Lê Văn Duyệt

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lê Văn Duyệt
黎文悅
Tượng Lê Văn Duyệt.jpg

Tượng đồng Lê Văn Duyệt trong Thượng Công miếu (tức Lăng Ông Bà Chiểu)
Tiểu sử
Biệt danh Đức Tả Quân
Đức Thượng Công
Sinh

1763

Định Tường, miền Nam Việt Nam
Mất

1832 (69 tuổi)

Gia Định (nay là Thành phố Hồ Chí Minh), Việt Nam
Binh nghiệp
Phục vụ Chúa Nguyễn
Nhà Nguyễn
Năm tại ngũ 1789–1832
Tham chiến Trận Thị Nại (1801)
Chu nom.svg
Bài viết này có chứa các ký tự Tiếng Việt. Nếu không được hỗ trợ hiển thị đúng, bạn có thể sẽ nhìn thấy các ký hiệu chấm hỏi, ô vuông, hoặc ký hiệu lạ khác thay vì chữ Nôm, chữ Hán.

Lê Văn Duyệt (1763 [1] - 1832) là một nhà chính trị, quân sự Việt Nam. Ông được biết đến khi tham gia phò tá chúa Nguyễn Ánh, trong cuộc chiến của ông này với quân Tây Sơn. Sau khi chiến tranh kết thúc và Nhà Nguyễn được thành lập, ông trở thành một vị quan cấp cao trong triều đình và phục vụ hai triều vua Gia Long (tức Nguyễn Ánh) và Minh Mạng.

Sinh trưởng trong một gia đình nông dân nghèo ở gần Tiền Giang, Lê Văn Duyệt gia nhập quân đội của Nguyễn Ánh chống lại nhà Tây Sơn từ năm 1781. Bởi tài năng quân sự của mình, Lê Văn Duyệt nhanh chóng thăng tiến trong hàng ngũ của quân Nguyễn tới chức chỉ huy Tả quân vào thời điểm cuộc chiến kết thúc. Sau khi nhà Nguyễn thành lập, ông trở thành một vị quan, tướng quân giữ nhiều chức vụ quan trọng của triều đình; nhiều lần công cán ở cả phía Bắc Thành và hai lần được cử làm Tổng trấn Gia Định.

Việc cai trị của ông đã góp công lớn giúp ổn định và phát triển khu vực Nam Bộ Việt Nam, khiến cho vùng này từ một khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề của chiến tranh thành một khu vực bình yên và giàu có.[2] Thêm vào đó, Lê Văn Duyệt phản đối việc nối ngôi của vua Minh Mạng và bảo vệ các tín đồ Công giáo Việt Nam khỏi chính sách bế quan tỏa cảng và trọng Nho giáo của nhà vua.[3] Những việc này đã khiến ông thường xuyên xung đột với nhà vua và dẫn đến việc triều đình đã hạch tội và cho phá hoại lăng mộ sau khi Lê Văn Duyệt mất. Vì việc này, người con nuôi của ông là Lê Văn Khôi đã nổi dậy chống lại triều đình. Sau khi cuộc nổi dậy bị dập tắt, Lê Văn Duyệt tiếp tục bị truy tội đến mãi đời Thiệu Trị thì vụ án mới được xét lại, và ông mới được phục hồi danh dự.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Lê Văn Duyệt sinh năm Quý Mùi (1763) tại vàm Trà Lọt, thuộc làng Hòa Khánh (nay thuộc xã Hòa Khánh, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang).

Ông nội của Lê Văn Duyệt là Lê Văn Hiếu từ làng Bồ Đề, huyện Mộ Đức (Quảng Ngãi) vào đây sinh sống. Sau khi Lê Văn Hiếu qua đời vì dịch bệnh thiên thời[4], cha ông là Lê Văn Toại rời vùng Trà Lọt đến ngụ tại vùng Rạch Gầm, làng Long Hưng (nay thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang).

Vàm Trà Lọt ngày nay

Lê Văn Toại có tất cả 4 người con trai[5] Lê Văn Duyệt là con trưởng. Sử cũ mô tả ông là người thấp bé, nhưng lại có sức mạnh hơn người[6], từng được coi là một trong "ngũ hổ tướng" ở Gia Định [7].

