diễn thuyết, sinh hoạt cho nhân dân. Trùng tu nhiều cô nhi viện của giáo phận.

Gây ảnh hưởng chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Đã có thời, tòa Giám mục Vĩnh Long là nơi tấp nập người qua kẻ lại nhiều lần. Việc Giám mục Thục dính dáng vào việc kinh tế tài chính khá ầm ĩ, dù có rằng tài chính ấy cũng góp vào việc lo từ thiện xã hội và kiến thiết giáo hội. Việc tổ chức lễ hội trong giáo phận cũng tác động nhiều đến thái độ bất bình của nhiều thành phần vốn không ưa thích Công Giáo, vì coi Công giáo như đạo Tây phương, "ngoại lai" theo kiểu tinh thần cấm đạo thời Nhà Nguyễn và Văn Thân.

Năm 1945, Giám mục Thục được mời ra Phát Diệm dự lễ tấn phong Giám mục Tađêô Lê Hữu Từ, nhưng bị kẹt tại Biên Hòa nên phải trở lại Vĩnh Long. Trong thời kỳ rối ren ở Việt Nam những năm 1940, có nguồn tin cho rằng, Giám mục Thục đã tích cực vận động người Nhật bảo vệ cho ông Ngô Đình Diệm, do sợ chính phủ Pháp bắt giam ông Diệm vì ông có tinh thần chống Pháp. Nhật đáp lại bằng việc nhiều lần mời ông Diệm đứng ra lập chính phủ nhưng ông Diệm từ chối, vì ông nghĩ rằng chính phủ do Nhật hậu thuẫn sẽ không có khả năng tồn tại lâu bền tại Việt Nam thời bấy giờ.

Trong một dịp, Giám mục Ngô Đình Thục có cơ hội tiếp xúc với Hồng y Francis Spellman Giáo phận New York, kiêm Tuyên úy quân lực Hoa Kỳ tại Sài Gòn. Ngày 18 tháng 6 năm 1950, cùng với ông Diệm và ông Nguyễn Viết Cảnh, ông sang Hoa Kỳ và đến Rôma tham dự Năm Thánh. Ngày 14 tháng 8 năm 1950, hai anh em nhà Ngô rời Sài Gòn để sang Nhật gặp Cường Ðể bàn việc lập chính phủ. Như vậy, chính phủ của ông Ngô Đình Diệm đã được thành lập và đi vào hoạt động trên phần lãnh thổ Quốc gia Việt Nam và sau này hậu thân là Việt Nam Cộng hòa.

Sự kiện Phật Đản, 1963 bùng nổ ở miền Nam Việt Nam - nhất là ở Huế, khi chính phủ Tổng thống Ngô Đình Diệm cấm treo cờ Phật giáo bên ngoài khuôn viên cơ sở Phật giáo làm Giám mục Thục lâm vào tình thế khó khăn để ứng phó.

Trước dư luận của nhiều người, nhất là người ngoài Công giáo, Giám mục Thục là người có tham vọng nhiều hơn so với các anh em trong Ngô gia, lúc thì ông tìm kiếm sự hỗ trợ của Tòa Thánh, lúc thì của Hoa Kỳ dành cho ông Diệm. Khi ông Diệm nắm chính quyền, theo tinh thần Công giáo, ông đã muốn nhân cơ hội này tích cực truyền bá đức tin Công Giáo cho quần chúng Việt Nam. Việc ông làm Tổng Giám mục Huế cũng gây ra những đàm tiếu, chỉ trích và ác cảm vì vùng đất Huế vốn là nơi có nhiều người sùng tín Phật giáo.

Khủng hoảng tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1961, nhận chức Tổng giáo mục Huế. Năm 1962, ông cùng các Giám mục người Việt khác được mời sang tham dự Công đồng Vatican II. Mùa hè năm 1963, quay về Việt Nam, cùng thời gian này thì miền nam Việt Nam xảy ra Sự kiện Phật Đản, 1963. Mùa thu năm ấy, ông lại sang Rôma dự Công đồng Vatican II thì ở miền Nam Việt Nam xảy ra đảo chính lật đổ Diệm-Nhu. Khi Công đồng bế mạc, ông không thể về lại Việt Nam được nữa. Giám mục Philípphê Nguyễn Kim Điền được Tòa Thánh bổ nhiệm làm Tổng Giám mục Huế thay ông.

Tác nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Trong một chừng mực nào đó, Giám mục Ngô Đình Thục gặp nhiều thuận lợi trong thời Ngô Đình Diệm còn làm tổng thống Việt Nam Cộng hòa. Đến cuối năm 1963, Ngô Đình Diệm và ông cố vấn Ngô Đình Nhu bị lật đổ cùng với nền Đệ nhất Cộng hòa Việt Nam, Giám mục Thục phải sống lưu vong ở hải ngoại và ông bị lâm vào tình trạng khủng hoảng niềm tin (với chính quyền mới) và đức tin (với Giáo hội Công giáo). Nhiều nhận định cho rằng, sự khủng hoảng của ông cao độ như vậy là do ông đã dấn thân quá nhiều vào quyền lực xã hội.

