Chey Chettha II

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chey Chettha II
Vua Chân Lạp
Vua Cambodian
Trị vì 1618 - 1627
Tiền nhiệm Borommaracha VIII
Kế nhiệm Thommaracha II
Thông tin chung
Thê thiếp Nguyễn Phúc Ngọc Vạn
Hậu duệ Thommaracha II
Ponhea Nu
Chau Ponhea Chan
Neang Nhéa Ksattrey
Thân phụ Borommaracha VIII
Sinh 1573
Mất 1627
Oudong, Cambodia

Chey Chettha II hay Chay Chettha II là vua Chân Lạp (tức Campuchia) giai đoạn 1618-1627, là con của vua Borommaracha VIII.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Là con trai cả của vua Borommaracha VIII. Ông bị giữ làm con tin ở Xiêm từ 1594 đến 1604. Ông được thừa hưởng ngôi vua sau khi vua cha thoái vị.

Vương quốc của ông thời kỳ đó đang phải chống chọi lại những ảnh hưởng chi phối lên Campuchia của vương quốc Ayutthaya, vương quốc vương quốc Ayutthaya ngày càng trở nên mạnh do những chiến thắng trước đó trước vua cha của ông.

Nhằm tìm lại độc lập và khôi phục sức mạnh của vương quốc, nhà vua đã cho bỏ kinh đô cũ Longvek và xây dựng lại kinh đô mới tại Oudong năm 1618.

Để khôi phục lại bá quyền của mình, vua Xiêm đã cho đánh vào Chân Lạp nhưng đều bị chống trả mạnh mẽ, như trận tại tỉnh Kampong Chhnang lãnh đạo bởi chính nhà vua, cách hồ Boeung Kak khoảng 50 km. Và năm tiếp theo tại tỉnh Banteay Meanchey lãnh đạo bởi người em trai của ông Outley.

Năm 1620, Công ty Đông Ấn Hà Lan đã thiết lập được mối quan hệ với Chân Lạp. Năm 1623, công ty này đã cho xây dựng 1 trạm tiền đồn bên sông Mê Kông tại Kompong Luong, cảng sông gần Udong.

Mối quan hệ với Đàng Trong[sửa | sửa mã nguồn]

Để nhằm cân bằng ảnh hưởng của Xiêm La lên Chân Lạp, ông đã liên kết với Chúa NguyễnĐàng Trong Việt Nam bằng việc lấy con chúa Nguyễn Phúc Nguyên là Công nữ Ngọc Vạn năm 1620[1].

Chey Chetta đã xin chúa viện trợ vũ khí và quân đội để chống lại sự đe dọa của Xiêm La (Thái Lan). Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên đã chuẩn bị vũ khí và mộ binh giúp vua Chân Lạp, cung cấp cho ông này thuyền chiến và quân binh để cầm cự chống Xiêm. Điều này đã giúp con rể Chey Chetta II đẩy lùi 2 lần xâm lược của quân Xiêm

Giáo sĩ người Ý tên Christopho Borri ở Quy Nhơn đã nhìn thấy viện binh từ Đàng Trong tiến sang Cao Miên, nên đã ghi lại trong cuốn Hồi ký của mình (xuất bản năm 1631) như sau:

Chúa Nguyễn luôn luyện tập binh sĩ và gởi quân đội giúp vua Cao Miên, tức chàng rể chồng của con chúa. Chúa viện trợ cho vua Cao Miên thuyền bè, binh lính để chống lại vua Xiêm...

Năm 1623, một sứ bộ Đàng Trong được cử tới Oudong, đem theo thư cùng nhiều tặng phẩm để tỏ tình thân hữu và bảo đảm sự ủng hộ của triều đình chúa Nguyễn, Chey Chettha II đã chấp thuận nhượng 1 dinh điền ở Mô Xoài (gần Bà Rịa ngày nay), lập 2 thương điểm (đồn thu thuế) là Kas Krobei bên bờ sông Sài Gòn (trước gọi là sông Bến Nghé) và Brai Kor trên bờ rạch Bến Nghé hay kênh Tàu Hủ (gọi là rạch Sài Gòn - khu Chợ Lớn từ năm 1859), thuộc địa phận thành phố Hồ Chí Minh ngày nay, để tiến hành thu thuế[1].

Việc định cư ở vùng đất mới này là khởi đầu cho việc người Việt mở rộng bờ cõi trước kia từ thời vua Lê Thánh Tông năm 1471 và dần hoàn thiện trong các thế kỷ sau này.

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà vua qua đời năm 1627. Sau đó người em trai ông là Prea Outey nhiếp chính 2 năm (1627-1629) rồi Chan Ponhéa Sô lên ngôi, sau khi rời tu viện để hoàn tục.

Con cái[sửa | sửa mã nguồn]

  • Con trai cả: Chan Ponhéa Sô. Lên ngôi vua hiệu là Thommaracha II. Thừa kế sau 2 năm vua cha mất. Giữ ngôi 1629-1632.
Mẹ là Công nữ Ngọc Vạn xứ Đàng Trong.
  • Con trai thứ 2: Ponhea Nou. Lên ngôi vua hiệu là Ang Tong Reachea. Giữ ngôi 1632-1640.
Mẹ là công chúa Thong
Mẹ là quý tộc người Lào tên Bossa.
  • Con gái: Neang Nhéa Ksattrey.
Mẹ là Công nữ Ngọc Vạn xứ Đàng Trong.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Nghia M. Vo, Chat V. Dang, Hien V. Ho (29 tháng 8 năm 2008). The Women of Vietnam. Saigon Arts, Culture & Education Institute Forum. Outskirts Press. ISBN 1432722085. 

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]