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Theo chúa Nguyễn, chống Tây Sơn[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1781, một lần chúa Nguyễn Phúc Ánh bị quân Tây Sơn đánh đuổi chạy đến vàm Trà Lọt, có ngụ tại nhà ông Lê Văn Toại. Cảm ơn cưu mang, Lê Văn Duyệt được chúa Nguyễn tuyển dụng làm thái giám, lãnh nhiệm vụ bảo vệ cung quyến. Lúc bấy giờ, ông vừa tròn 17 tuổi [8].

Theo Quốc triều sử toát yếu, thì trong trận đánh tại Đồng Văn, ông bị quân Tây Sơn bắt, nhưng sau đó trốn về được. Tháng 11 (âm lịch) năm 1784, ông gặp lại Nguyễn Phúc Ánh [9], rồi gắn bó chặt chẽ với vị chúa này, trong đó có hai lần ông hộ giá sang Xiêm (Thái Lan)[10].

Tháng 11 (âm lịch) năm 1793, Lê Văn Duyệt được Nguyễn Ánh phong làm Thuộc nội Vệ úy, vì "tuy sinh ra là người (thái) giám, (nhưng là) người mạnh dữ mà đánh giỏi, có công tùng chinh". Kể từ đó, chúa Nguyễn thường bàn việc binh với Lê Văn Duyệt [11].

Tháng 11 (âm lịch) năm 1800, ông được cử theo Tiết chế Nguyễn Văn Thành. Hai ông hợp quân đánh thắng một trận lớn, nhưng sau đó nảy sinh hiềm khích. Sách Quốc triều sử toát yếu chép: ...Thành hay uống rượu, lúc gần ra trận, cầm hồ rót rượu, rót cho Duyệt một chén và nói rằng: "Uống rượu để thêm sức mạnh". Ông Duyệt nói: "Ai tánh hay sợ mới uống rượu để cho thêm sức mạnh, còn như tôi thời trước mắt không coi (đó là) trận dữ, cần chi phải uống rượu". Thành có ý thẹn, từ đó giận Duyệt [12].

Tháng Giêng (âm lịch) năm 1801, Lê Văn Duyệt cùng chúa Nguyễn và các tướng là Nguyễn Văn Trương, Tống Phước Lương, Võ Di Nguy đánh chiếm cửa biển Thị Nại (Trận Thị Nại (1801)). Khi lâm trận, tướng Võ Di Nguy bị trúng đạn chết, ông Duyệt càng gắng sức đánh, đốt phá gần hết binh thuyền Tây Sơn. Trận ấy được khen là "võ công đệ nhất" của nhà Nguyễn [12], và là "võ công lớn nhất" của Lê Văn Duyệt[13].

Tháng 4 (âm lịch) cùng năm, ông Duyệt theo chúa Nguyễn ra đánh Phú Xuân. Tháng sau, đại binh vào cửa Tư Hiền, ông và Lê Chất phá được đồn quân Tây Sơn ở núi Quy Sơn (tức núi Linh Thái), bắt sống được Phò mã Nguyễn Văn Trị và đô đốc Phan Văn Sách. Đến ngày 3 tháng 5 (tức ngày 15 tháng 6 năm 1801), ông cùng chúa Nguyễn Phúc Ánh tiến vào nội thành Phú Xuân sau khi đánh tan đội thủy quân của nhà Tây Sơn, khiến vua Cảnh Thịnh phải tháo chạy ra Bắc.

Sau đó, chúa Nguyễn sai Tiết chế Lê Văn Duyệt (có Lê Chất đi theo) đem quân bộ vào Quảng Nam, Tống Viết Phước (hay Phúc) đem quân thủy, chia đường vào cứu thành Bình Định. Dọc đường, Lê Văn Duyệt đánh thắng nhiều trận, nhưng không kịp cứu Quận công Võ Tánh và Lễ bộ Ngô Tùng Châu. Vì lương hết, hai ông đều đã tuẫn tiết vào cuối tháng 5 (âm lịch) năm 1801. Xét công, chúa Nguyễn phong Lê Văn Duyệt làm "Thần sách quân Chưởng tả dinh Đô thống chế Quận công". Lại cho Lê Chất làm tướng dưới quyền, để cùng mang quân đi thu phục các nơi.

