Lịch sử Campuchia (1431-1863)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lịch sử Campuchia
Angkor Wat W-Seite.jpg

Phù Nam (thế kỷ 1- 550)
Chân Lạp (550-802)
Đế quốc Khmer (802-1432)
Thời kỳ hậu Angkor (1432-1863)
Thời thuộc địa (1863-1953)
Vương quốc Campuchia (1953-1970)
Cộng hòa Khmer (1970-1975)
Campuchia Dân chủ (1975-1979)
CHND Campuchia (1979-1993)
Vương quốc Campuchia (1993-nay)
sửa

Giai đoạn từ năm 1431 đến năm 1863 trong lịch sử Campuchia được gọi là thời kỳ Hậu Angkor. Năm 1431 là năm quân Ayutthaya đã chiếm được kinh đô Angkor của Đế quốc Khmer đã suy thoái và đốt phá nó, đánh dấu sự chấm dứt của giai đoạn Đế quốc Khmer trong lịch sử Campuchia. Còn năm 1863 là năm mở đầu thời kỳ Campuchia trở thành thuộc địa của Pháp. Đặc trưng của giai đoạn này là những cuộc xung đột nội bộ tranh giành ngôi vua ở Campuchia, và nỗ lực của quốc gia này để tồn tại giữa hai đế quốc hùng mạnh của người Tháiphía Tâyngười Việtphía Đông.

Kháng cự Ayutthaya[sửa | sửa mã nguồn]

Tuy vào năm 1431, quân Ayutthaya chiếm được và cướp phá kinh đô Angkor, nhưng người Khmer không dễ khuất phục. Họ đã kháng cự mãnh liệt. Vua Khmer lúc đó là Borommaracha II đã thành lập kinh đô mới, ban đầu ở Srei Santhor, rồi sau đó là Charktomok (Phnom Penh ngày nay). Khi vua Ayutthaya là Paramaraja II lập con trai mình là Indrapath làm vua Campuchia, người Khmer đã ám sát được Indrapath. Cuộc kháng chiến chống quân Ayutthaya của người Khmer không ngừng.

Đến năm 1510, vua Srei Sokunbat đã giải phóng được gần hết các khu vực trung tâm của đế quốc Khmer xưa. Tuy nhiên, sau khi Srei Sokunbat qua đời, Campuchia đã rơi vào một cuộc nội chiến tranh giành ngôi vua giữa Ponhea Chan (xưng vương hiệu là Borommaracha III) và Sdech Kan (xưng là Chey Chettha Thirach). Chettha Thirach đóng đô ở Charktomok. Còn Borommaracha III lập đô ở Lovek (vào khoảng giữa Charktomok và góc phía Nam của hồ Tonle Sap. Kết cục của cuộc chiến là Borommaracha III thắng lợi.

Những nhà thám hiểm phương Tây tới Campuchia thời kỳ này đã ghi chép lại rằng những người Khmer là những chiến sĩ, đặc biệt là vua của họ rất hiếu chiến, sẵn sàng chiến đấu với ngoại bang. Campuchia khi đó vẫn thực sự là một cường quốc quân sự và không chịu làm chư hầu cho nước nào. Suốt 50 năm kể từ khi Campuchia tự giải phóng khỏi Ayutthaya, giữa hai nước vẫn tiến hành các cuộc tấn công qua lại.

