Giáo phận Nha Trang
| Giáo phận Nha Trang Dioecesis Nhatrangensis |
|
| Địa giới | Khánh Hòa, Ninh Thuận |
|---|---|
| Giám mục | |
| Nhà thờ chính tòa | Chúa Kitô Vua (Nhà thờ Núi) |
| Tòa giám mục | 22 Trần Phú, Nha Trang |
| Trực thuộc | Giáo tỉnh Huế |
| Nguyên giám mục | - Paul-Raymond-Marie-Marcel Piquet - Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận - Phaolô Nguyễn Văn Hòa |
| Linh mục đoàn | 181 (triều và dòng) [1] |
| Số giáo xứ | 84 |
| Số giáo dân | khoảng 170.000 |
| Website | http://giaophannhatrang.org/ |
Giáo phận Nha Trang (tiếng Latin: Dioecesis Nhatrangensis) là một giáo phận Công giáo Rôma ở Việt Nam. Giáo phận được thành lập ngày 24 tháng 11 năm 1960. Nhà thờ Chính tòa Kitô Vua (Nhà thờ Núi) ở Nha Trang là Nhà thờ chính tòa của giáo phận[2]. Lễ Bổn mạng của Giáo phận được tổ chức vào ngày 8 tháng 12 hàng năm, mừng lễ Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội.
Giám mục cai quản giáo phận đương nhiệm là Giuse Võ Đức Minh. Theo thống kê của Tổng cục thống kê, năm 2009 giáo phận Nha Trang có 167.406 giáo dân (Khánh Hòa có 101.619 giáo dân và Ninh Thuận có 65.790 giáo dân) chiếm 9,7% dân số hai tỉnh. Trong đó có 55.024 giáo dân sống tại các khu vực thành thị, chiếm 32,9% tổng số giáo dân và chiếm 8,3% tổng dân số tại các khu vực thành thị trên địa bàn 2 tỉnh.
Mục lục |
Lịch sử [sửa]
Sơ khởi [sửa]
Lịch sử Giáo phận ghi lại vào các năm 1653 có Linh mục Dòng Tên Phêrô Marques và năm 1655 một Linh mục Giám tỉnh Dòng Tên khác là Phanxicô Rivas đã đến giảng đạo tại trấn Khánh Hòa. Đây được xem là những hoạt động truyền giáo đầu tiên tại đây.[3]
Trong những năm sau, suốt gần 200 năm, địa phận thuộc Giáo phận Nha Trang ngày nay thuộc Giáo phận Ðàng Trong. Từ tháng 9 năm 1844, mới chuyển thuộc Giáo phận Đông Đằng Trong. Mãi đến năm 1924, Giáo phận Đông Đàng Trong được đổi thành Giáo phận Quy Nhơn.
Thành lập Giáo phận [sửa]
Ngày 5 tháng 7 năm 1957, với Tông sắc Crescit Laetissimo[4], Giáo hoàng Piô XII đã thành lập Giáo phận Tông tòa Nha Trang, gồm 2 tỉnh Khánh Hòa, Ninh Thuận (thuộc Giáo phận Quy Nhơn) và 2 tỉnh Bình Thuận, Bình Tuy (thuộc Giáo phận Sài Gòn), và bổ nhiệm Giám mục Marcel Piquet (tên Việt: Lợi) làm Giám mục tiên khởi của Giáo phận.
Ngày 24 tháng 11 năm 1960, Giáo hoàng Gioan XXIII ra sắc chỉ thiết lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam. Theo đó, các giáo phận Việt Nam phân thành 3 Giáo tỉnh: Hà Nội, Huế, Sài Gòn. Giáo phận Nha Trang thuộc giáo tỉnh Huế và được nâng lên hàng Giáo phận Chính tòa. Giám mục Piquet Lợi được nâng lên làm Giám mục Chính toà Nha Trang và thụ phong ngày 23 tháng 6 năm 1961.