Ngày mồng 1 tháng 5 năm Nhâm Tuất (tức 31 tháng 5 năm 1802), chúa Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi tại Phú Xuân, đặt niên hiệu là Gia Long. Lê Văn Duyệt được phong làm "Khâm sai Chưởng Tả quân dinh Bình tây tướng quân, tước Quận công" để cùng với Lê Chất đem bộ binh ra Bắc truy diệt vua quan nhà Tây Sơn. Theo phối hợp còn có binh thuyền do tướng Nguyễn Văn Trương chỉ huy. Đến tháng 6 (âm lịch), thì quân bộ sang sông Linh Giang (tức sông GianhQuảng Bình) rồi hiệp với quân thủy đánh lấy Nghệ An, Thanh Hóa, và Thăng Long. Đến lúc ấy, nhà Tây Sơn kể như bị diệt.

Làm đại thần nhà Nguyễn[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới triều Gia Long[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 3 (âm lịch) năm 1803, Lê Văn Duyệt phá tan cuộc nổi dậy của người dân thiểu số ở Vách Đá (Quảng Nghĩa, nay là Quảng Ngãi), được vua khen thưởng. Tháng 8 (âm lịch) năm đó, cha Lê Văn Duyệt là Lê Văn Toại được vua cho mời ra Huế ban khăn áo.

Năm 1808, lại sai Lê Văn Duyệt mang quân đến Đá Vách. Thấy Phó quản cơ Lê Quốc Huy, vì nhiễu hại quá, nên dân mới nổi dậy. Lê Văn Duyệt bèn xin lệnh chém chết viên quan này, từ đó Quảng Nghĩa lại được yên.

Tháng 6 (âm lịch) năm 1812, nhà vua cho triệu Tổng trấn Gia Định Thành Nguyễn Văn Nhơn về, cử Lê Văn Duyệt vào thay, và cho Trương Tấn Bửu làm Phó tổng trấn, Ngô Nhân Tịnh làm Hiệp trấn.

Tháng 2 (âm lịch) năm 1813, nhận lệnh vua, Lê Văn Duyệt và Hiệp trấn Ngô Nhân Tĩnh đem 13.000 quân thủy đưa Nặc Chân về nước Chân Lạp (Campuchia ngày nay). Tại đây, ông thấy quân Xiêm cứ dòm ngó Chân Lạp, bèn xin vua Gia Long cho đắp thành Nam Vang cho vua nước này ở (trước đó ở thành La Bích), đắp thành Lô Yêm để trữ lương, đồng thời lưu binh ở lại bảo hộ (Nguyễn Văn Thoại được cử ở lại). Tất cả đều được vua nghe theo [14].

Năm 1815, Lê Văn Duyệt được chỉ triệu về kinh để bàn nghị về ngôi Thái tử. Khi ấy, Nguyễn Huỳnh Đức thay ông làm Tổng trấn, và Trịnh Hoài Đức làm Hiệp trấn.

Tháng 4 (âm lịch) năm 1816, nhà vua ra lệnh thâu ấn của Nguyễn Văn Thành, giam Nguyễn Văn Tuyên (con ông Thành) vào ngục, vì ông Tuyên có làm một bài thơ bị Lê Văn Duyệt (vốn có hiềm khích với ông Thành từ trước) cho là có ý mưu phản [15].

Sang tháng 5 (âm lịch) năm đó, dân thiểu số ở Vách Đá lại nổi dậy, Trấn thủ Phan Tấn Hoàng đánh bị thua. Vua Gia Long lại phải sai Lê Văn Duyệt đem quân tới đàn áp[16].

Tháng Giêng (âm lịch) năm 1819, Lê Văn Duyệt nhận mệnh đi kinh lược các vùng: Thanh Hóa, Nghệ An và Thanh Bình (nay đổi là Ninh Bình). Vì các nơi ấy thường mất mùa, sinh ra nhiều trộm cướp, quan sở tại không kiềm chế được. Đến nơi, ông dâng sớ về triều "nói việc khổ của dân, xin tha thuế cho dân, lại phải lựa quan trấn để an tập dân", được vua y cho [17]. Ở Thanh Hóa, ông nhận Lê Văn Khôi làm con nuôi. Ông Khôi nguyên là người ở Cao Bằng, vì khởi binh chống Nguyễn, bị quan quân đuổi đánh, phải chạy vào Thanh Hóa, gặp ông Duyệt đang làm Kinh lược ở đấy, bèn xin ra đầu thú [18].