Những nhà thám hiểu, nhà truyền giáo, thương gia phương Tây còn miêu tả về kinh đô Lovek của Campuchia như một thành phố đông dân, thịnh vượng. Campuchia sản xuất nhiều gạo, thịt, rượu, cá khô. Các sản vật có giá hấp dẫn các thương gia ngoại quốc là đá quý, kim loại quý, lụa, bông, ngà voi, sừng tê giác, hương liệu, đồ sơn, và cả súc vật (voi). Thương gia Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Trung Quốc, Mã Lai, Nhật Bản, A Rập đã lập thương điếm ở Lovek. Sự thịnh vượng của Campuchia khi đó đã hấp dẫn những kẻ thực dân phương Tây. Người Tây Ban Nha khi đó đã chiếm được Philippines vẫn kể về Campuchia như là một quốc gia quan trọng hàng đầu ở Viễn Đông xét về mặt thương mại. Do đó, khi vào năm 1593, vua Campuchia là Chey Chettha I (1586–1593) đề nghị toàn quyền Philippines giúp mình đối phó với Ayutthaya. Vị toàn quyền người Tây Ban Nha đã phái 120 binh sĩ sang Campuchia giúp; nhưng khi đến nơi thì Lovek đã rơi vào tay người Thái.

Chư hầu của Ayutthaya[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1593, Ayutthaya lần nữa đánh bại Campuchia, tàn phá Lovek. Người Thái bắt hàng nghìn thợ thủ công, học giả, nghệ sĩ và tu sĩ Khmer đem về kinh đô Ayutthaya, khiến cho Campuchia suy thoái nghiêm trọng. Từ đó, Campuchia trở thành một chư hầu của Ayutthaya suốt khoảng 30 năm, kinh đô đóng ở Srey Santhor (vị trí của huyện Srey Santhor, tỉnh Kampong Cham ngày nay) ở hữu ngạn sông Mê Công.

Kẹp giữa Đại Việt và Ayutthaya[sửa | sửa mã nguồn]

Ở phía Đông của Campuchia, người Việt chậm rãi nhưng vững chắc Nam tiến. Họ thôn tính dần và cuối cùng tiêu diệt Champa, quốc gia từng kình địch của Campuchia. Campuchia chịu thêm một sức ép lớn nữa từ Đại Việt, bên cạnh Ayutthaya. Trong khi đó, nội bộ Campuchia thường xuyên mâu thuẫn và có sự tranh giành ngôi báu. Các phe phái tranh chấp thường dựa vào sự chi viện của hoặc người Thái hoặc người Việt. Nhiều lần, quân đội Đại Việt và quân đội Ayutthaya thâm nhập Campuchia để đưa người mà mình ủng hộ lên ngôi, thậm chí giữa hai quân đội đã có giao chiến ngay tại Campuchia.

Năm 1620, vua Chey Chettha II kết thân với nhà Nguyễn ở Việt Nam và lấy con gái của chúa Nguyễn Phúc NguyênCông nữ Vạn Ngọc. Chey Chettha II dời đô đến Oudong Meanchey. Những sự kiện này mở ra cơ hội cho người Việt bắt đầu thâm nhập đồng bằng châu thổ sông Mê Công vốn thuộc Campuchia. Vào khoảng năm 1623, Chey Chettha II cho phép nhà Nguyễn mở một đồn thu thuế ở Prey Nokor (vị trí thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nhưng gần thành phố Hồ Chí Minh ngày nay).

Năm 1628, vua Chey Chetta II từ trần, triều đình Chân Lạp liên tục xảy ra các cuộc tranh chấp ngôi giữa những hoàng thân. Prea Outey là em ruột của Chei Chetta II giữ chức Giám quốc (ab joréach). Chan Ponhéa Sô ở ngôi 1628-1630, con của Chey Chetta II và Công nữ Ngọc Vạn. Prea Outey giết vua cháu Chan Ponhéa Sô do phát hiện vua cùng vợ mình là Ang Vodey hẹn gặp gỡ nhau ở 1 buổi săn bắn.

Người con thứ hai của Chey Chetta II lên thay với vương hiệu là Ponhea Nu ở ngôi 1630–1640. Năm 1640, Ponhea Nu đột ngột băng hà, Phụ chính Preah Outey liền đưa con mình lên ngôi tức quốc vương Ang Non I. Nhưng Ang Non I cũng chỉ làm vua được hai năm (ở ngôi: 1640-1642) thì bị người con thứ ba của Chey Chetta II là Chau Ponhea Chan (húy là Ang Chan, sách Đại Nam thực lục gọi là Nặc Ông Chân[1]) giết chết cả Préah Outey và Ang Non I để giành lại ngôi vua.