Giám mục Piquet Lợi qua đời ngày 11 tháng 7 năm 1966 và được an táng trong khuôn viên Nhà thờ Chính tòa Nha Trang. Sau gần 1 năm trống tòa, ngày 4 tháng 5 năm 1967, Tòa Thánh Vatican bổ nhiệm Giám mục Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận làm Giám mục Việt Nam tiên khởi của Giáo phận. Lễ tấn phong được cử hành tại Huế ngày 24 tháng 6 năm 1967, và lễ nhận Tòa Giám mục Nha Trang được cử hành vào ngày 10 tháng 7 năm 1967, dưới quyền chủ tọa của Khâm Sứ Tòa Thánh Angelo Palmas.
Ngày 30 tháng 1 năm 1975, Tòa Thánh tách 2 tỉnh Bình Thuận và Bình Tuy thuộc Giáo phận Nha Trang để thành lập Giáo phận Phan Thiết. Như thế, Giáo phận Nha Trang ngày nay chỉ còn gồm 2 tỉnh Khánh Hòa và Ninh Thuận.
Tháng 4 năm 1975, Giám mục Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận được Tòa Thánh bổ nhiệm làm Tổng Giám Mục phó Tổng Giáo phận Sài Gòn. Giám mục Giáo phận Phan Thiết Phaolô Nguyễn Văn Hòa được bổ nhiệm về làm giám mục Giáo phận Nha Trang. Lễ nhận chức đã được cử hành tại Nhà thờ Chính tòa Nha Trang ngày 25 tháng 5 năm 1975.
Ngày 8 tháng 11 năm 2005, Tòa Thánh đã bổ nhiệm linh mục Tổng Đại diện Giáo phận Đà Lạt là Giuse Võ Đức Minh làm giám mục phó Giáo phận Nha Trang với quyền kế vị. Năm 2009, Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Hòa nghỉ hưu sau 35 năm cai quản Giáo phận Nha Trang. Ngày 4 tháng 12 năm 2009, Giám mục Giuse Võ Đức Minh chính thức trở thành Giám mục Chính tòa Giáo phận Nha Trang.
Tổ chức [sửa]
Giáo phận Nha Trang được cai quản bởi Giám Mục Giáo phận do Toà thánh Vatican bổ nhiệm. Giám mục hiện nay là Giuse Võ Đức Minh. Toà Giám mục Nha Trang hiện đặt tại số 22 đường Trần Phú, Nha Trang. Tổng Đại diện của Giáo phận là Đức Ông Giuse Nguyễn Thế Thoại.
Giám Mục Giáo phận còn được hỗ trợ bởi Hội đồng Linh mục Giáo phận gồm 22 linh mục và Ban Tư vấn của Giáo phận gồm 12 linh mục với nhiệm kỳ 5 năm.[5]. Ngoài ra, Giáo phận còn có 21 Ban phụ trách các vấn đề mục vụ, bao gồm các Ban: Kinh Thánh, Giáo lý Đức tin, Phụng tự, Thánh Nhạc, Nghệ thuật Thánh, Giáo sĩ, Đại Chủng viện, Ơn gọi, Tu sĩ, Giáo dục Công giáo, Giáo dân, Giáo dân (đặc trách Hội đồng Giáo xứ), Giáo dân (đặc trách Tông đồ Giáo dân), Giáo dân (đặc trách Mục vụ Gia đình), Giáo dân (đặc trách Giới trẻ và Sinh viên), Giáo dân (đặc trách Mục vụ Di dân), Loan báo Tin mừng, Bác ái Xã hội, Thông tin Liên lạc, Văn hoá Công giáo, Công lý và Hoà bình.