Tháng 9 (âm lịch), triệu Lê Văn Duyệt về triều. Sang tháng 12 (âm lịch), vua Gia Long cho đòi ông và Phạm Đăng Hưng vào cung lãnh di chiếu, tôn Nguyễn Phúc Đảm lên ngôi (tức vua Minh Mạng). Đồng thời nhà vua cho ông Duyệt cai quản quân 5 dinh Thần sách.

Cũng trong năm này, theo Vũ Man tạp lục của tướng Nguyễn TấnViêm Giao trưng cổ ký của Cao Xuân Dục, thuận theo lời tâu của Lê Văn Duyệt, nhà vua cho xây Trường lũy [19](Tĩnh Man trường lũy), dài xấp xỉ 200 km, bắt đầu từ huyện Trà Bồng (Quảng Ngãi) đến huyện An Lão (Bình Định), để phòng ngự các cuộc nổi dậy của người thiểu số ở đây [20].

Dưới triều Minh Mạng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1820, vua Minh Mạng cử Lê Văn Duyệt vào Nam làm Tổng trấn Gia Định Thành lần thứ hai, thay cho Nguyễn Huỳnh Đức vừa mất hồi tháng 9 (âm lịch) năm 1819.

Lúc bấy giờ, ở nước Chân Lạp có thầy tu tên Kế vận động dân nổi dậy, cướp phá nhiều nơi thuộc trấn Phiên An. Quan trấn là Đào Văn Lý cản ngăn không được. Khi ông Duyệt đến, bèn cử Phó tổng trấn Huỳnh Công Lý đem quân đi đánh, đuổi quân Sư Kế chay về Chân Lạp. Tháng 9 (âm lịch) năm ấy, Sư Kế xua quân vây hãm thành Nam Vang, làm vua nước ấy phải đưa thư sang cáo cấp. Xem thư, Tổng trấn Lê Văn Duyệt liền sai Thống chế Nguyễn Văn Trí đem quân sang cứu viện, đến tháng 10 (âm lịch) thì giết được Sư Kế và đánh tan quân nổi dậy.

Cũng vào tháng 9 (âm lịch) năm đó, Phó tổng trấn Huỳnh Công Lý tham lam trái phép, bị quân nhân tố cáo hơn mười việc. Lê Văn Duyệt đem việc ấy tâu lên. Sau khi tra án, Huỳnh Công Lý bị kép vào vào tội chết (1821) [21].

Tháng 10 (âm lịch) năm 1822, nhà vua sai Lê Văn Duyệt điều động quân và dân (được hơn 39.000 người) để tiếp tục đào kênh Vĩnh Tế (đến tháng 5 âm lịch năm 1824 thì xong).

Tháng 8 (âm lịch) năm 1823, Lê Văn Duyệt về kinh chầu, Phó tổng trấn là Huỳnh Văn Năng coi thay. Sau đó, ông về ở luôn [Gia Định] cho đến chết.

Tháng 11 (âm lịch), Thị đốc học sĩ Trần Văn Tuân bị án giảo giam hậu, vì lời tâu của ông Duyệt. Trước đây, ông Tuân đi công cán ở Chân Lạp, được người Chân Lạp tin yêu; đến khi về lại Gia Định, người Chân Lạp vẫn thường qua lại đưa đồ và hỏi thăm. Sau, nhân bắt được lá thư của vua Chân Lạp gửi cho ông Tuân, Lê Văn Duyệt bèn đem việc ấy chiểu theo luật "Giao thông ngoại cảnh" (tức luật ngoại giao với nước ngoài) mà tâu lên[22].

Đêm 30 tháng 7 năm Nhâm Thìn (tức 28 tháng 8 năm 1832)[23], Chưởng tả quân lãnh Gia Định Tổng trấn Lê Văn Duyệt mất tại chức, thọ 69 tuổi. Sau đó, triều đình truy tặng ông chức "Tá vận công thần đặc tấn Tráng võ tướng quân – Tả quân đô thống phủ chưởng phủ sự, Thái bảo quận công", thụy là "Oai Nghị".

Vụ án Lê Văn Duyệt[sửa | sửa mã nguồn]

Lược kể[sửa | sửa mã nguồn]

Đền thờ Tả quân Lê Văn Duyệt trong Lăng Ông Bà Chiểu.