Cuộc biến loạn này của Nặc Ông Chân dựa vào một số người Chăm và người Mã Lai. Ông cưới một Công chúa người Mã Lai theo đạo Hồi (Islam) làm Hoàng hậu và nhà vua cũng bỏ quốc giáo (Phật giáo Tiểu thừa) để theo đạo của vợ. Điều này cùng với việc cho người Mã Lai và người Chăm được nhiều ưu đãi, đã gây bất bình trong giới hoàng tộc và dân chúng Chân Lạp. Nặc Ong Chân xưng là Ramathibodey I, ở ngôi: 1642-1659.

Năm 1658, con của Preah OuteySo và Ang Tan dấy binh chống lại Nặc Ông Chân nhưng thất bại. Nghe lời khuyên của Thái hậu Ngọc Vạn, So và Ang Tan cầu cứu chúa Nguyễn. Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần liền sai Phó tướng dinh Trấn Biên (Phú Yên) là Nguyễn Phước Yến dẫn 3000 quân đến thành Hưng Phước (bấy giờ là Mỗi Xuy, tức Bà Rịa), phá được thành rồi tiến vào bắt Nặc Ông Chân bỏ vào cũi đem về giam ở Quảng Bình.

Năm sau (1659), Nặc Ông Chân chết[2] chúa Nguyễn phong cho So làm vua Chân Lạp, hiệu là Batom Reachea (ở ngôi: 1660-1672). Từ đó, lưu dân Việt đến Gia Định, Mỗi Xuy (Bà Rịa), Biên Hòa ngày càng đông để khai khẩn đất đai.

Năm 1672, vua Batom Reachea bị một người vừa là rể vừa là cháu là Chey Chetta III giết chết, em là Ang Tan (Nặc Ông Tân) chạy sang cầu cứu chúa Nguyễn. Nhưng ngay sau đó Chey Chetta III cũng bị người của Nặc Ông Chân sát hại.

Ang Chei hiệu là Kaev Hua II (Nặc Ông Đài) ở ngôi: 1673-1674 là con trai đầu của vua Batom Reachea lên ngôi. Ang Chei cho đắp thành lũy ở địa đầu Mỗi Xuy, nhờ Xiêm cứu viện để chống lại chúa Nguyễn.

Bị quân Xiêm đánh đuổi, Ang Tan cùng cháu là Ang Nan (Keao Fa II hay Nặc Ông Nộn[3], húy là Ang Chee) chạy sang Sài Côn kêu cứu chúa Nguyễn. Năm 1674, Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần sai Cai cơ Nguyễn Dương Lâm và Tham mưu Nguyễn Đình Phái chia quân làm hai cánh cùng tiến lên Chân Lạp. Nặc Ông Đài bỏ thành Nam Vang chạy vào rừng, để rồi bị thuộc hạ đâm chết.

Khoảng năm 1674, Keao Fa II bị em là Ang Su (Nặc Ô Đài) làm phản, kêu quân Ayutthaya vào giúp. Keao Fa II chạy sang Đàng Trong nhờ chúa Nguyễn giúp. Quân chúa Nguyễn sang giết đựoc Ang Su, nhưng chia Campuchia làm hai nửa. Nửa phía Đông do Nặc Ông Nộn làm Đệ nhị vương hiệu là Keao Fa II, đóng đô ở khu vực gò Cây Mai (thuộc Sài Côn, nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh), với sự hậu thuẫn của chúa Nguyễn. Nửa phía Tây do chính vương Chey Chettha IV (Ang Sor hay Nặc Ông Thu (1656-1725) là em của Nặc Ông Đài) cai quản, đóng đô ở Phnôm Pênh (Nam Vang).