Giáo Hạt và Giáo xứ [sửa]
Giáo phận Nha Trang được phân chia thành 9 Giáo Hạt: Vạn Ninh, Nha Trang, Diên Khánh, Cam Lâm, Cam Ranh (thuộc địa giới tỉnh Khánh Hòa) và Ninh Hải, Phan Rang - Tháp Chàm, Ninh Phước, Ninh Sơn (thuộc địa giới tỉnh Ninh Thuận) với 9 Linh mục Hạt trưởng[6]. Các Giáo xứ của Giáo phận Nha Trang:
| Khu vực Nha Trang | Khu vực Cam Ranh | Khu vực Ninh Thuận | Khu vực Diên Khánh | Khu vực Ninh Hoà |
|---|---|---|---|---|
| Chính Toà | Xuân Ninh | Phan Rang | Cây Vông | Diêm Điền |
| Ba Làng | Bắc Vĩnh | Bình Chánh | Cư Thịnh | Dục Mỹ |
| Bắc Thành | Ba Ngòi | Phước Đức (Cầu Bảo) | Đại Điền | Mỹ Hoàn |
| Bình Cang | Hoà Do | Hạnh Trí | Đất Sét | Mỹ Phước |
| Cầu Ké | Hoà Nghĩa | Hộ Diêm | Đồng Dơi | Ninh Hoà |
| Chợ Mới | Hoà Yên | Hòn Thiên | Đồng Hộ | Vạn Giã |
| Giuse (Quân Trấn) | Hoà Tân | Gò Dền | Đồng Trăng | Vạn Xuân |
| Hoà Thuận | Mỹ Thanh | Gò Sạn | Hà Dừa | |
| Khiết Tâm | Nghĩa Phú | Liên Sơn | ||
| Lương Sơn | Phú Nhơn | Mỹ Đức | ||
| Ngọc Thanh | Suối Hoà | Quảng Thuận | ||
| Ngọc Thuỷ | Tân Bình | Song Mỹ | ||
| Phù Sa | Vĩnh An | Song Pha | ||
| Vĩnh Phước | Vĩnh Bình | Phú Quý | ||
| Phước Hải | Vĩnh Thới | Phước An | ||
| Phước Hoà | Vĩnh Trang | Phước Thiện | ||
| Thanh Hải | Tân Hội | |||
| Thánh Gia | Thạch Hà | |||
| Thanh Điền | ||||
| Thới Hoà | ||||
| Thuỷ Lợi | ||||
| Triệu Phong |
Đại Chủng viện Sao Biển [sửa]
Đại chủng viện Sao Biển là nơi đào tạo linh mục của Giáo phận Nha Trang và các Giáo phận lân cận. Tiền thân của Đại Chủng viện hiện nay là cơ sở Tiểu chủng viện Sao Biển, được thành lập năm 1958 (hiện nay là trường Cao đẳng Văn hoá, Nghệ thuật và Du lịch Nha Trang). Ngày 01.06.1979, Chủng viện bị chính quyền Việt Nam đóng cửa do chính sách trưng dụng nhà cửa sau chiến tranh. Năm 1980, Chính Phủ Việt Nam cho phép mở lại các Chủng viện, tuy nhiên, cơ sở cũ của Tiểu Chủng viện Sao Biển đã bị trưng dụng nên Chủng viện phải chuyển về địa điểm mới tại Giáo xứ Phước Hải, Nha Trang. Ngày 31 tháng 12 năm 1991, Đức Giám Mục Nha Trang chủ sự Lễ Khai trương Đại Chủng Viện Sao Biển mới.
Các dòng tu [sửa]
Ngoài Đại Chủng viện Sao biển, Giáo phận Nha Trang hiện đang được sự cộng tác của 15 Dòng tu nam nữ, với 656 nữ tu, 78 nam tu sĩ.[1] Các dòng tu nam gồm có:
- Dòng Anh Em Hèn mọn (Phanxicô);
- Dòng Chúa Cứu Thế;
- Dòng Xitô Mỹ Ca;
- Dòng Lasan;
- Dòng Thánh Giuse.
Các dòng tu nữ gồm có:
- Dòng Cát Minh;
- Dòng Ðức Bà Truyền giáo;
- Tu hội Nữ Tử Bác Ái;
- Dòng Phan Sinh Thừa sai Ðức Mẹ;
- Dòng Thánh Phaolô;
- Dòng Khiết Tâm Ðức Mẹ;
- Dòng Mến Thánh Giá Nha Trang;
- Dòng Mến Thánh Giá Ðà Lạt;
- Dòng Mến Thánh Giá Qui nhơn;
- Dòng Mến Thánh Giá Thừa Sai Huế.