Sau khi Tổng trấn Lê Văn Duyệt mất, vua Minh Mạng cho bãi chức Tổng trấn Gia Định Thành, và đổi 5 trấn ra thành 6 tỉnh, là: Gia Định, Biên Hòa, Vĩnh Long, Định Tường, An GiangHà Tiên [24]. Lại đặt các chức Tổng đốc, Tuần phủ, bố chính, Án Sát, Lãnh binh như các tỉnh ở ngoài Bắc. Đến khi Bạch Xuân Nguyên đến làm Bố chính ở Phiên An (tức tỉnh Gia Định), nói rằng phụng mật chỉ truy xét việc riêng của Lê Văn Duyệt, rồi đòi hỏi chứng cứ, đồng thời trị tội các tôi tớ của ông Duyệt. Vì bị bức, con nuôi ông Duyệt là Lê Văn Khôi bèn khởi binh chống lại (xem Cuộc nổi dậy Lê Văn Khôi).

Nhận được tin cáo cấp, vua Minh Mạng liền sai quân đi đánh dẹp, đồng thời ban trách Lê Văn Duyệt đã "che chở quân phỉ đảng, để gây nên bọn loạn" [25]. Tuy nhiên, theo một số tài liệu thì vua Minh Mạng vốn có thù hằn lâu ngày với Tả quân Lê Văn Duyệt[26], rất có thể vì:

  • Ông Duyệt không ủng hộ việc Minh Mạng lên ngôi mà ủng hộ con của Hoàng tử Cảnh khi vua Gia Long băng hà[27].
  • Lê Văn Duyệt nhiều lần lạm quyền, hoặc làm sai ý triều đình trung ương [28], đặc biệt là sau khi vua Gia Long qua đời.
  • Lê Văn Duyệt ít học, bản chất quan võ nóng nảy, nói năng cộc lốc, chẳng biết chiều đón ý vua, khi tấu đối thường không vừa ý Minh Mạng[29]
  • Ông Duyệt tỏ ý ủng hộ các nhà truyền đạo Cơ đốc Châu Âu làm nghịch ý vua Minh Mạng[27].
  • Ông Duyệt được hưởng quyền "nhập triều bất bái" (vào triều không phải lạy) từ thời Gia Long, nên sau này ông không lạy vua Minh Mạng. Điều này đã làm nhà vua khó chịu [30].

Dù không ưa nhưng vua Minh Mạng chưa thể làm gì Lê Văn Duyệt, vì công lao và uy quyền của ông quá lớn [31]. Cho nên sau khi triều đình dẹp xong cuộc nổi dậy Lê Văn Khôi (1835), nhân Phan Bá ĐạtĐô Sát Viện dâng sớ kể tội Tả quân, Minh Mạng liền dụ cho đình thần nghị xử. Đến khi nghị án xong, có bảy tội nên trảm (chém), hai tội nên giảo (thắt cổ), một tội phải sung quân.

Án đệ lên, sau đó, vua Minh Mạng ra dụ có đoạn rằng:

Tội Lê Văn Duyệt nhổ từng cái tóc mà kể cũng không hết, nói ra đau lòng, dù có bửa quan quách mà giết thây cũng là đáng tội. Song nghĩ hắn chết đã lâu và đã truy đoạt quan tước, xương khô trong mả, chẳng cần gia hình chi cho uổng công[32]. Vậy cho tổng đốc Gia Định đến chỗ mả hắn cuốc bỏ núm mộ san bằng mặt đất và khắc đá dựng bia ở trên viết to mấy chữ: "Quyền yêm Lê Văn Duyệt phục pháp xứ" (Chỗ này là nơi quyền yêm Lê Văn Duyệt phục pháp)[33]

Sau đó, lệnh được thực hiện theo như lời dụ. Ngoài ra, mộ cha mẹ ông ở Long Hưng (nay thuộc Châu Thành, Tiền Giang) cũng bị đục bỏ tước hiệu khắc trên bia[29].

Được phục hồi danh dự[sửa | sửa mã nguồn]

Lê Văn Duyệt trên mặt trước tờ 100 đồng in năm 1966 của chính quyền Việt Nam Cộng hòa.

Năm Tân Sửu (1841) vua Thiệu Trị lên ngôi, ban lệnh tha tội các thân thuộc của Lê Chất và Lê Văn Duyệt [34].