Biểu hiện[sửa | sửa mã nguồn]

Sau cuộc đảo chính tháng 11 năm 1963 với cái chết của các em ruột, Giám mục Thục phải lưu vong ở ngoại quốc, được Tòa Thánh chỉ định làm Bộ trưởng Thánh Bộ Giáo hội Đông Phương, rồi Tổng Giám mục hiệu tòa Bulla Regia (1968), phụ tá ngai Giáo hoàng.

Đương lúc tại Công đồng Vatican II, Giám mục Thục đã bắt đầu bộc lộ nhiều lập trường khác lạ và đi quá xa với truyền thống giáo huấn của Giáo hội Công giáo Rôma. Một quan điểm của ông được chú ý là: Giáo hội nên tỏ ra uyển chuyển với ai đó có chút khác biệt; và vì không có chút khoan nhượng nào nên em ông (tức ông Diệm) phải đứng vào thế chống lại Phật giáo (vụ cấm treo cờ Phật giáo Lễ Phật Đản)[cần dẫn nguồn]. Ông cũng đã lớn tiếng than phiền giáo hội không mời nhiều lãnh đạo tôn giáo khác tham dự Công đồng, mà theo ông là đáng lẽ nên mời. Sau này, ông đã được biết là họ đã được Công đồng mời.

Một quan điểm khác, Thánh lễ nên phản ảnh văn hóa của người cử hành thánh lễ, ví dụ như cử chỉ ngồi xổm, ngồi bệt xuống đất ăn trên lá chuối, kể cả dùng đũa (theo tập quán Việt Nam) và ủng hộ truyền chức linh mục cho nữ giới. Tất nhiên, Công đồng Vatican II đã không chấp thuận những quan điểm đó của ông.

Tấn phong Giám mục bất hợp thức[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 1 tháng 1 năm 1976, Giám mục Thục tự tấn phong cho Dominguez Gomez và bốn người khác thuộc nhóm li giáo ở Palmar de Troya (Tây Ban Nha) làm Giám mục mà không có chuẩn y của Giáo hoàng cũng như không có đầy đủ các thủ tục cần thiết trước đó. Tòa thánh lập tức rút phép thông công ông và những người tham gia vào các cuộc tấn phong bất hợp thức trên. Vào tháng 5 và tháng 10 năm 1981, ông tiếp tục tự ý tấn phong Giám mục cho ba người nữa. Một số nguồn cho rằng ngoài ra ông còn tấn phong Giám mục bất hợp thức 1 vài lần khác nữa.

Như thế, ngoài các Giám mục hợp thức tại Việt Nam mà ông đã tấn phong theo sự chuẩn nhận của Tòa thánh, Giám mục Thục là người tấn phong chính (chủ phong) bất hợp thức cho ít nhất 8 người: năm người trong nhóm Palmariana và ba người theo "thuyết trống ngôi" (sedevacantism), ông cũng đã tấn phong có điều kiện (sub conditione - giả thiết các lần tấn phong trước không thành sự) cho ba giáo sĩ khác. Các Giám mục do Giám mục Thục tấn phong kể trên lại đi tấn phong cho những người khác làm Giám mục.

Trong suốt thời gian khủng hoảng, ông đã nhiều lần hối lỗi, được tha vạ tuyệt thông rồi lại tiếp tục tái phạm và bị dứt phép thông công. Cuối cùng, ông đã quay trở lại với giáo hội và qua đời trong tình trạng hiệp thông với giáo hội.

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi được giải vạ vào năm 1984, Giám mục Ngô Đình Thục được chủ tọa Đại hội Thánh MẫuCarthage vào tháng 8 cùng năm. Khi đó, ông phát biểu những lời này, được cho là những lời cuối đời của ông trước công chúng: "Từ 20 năm, tôi chưa hề thấy người Việt đông như thế này. Nay Mẹ đưa tôi về đây gặp anh chị em lần sau hết. Xin phú thác anh chị em và cũng là đại diện cho dân Việt Nam trong Thánh Tâm Mẹ. Xin mọi người cầu nguyện cho tôi được chết lành".

Đến ngày 5 tháng 12 năm 1984, tổng Giám mục Thục trở bệnh nặng và được đưa đến bệnh viện St John, Joplin. Ông qua đời vào đêm 13 tháng 12 năm 1984, tại Carthage, hưởng thọ 87 tuổi, 46 năm làm Giám mục và được an táng tại nghĩa trang Resurrection Cemetary, Springfield, Missouri Orléans, Hoa Kỳ

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Episcopal Succession