Giáo phận Cần Thơ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Giáo Phận Cần Thơ
Dioecesis Canthoensis
Cathedrale Cần Thơ 2.jpg
Địa giới Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau (Việt Nam)
Giám mục Giám mục chính tòa.png
Nhà thờ chính tòa Nhà Thờ Chánh Tòa Cần Thơ
Trực thuộc Giáo tỉnh Sài Gòn
Linh mục đoàn 193 (2014))[1].
Số giáo xứ 133 (2008)
Số giáo dân 191,919 (2008)
Website http://gpcantho.com//

Giáo phận Cần Thơ (tiếng Latin: Dioecesis Canthoensis) là một giáo phận Công giáo Rôma tại Việt Nam. Vào năm 2004, giáo phận có diện tích rộng 13.257 km², tương ứng các tỉnh Hậu Giang, Sóc Trăng,Bạc Liêu, Cà Mau và thành phố Cần Thơ, có 181.856 giáo dân (chiếm khoảng 3,8% dân số 2006), [2].

Đương kim Giám mục hiện là Stêphanô Tri Bửu Thiên, cai quản giáo phận từ năm 2010.

Lược sử[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử truyền giáo tại Việt Nam ghi nhận, vào năm 1555, một giáo sĩ dòng Đa Minh là Gaspar de la Cruz đã đặt chân lên đất Hà Tiên, bấy giờ vẫn còn thuộc vương quốc Khmer. Tuy nhiên đây là một chặng dừng ngắn ngủi của ông trên đường từ Malacca đến Quảng Châu.

Năm 1659, Tòa Thánh lập 2 giáo phận đầu tiên tại Việt Nam. Trong gần 200 năm, địa phận giáo phận Cần Thơ ngày nay thuộc Giáo phận Đàng Trong thời bấy giờ. Năm 1844, Giáo phận Đàng Trong được chia thành hai giáo phận Tây Đàng Trong và Đông Đàng Trong. Chỉ 6 năm sau đó, năm 1850, Giáo phận Tây Đàng Trong được chia thành hai thành Giáo phận Tây Đàng Trong và Giáo phận Nam Vang. Vùng giáo phận Cần Thơ ngày nay, bấy giờ thuộc giáo phận Nam Vang, gồm cả vương quốc Khmer, vương quốc Champasak và 3 tỉnh Tây Nam Kỳ của Đại Nam.

Ngày 20 tháng 9 năm 1955, Giáo hoàng Piô XII ra Sắc chỉ Quod Christus tách phần đất của Việt Nam thuộc Giáo phận Nam Vang gồm 10 tỉnh lúc đó: An Giang, Kiên Giang, Phong Dinh, Chương Thiện, Ba Xuyên, Châu Ðốc, Bạc Liêu, Hà Tiên, Sa ÐécAn Xuyên để thành lập một giáo phận mới lấy tên gọi là Giáo phận Cần Thơ, đặt tân Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình làm Giám quản Tông tòa. Khi thành lập, giáo phận Cần Thơ có 148.610 giáo dân, 110 linh mục, 300 nữ tu dòng Chúa Quan Phòng, 10 nữ tu dòng Con Ðức Mẹ, 3 nữ tu tu hội Bác Ái Vinh Sơn, 11 sư huynh dòng La San và 9 đại chủng sinh. Đến ngày 24 tháng 11 năm 1960, Tòa Thánh thiết lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam, nâng giáo phận hiệu tòa Cần Thơ lên hàng giáo phận chính tòa, thuộc Giáo tỉnh Saigòn.

Ba ngày sau, ngày 27 tháng 11 năm 1960, Tòa Thánh tách 4 tỉnh của giáo phận Cần Thơ là An Giang, Kiên Giang, Châu Ðốc và Hà Tiên để lập Giáo phận Long Xuyên, một phần tỉnh An Giang (Cù Lao Tây và Hồng Ngự) nhập vào Giáo phận Mỹ Tho, phần khác của tỉnh là Sa Ðéc nhập vào Giáo phận Vĩnh Long. Sau khi phân chia, giáo phận Cần Thơ chỉ còn diện tích hơn 13.000 km2 với 67 linh mục và 56.200 giáo dân trên tổng số dân là 1,410,000 người.

Ngày nay, Giáo phận Cần Thơ nằm về phía hữu ngạn sông Hậu Giang, Ðông Bắc giáp Giáo phận Vĩnh Long (tả ngạn sông Hậu); Tây Bắc giáp Giáo phận Long Xuyên; Tây giáp vịnh Thái Lan, Ðông giáp biển Ðông. Tổng diện tích 13.258 km2, tương ứng địa bàn 5 tỉnh thành Thành phố Cần Thơ (trừ huyện Thốt Nốt thuộc giáo phận Long Xuyên), Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc LiêuCà Mau, theo Báo cáo Mục vụ 2012, có 187.846 giáo dân (2.691 người Khmer và 475 người Hoa), 195 linh mục, 344 tu sĩ đang phục vụ trên 143 họ đạo (116 có LM, 27 không có LM). Toàn giáo phận gồm 7 giáo hạt: Cần Thơ, Ðại Hải, Trà Lồng, Vị Thanh, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau. Với 94 giáo xứ có linh mục và 35 họ đạo không có linh mục. Địa bàn giáo phận nằm gọn trong vùng đồng bằng sông Cửu Long với hệ thống sông ngòi chằng chịt như sông Hậu Giang, Cái Tư, kênh Quảng Lộ, kênh Sáng Sà No, kênh Phụng Hiệp... Thành phần dân cư đa số là người Kinh, ngoài ra còn có người Khmer (khoảng 50.000) và người Hoa (nhất là vùng Sóc Trăng và Bạc Liêu).

Các danh địa giáo phận[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà thờ Chánh tòa và Tòa Giám mục[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà thờ Trái tim Cực sạch Đức MẹCần Thơ được chỉ định làm Nhà thờ chính tòa của giáo phận[3].

Thánh địa hành hương[sửa | sửa mã nguồn]

Trung Tâm Hành Hương Cha Phanxicô Trương Bửu Diệp

Trung Tâm Hành Hương Đức Mẹ Fatima Rạch Súc

Các nhà thờ và tu viện lớn[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ðại chủng viện Thánh Quý

Các đời Giám mục quản nhiệm[sửa | sửa mã nguồn]

STT Tên Thời gian quản nhiệm Ghi chú
1 † Phaolô Nguyễn Văn Bình Giám mục phụ tá.png 1955-1960
2 † Philipphê Nguyễn Kim Điền Giám mục chính tòa.png 1960-1964
3 † Giacôbê Nguyễn Ngọc Quang Giám mục chính tòa.png 1964-1990
4 † Emmanuel Lê Phong Thuận Giám mục phụ tá.png 1975-1990
Giám mục chính tòa.png 1990-2010
5 Stêphanô Tri Bửu Thiên Giám mục phụ tá.png 2002-2010
Giám mục chính tòa.png 2010-nay

Ghi chú:

  • Giám mục chính tòa.png: Giám mục chính tòa
  • Giám mục phụ tá.png: Giám mục phó, phụ tá hoặc Giám quản tông tòa, Đại diện tông tòa

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]