Tháng 2 (âm lịch) năm đầu Tự Đức (1848), Đông Các đại học sĩ Võ Xuân Cẩn dâng sớ xin lục dụng những con cháu của Nguyễn Văn Thành, Lê Văn Duyệt và Lê Chất. Lời tâu làm vua cảm động, bèn cho con cháu ông Thành làm Chánh đội.[35]. Tuy nhiên, mãi đến năm tháng 4 (âm lịch) năm 1868, nhà vua mới chính thức ban lệnh truy phục chức hàm cho Nguyễn Văn Thành (là Chưởng trung quân Đại tướng quân Quận công) và Lê Văn Duyệt (là Chưởng tả quân Đại tướng quân), đồng thời cho thờ trong miếu Trung hưng công thần ở Huế [36].

Nhận xét khái quát[sửa | sửa mã nguồn]

Không chỉ có tài quân sự, Lê Văn Duyệt còn là một nhà chính trị. Làm Tổng trấn Gia Định Thành hai lần (lần 1: 1812-1816, lần 2: 1820 -1832), ông đã thực hiện chính sách trị an tốt, và có công lớn trong việc giữ gìn an ninh cho xứ sở. Ông cho đắp đường, đào kênh, củng cố thành lũy, lập hai cơ quan từ thiện là "Anh hài" và Giáo dưỡng [37]...Đồng thời ông cũng có cách ứng xử khéo léo, rộng rãi đối với những người phương Tây đến buôn bán ở Sài Gòn. Bấy giờ, nhiều người kính phục, gọi ông là "Ông Lớn Thượng", hay " Đức Thượng Công"... Một vài nước lân cận cũng tỏ ra kiêng nể ông [38].

Thông tin liên quan[sửa | sửa mã nguồn]

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Mộ Lê Văn Duyệt (phải) và vợ (trái).

Lê Văn Duyệt là người ái nam ái nữ bẩm sinh chứ không phải tự hoạn để làm thái giám[39]. Thuở trẻ, ông thích đá gà, nuôi gà chọi. Ngoài ra, ông cũng là người sành thưởng thức hát bội và thường tự tay cầm chầu.

Sau này, do ông lập được nhiều công lao, khi lên ngôi, vua Gia Long đã gả một người cung nhân tên là Đỗ Thị Phẫn (hay Phận)[40] về làm vợ ông, dù ông là người yêm hoạn.

Với oan án Tống Thị Quyên[sửa | sửa mã nguồn]

Sách Đại Nam chính biên liệt truyện (Sơ tập, Quyển 2) chép:

Năm Minh Mạng thứ năm (1824), có người bí mật tố cáo rằng Mỹ Đường thông dâm với mẹ ruột là Tống thị (Quyên). Tống thị vì thế thị dìm nước cho chết, còn Mỹ Đường thì phải giao trả hết ấn tín và dây thao, đồng thời bị giáng xuống làm thứ dân, con trai con gái chỉ được biên chép phụ ở phía sau sổ tôn thất...

Lúc bấy giờ có tin đồn người mật tâu là Lê Văn Duyệt. Tuy nhiên, có người lại cho rằng đây là mưu sâu của nhà vua nhằm làm mất uy tín ông, đồng thời ly gián ông với phe ủng hộ "dòng trưởng" nối ngôi (tức ủng hộ Hoàng tôn Đán, tên thật là Nguyễn Phúc Mỹ Đường, con Hoàng tử Cảnh)[41].

Ngôi mộ của Tả Quân[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Lăng Ông Bà Chiểu

Nhà nghiên cứu Huỳnh Minh, trong sách Gia Định xưa cho biết: "Theo lời các cố lão, ngôi mộ tại Gia Định Bình Hòa xã là ngôi mộ chôn bằng hình sáp, còn hài cốt thật thì về an táng tại làng Long Hưng, thuộc tỉnh Định Tường. (Tiền Giang ngày nay)"[42] Tuy nhiên, tháng 4 năm 2006, sau một cuộc khảo sát ông Lý Việt Dũng đã đưa ra kết quả ngược lại[29].

Vinh danh[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 4 tháng 2 năm 2008, tượng Tả quân Lê Văn Duyệt đã được đặt trang trọng tại điện thờ ông tại Lăng Ông Bà Chiểu (số 1, Vũ Tùng, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh). Tượng được đúc bằng đồng nguyên chất, cao 2,65 m, nặng 3 tấn do nhà điêu khắc Phạm Văn Hạng thực hiện. Đây là ý tưởng của tạp chí Xưa & nayHội Khoa học lịch sử Việt Nam trong chương trình Đúc tượng đồng cho lăng Ông.