Hình ảnh [sửa]
Nhà thờ của các Giáo xứ trong Giáo phận Nha Trang:
-
Dai Chuan Vien.jpg
Đại Chủng viện Sao Biển
-
Chánh Tòa 3.jpg
Chánh Toà
-
Ba Làng.jpg
Ba Làng
-
Ba Ngoi.jpg
Ba Ngòi
-
Bac Vinh 1.jpg
Bắc Vĩnh
-
Bình Cang.jpg
Bình Cang
-
Nha Tho Binh Chinh 1.jpg
Bình Chánh
-
Bắc Thành 2.jpg
Bắc Thành
-
Cầu Bảo.jpg
Cầu Bảo
-
Cay Vong 2.jpg
Cây Vông
-
Cầu Ké.jpg
Cầu Ké
-
Cu Thinh.jpg
Cư Thịnh
-
Chợ Mới.jpg
Chợ Mới
-
Dai Dien.jpg
Đại Điền
-
DatSet.jpg
Đất Sét
-
DaTrang.jpg
Đá Trắng
-
Diem Dien 2.jpg
Điêm Điền
-
Dong Dai.jpg
Đồng Dài
-
Dong Ho 1.jpg
Đồng Hộ
-
Duc My 2.jpg
Dục Mỹ
-
Go Den 1.jpg
Gò Dền
-
Go Muong.jpg
Gò Muồng
-
Giuse.jpg
Giuse Quân Trấn
-
Go San.jpg
Gò Sạn
-
Ha Dua 2.jpg
Hà Dừa
-
Hanh Tri.jpg
Hạnh Trí
-
Ho Diem.jpg
Hộ Diêm
-
Hoa Do 1.jpg
Hoà Do
-
Hoa Nghia 1.jpg
Hoà Nghĩa
-
Hoa Tan 1.jpg
Hoà Tân
-
Hoa Thanh.jpg
Hoà Thanh
-
Hòa Thuận.jpg
Hoà Thuận
-
Hoa Yen 1.jpg
Hoà Yên
-
Hon Thien.jpg
Hòn Thiên
-
Khiết Tâm.jpg
Khiết Tâm
-
Lien Son.jpg
Liên Sơn
-
Luong Son 2.jpg
Lương Sơn
-
My Duc.jpg
Mỹ Đức
-
My Hoan.jpg
Mỹ Hoàn
-
My Thanh.jpg
Mỹ Thanh
-
Nghia Phu 2.jpg
Nghĩa Phú
-
Ngọc Thủy.jpg
Ngọc Thuỷ
-
Ninh Hoa.jpg
Ninh Hoà
-
Nhi ha.jpg
Nhị Hà
-
Phan Rang.jpg
Phan Rang
-
Phu Nhon 1.jpg
Phú Nhơn
-
Phu Quy.jpg
Phú Quý
-
Phù Sa.jpg
Phù Sa
-
Phuoc An.jpg
Phước An
-
Phuoc Thien.jpg
Phước Thiên
-
Phước Hòa.jpg
Phước Hoà
-
Phước Hải.jpg
Phước Hải
-
Quang Thuan.jpg
Quảng Thuận
-
Song My.jpg
Song Mỹ
-
Song Pha 2.jpg
Song Pha
-
Suoi Hoa 2.jpg
Suối Hoà
-
Tan Binh 2.jpg
Tân Bình
-
Tan Hoi.jpg
Tân Hội
-
TanTai.jpg
Tấn Tài
-
Thach Ha.jpg
Thạch Hà
-
Thai Hoa.jpg
Thái Hoà
-
Thanh Dien.jpg
Thanh Điền
-
Thanh Hải.jpg
Thanh Hải
-
Thánh Gia 2.jpg
Thánh Gia
-
Trieu Phong.jpg
Triệu Phong
-
Van Gia.jpg
Vạn Giã
-
Thuy Loi.jpg
Thuỷ Lợi
-
Van Xuan.jpg
Vạn Xuân
-
Vinh An 1.jpg
Vĩnh An
-
Vinh Binh 1.jpg
Vĩnh Bình
-
Vĩnh Phước 2.jpg
Vĩnh Phước
-
Vinh Thai 2.jpg
Vĩnh Thái
-
Vinh Trang 1.jpg
Vĩnh Trang
-
Xuan Ninh 2.jpg
Xuân Ninh
Tham khảo [sửa]
|
||||||||||||||||