Chúa Nguyễn cho lập quân đồn, danh nghĩa để bảo vệ Keao Fa II, nhưng thực chất là để bảo vệ người Việt vào khai khẩn, buôn bán. Năm 1679, chúa Nguyễn bận đối phó với chúa Trịnh, nên đã tạo điều kiện cho khoảng 3 nghìn người nhà Minh chạy nạn vào khai khẩn ở nơi nay là Mỹ Tho. Về thực chất, vùng châu thổ sông Mê Công vốn thuộc Campuchia đã bị nhà Nguyễn kiểm soát.

Những năm cuối của thế kỷ 17, khi chúa Nguyễn cho lập phủ Gia Định và một số đơn vị hành chính khác của Đại Việt xung quanh, Chey Chettha IV nổi giận chống lại Đại Việt, nhưng thất bại.[4]

Con vua Chey Chettha IVRamathibodey II (húy là Ang Yong, Việt Nam gọi là Nặc Thâm) lên nối ngôi. Ramathibodey II nhờ Ayutthaya giúp mình chống lại Ang Em (con của Keao Fa II và là con rể của Chey Chettha IV, sau thành vua Keao Fa III, Việt Nam gọi là Nặc Yêm). Việc này dẫn tới cuộc xung đột giữa quân Đại Việt và quân Ayutthaya. Nửa đầu thế kỷ 18 chính là thời kỳ Đại Việt và Ayutthaya can thiệp sâu vào chính sự của Campuchia, tìm cách đưa người của mình làm vua Campuchia.

Năm 1776, Ayutthaya diệt vong bởi Myanma (triều Konbaung), nhưng đã nhanh chóng giành lại được độc lập. Vua Thái mới là Taksin và sau đó là các vua triều Chakri liên tục tìm cách duy trì ảnh hưởng của mình ở Campuchia, dẫn tới xung đột với Đại Việt ở mức độ cao hơn. Một phần lãnh thổ phía cực Bắc của Campuchia bị người Thái chiếm vĩnh viễn.

Xung đột kéo dài giữa Đại NamXiêm vì Campuchia leo thang tới đỉnh cao vào khoảng giữa thế kỷ 19. Sau đó, một hiệp ước giữa 3 nước đã đạt được, theo đó Campuchia sẽ chịu sự bảo hộ chung của hai nước láng giềng. Tuy nhiên trên thực tế vua Hariharak Ramaisarah đã tìm đến Pháp để thoát khỏi sự chi phối của cả Đại Nam lẫn Xiêm La.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ross Marlay, Clark D. Neher (1999). Patriots and Tyrants: Ten Asian Leaders. Rowman & Littlefield. ISBN 0847684423.
  • John Tully (2005). A Short History of Cambodia. Allen & Unwin. ISBN 1-74114-763-8.
  • Craig A. Lockard (2009). Southeast Asia in World History. Oxford University Press. ISBN 978-0-19-516075-8.
  • Quốc sử quán triều Nguyễn (không rõ năm). Đại Nam thực lục. Bản dịch của Viện Sử học. Nhà xuất bản giáo dục.
  1. ^ Đại Nam thực lục, Tiền biên, quyển IV. Bản do Đào Duy Anh dịch.
  2. ^ Theo Việt Nam sử lượcViệt sử tân biên (quyển 3), thì Nặc Ông Chân chỉ bị giam một ít lâu rồi được tha sau khi chịu nạp cống, và hứa sẽ bênh vực người Việt đang làm ăn sinh sống trên đất Chân Lạp. Tuy nhiên, các nguồn ghi năm ông mất khác nhau: "Việt sử tân biên" (quyển 3) ghi Nặc Ông Chân mất năm 1674. TS. Trần Thuận ghi ông mất năm 1659, nhưng không nói rõ ở đâu, có nguồn ghi ông mất trong nhà lao Quảng Bình.
  3. ^ Tên gọi theo Đại Nam thực lục, Tiền biên, quyển V. Bản do Đào Duy Anh dịch.
  4. ^ Đại Nam thực lục, Tiền biên, Quyển VII.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]