Đường phố[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố Hồ Chí Minh trước năm 1975 (lúc đó gọi là Sài Gòn và Gia Định) có tới 2 con đường mang tên Lê Văn Duyệt. Đường Lê Văn Duyệt của Đô thành Sài Gòn cũ hiện nay là đường Cách mạng Tháng Tám, còn đường Lê Văn Duyệt của tỉnh Gia Định cũ nay là đường Đinh Tiên Hoàng đoạn đi qua quận Bình Thạnh (từ cầu Bông đến Lăng Ông Bà Chiểu). Điều đặc biệt là cả hai con đường mang tên Lê Văn Duyệt này đều bị đổi tên vào cùng ngày 14 tháng 8 năm 1975. Ngoài ra trước năm 1976, quận 3 còn có phường Lê Văn Duyệt, ngày nay là địa bàn các phường 10 và 11 của quận 3.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Sách tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Theo Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam (tr. 387) và Thành ngữ, điển tích, danh nhân từ điển (quyển 1, tr. 679). Có bài viết ghi ông sinh 1764, nhưng không biết căn cứ vào đâu.
  2. ^ Far-sighted sovereigns in Việt Nam Thế Giới Publishers (Hanoi, Vietnam) 2004 Page 64 "Especially, when the meritorious warriors Nguyễn Văn Thành and Lê Văn Duyệt were Governors-General of Bắc Thành and Gia Ðịnh respectively, their authority went beyond the central court's control."
  3. ^ Jacob Ramsay Mandarins and Martyrs: The Church and the Nguyen Dynasty Page 61 2008 "Huế recognized the mission's prominence in Gia Định's power networks, notably its close ties with Lê Văn Duyệt, as part of the general threat southern parochialism posed to the primacy of the capital."
  4. ^ Sơn Nam, sách ở mục tham khảo, tr. 123.
  5. ^ Trong số này, ngoài ông Duyệt, còn có Lê Văn Phong (em ruột ông Duyệt) cũng được vua Gia Long trọng dụng, từng lãnh chức Chưởng tả dinh. Hiện còn mộ tại Gia Định (theo Gia Định xưa, tr. 65)
  6. ^ Theo Việt sử giai thoại (Tập 8), tr. 55.
  7. ^ Theo Hỏi đáp lịch sử Việt Nam (Tập 3), tr. 326.
  8. ^ Tương truyền, trong một đêm mưa to gió lớn, trên đường trốn chạy sự truy đuổi của quân Tây Sơn, thuyền của chúa Nguyễn Phúc Ánh bị chìm gần vàm Trà Lọt. Gia đình ông Lê Văn Toại phát hiện chèo xuồng ra cứu thoát và đưa về nhà tá túc. Thưởng công cứu giá, chúa Nguyễn nhận Lê Văn Duyệt làm thái giám lúc 17 tuổi (xem: Hoàng Lại Giang, Lê Văn Duyệt, tr. 23).
  9. ^ Theo Quốc triều sử toát yếu, tr. 35.
  10. ^ Theo Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, tr. 387.
  11. ^ Theo Quốc triều sử toát yếu, tr. 50 và 54.
  12. ^ a ă Trích Quốc triều sử toát yếu, tr. 61.
  13. ^ Theo Sơn Nam, Lăng Ông Bà Chiểu và Lễ hội văn hóa dân gian, tr.126.
  14. ^ Theo Quốc triều sử toát yếu (tr. 114) và Việt Nam sử lược (tr. 420).
  15. ^ Theo Quốc triều sử toát yếu (tr. 126) và Việt Nam sử lược (tr. 423). Ở đây, GS. Nguyễn Khắc Thuần có lời bàn đại ý là "việc Nguyễn Văn Thành để tâm chán ghét Lê Văn Duyệt khi ông này từ chối uống rượu, là một trong số nguyên nhân khiến cha con ông khó tránh được đại họa" (Việt sử giai thoại, tập 8, tr. 45).
  16. ^ Quốc triều sử toát yếu, tr. 126.
  17. ^ Lược theo Quốc triều sử toát yếu, tr. 138 và 139.
  18. ^ Theo Việt Nam sử lược, tr. 445.
  19. ^ Theo Vũ Man tạp lục (dẫn lại theo Nguyễn Phan Quang, Việt Nam thế kỷ XIX, NXB. Thành phố Hồ Chí Minh, 2002, tr. 216). Viêm Giao trưng cổ ký của Cao Xuân Dục (NXB. Thời đại, 2010, tr. 194).
  20. ^ Trường Lũy dài nhất Đông Nam Á.
  21. ^ Đại Nam thực lục (tập 2), tr. 93 và tr. 134.
  22. ^ Theo Quốc triều sử toát yếu, tr. 165.
  23. ^ Theo Thành ngữ, điển tích, danh nhân từ điển (quyển 1, tr. 680) và Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam (tr. 387).
  24. ^ Ở đây, nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu có lời bàn: "Việc bỏ cấp thành, bỏ chức vụ Tổng trấn ở Bắc và ở Nam, có lẽ không khỏi có lý do là nhà vua ở Huế e ngại hai ông Tổng trấn (ông Thành và ông Duyệt) có thể có ngày nào lấn hay tiếm quyền vua, nhưng đó là một xu thế tất yếu của sự thống nhất toàn diện" (Địa chí văn hóa TP. HCM, quyển 1, tr. 208).
  25. ^ Theo Đại Nam chính biên liệt truyện. Trích lại trong Việt Nam sử lược (tr. 118)
  26. ^ Theo Sơn Nam, Lịch sử khẩn hoang miền Nam (Nxb Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 1994, tr. 82), và Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam (tr.388).
  27. ^ a ă McLeod, Mark W. (1991). The Vietnamese response to French intervention, 1862–1874, Praeger. ISBN 0-275-93652-0. tr 28.
  28. ^ McLeod, Mark W. (1991). The Vietnamese response to French intervention, 1862–1874, Praeger. ISBN 0-275-93652-0. tr 24.
  29. ^ a ă â Lý Việt Dũng, "Mộ tả quân Lê Văn Duyệt hiện ở đâu?.
  30. ^ Theo Hỏi đáp lịch sử Việt Nam (Tập 3), tr. 327.
  31. ^ Huỳnh Minh, Gia Định xưa, tr. 48.
  32. ^ Ban đầu, vua Minh Mạng định quật mộ, nhưng sau lại thôi, vì có lời tha thiết xin ân giảm của Võ Xuân Cẩn (Sơn Nam, sách ở mục tham khảo, tr. 145.
  33. ^ Nguyên văn chữ Hán: 權奄黎文悅服法處. Lời dụ trích trong Việt Nam sử lược, tr. 453-454.
  34. ^ Quốc triều sử toát yếu, tr. 303-304.
  35. ^ Quốc triều sử toát yếu, tr. 354-355.
  36. ^ Quốc triều sử toát yếu, tr. 438.
  37. ^ Anh hài để rèn luyện võ nghệ cho trẻ thích việc kiếm cung, và "Giáo dưỡng" để cho những trẻ khác và quả phụ học văn chương và nghề nghiệp.
  38. ^ Lược theo Hỏi đáp lịch sử Việt Nam (Tập 3), tr. 327-328.
  39. ^ Việt sử giai thoại (Tập 8), tr.55.
  40. ^ Theo tài liệu của Ban Quý Tế Lăng Ông thì vua Gia Long đứng ra gả cưới một cung nhân nết na, hiền hậu cho Lê Văn Duyệt. Vương Hồng Sển cho biết bà tên Đỗ Thị Phẫn (Hoàng Lại Giang ghi là Phận). Tương truyền khi Lê Tả quân bị tội, bà về ngụ nơi xóm Chợ Rẫy, trong một ngôi chùa Phật, do bà mẹ năm xưa đứng tạo lập tục danh là Chùa Bà Dội" (Sài Gòn năm xưa, tr. 86 và 160). Bà không bị giết vì Lê Văn Duyệt là người yêm hoạn, theo luật thời bấy giờ, bà không phải là vợ nên được miễn nghị. Theo Sơn Nam (tr. 146), "Dồi" (ghi hơi khác với ông Sển) là tên của người mẹ, và chùa ở gần Bệnh viện Chợ Rẫy.
  41. ^ Xem chi tiết trong sách Lê Văn Duyệt (chương 22) của Hoàng Lại Giang.
  42. ^ Huỳnh Minh, Gia Định xưa, NXB Thanh Niên in lại năm 2001, trang 53.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]