Nguyễn Phúc Cảnh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hoàng tử Cảnh
Thái tử Việt Nam (chi tiết...)
Prince Canh MEP.jpg
Chân dung hoàng tử Cảnh lúc bảy tuổi do họa sĩ Maupérin vẽ tại Pháp vào năm 1787
Đông Cung nhà Nguyễn
Ở ngôi 1793 - 1801
Kế nhiệm Hoàng tử Đảm
Thông tin chung
Thê thiếp Tống Thị Quyên
Hậu duệ
Tên húy Nguyễn Phúc Cảnh
Thụy hiệu Anh Duệ Hoàng thái tử
Triều đại Nhà Nguyễn
Thân phụ Nguyễn Thế Tổ
Thân mẫu Tống Thị Lan
Sinh 1780
Mất 1801
Việt Nam
An táng Bình Dương (Gia Định)

Nguyễn Phúc Cảnh (chữ Nho: 阮福景; 1780-1801), thường được gọi là Hoàng tử Cảnh(皇子景), là con của chúa Nguyễn Phúc Ánh (sau là vua Gia Long) và Nguyên phi Tống Thị Lan (sau là Thừa Thiên Cao Hoàng hậu)[1].

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyễn Phúc Cảnh sinh ngày Tân Tỵ tháng 3 (âm lịch) năm Canh Tý [2] tại Gia Định.

Mùa hạ năm Quý Mão (1783), Nguyễn Phúc Ánh nhờ Giám mục Bá Đa Lộc (Pigneau de Béhaine tục gọi là Cha Cả) sang Pháp cầu viện, Hoàng tử Cảnh (khi đó mới 3 tuổi) theo làm con tin.

Tháng 7 năm 1789, Nguyễn Phúc Cảnh, Bá Đa Lộc về đến Sài Gòn. Cùng theo có một số người Pháp, như: Philippe Vannier (tên Việt là Nguyễn Văn Chấn), Jean Baptiste Chaigneau (tên Việt là Nguyễn Văn Thắng)...

Mùa xuân năm Quý Sửu (1793), chúa Nguyễn Phúc Ánh lập ông làm Đông Cung (tức thái tử, nhưng người đời vẫn quen gọi là Hoàng tử Cảnh), được phong là Nguyên Súy Quận công, được dựng phủ Nguyên Súy, được ban ấn Đông cung chi ấn. Cử các danh sĩ đương thời là Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, Ngô Tùng Châu lo việc giảng học cho ông. Trong thời gian ở ngôi Đông cung, Nguyễn Phúc Cảnh từng được giao trấn giữ những nơi trọng yếu như Gia Định, Diên Khánh.

Mùa Xuân năm Tân Dậu (1801), ông bị bệnh đậu mùa và mất vào ngày 7 tháng 2 năm Tân Dậu (tức 20 tháng 3 năm 1801)[3], hưởng dương 21 tuổi. Ngày Hoàng tử Cảnh mất, chúa Nguyễn Phúc Ánh đang ở ngoài mặt trận nên không thể dự đám tang của con được.

Nguyễn Phúc Cảnh được an táng tại huyện Bình Dương thuộc phủ Tân Bình trấn Gia Định (nay là xã Tân Thới Nhì, huyện Hóc Môn). Năm Ất Sửu (1805), ông được truy phong là "Anh Duệ Hoàng thái tử"(英睿皇太子).

GS. Nguyễn Khắc Thuần nhận xét:

Mới ba tuổi đầu đã phải bị đưa làm con tin, lênh đênh khắp chân trời góc biển, đó là một bạc phước. Ở ngôi Đông cung chưa được bao lâu, tuổi thanh xuân đang bừng sức sống mà bỗng dưng mắc bệnh đậu mùa rồi mất, đó là hai lần bạc phước. Hành trạng của Hoàng tử Cảnh đúng sai thế nào, hậu thế sẽ bàn sau, nhưng xét phận riêng đắng cay chìm nổi như thế, kể cũng là đáng thương lắm thay! [4].

Gia quyến và con cháu[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyễn Phúc Cảnh mất, để lại một vợ là Tống Thị Quyên và hai con là Nguyễn Phúc Mỹ Đường (tức Hoàng tôn Đán) và Nguyễn Phúc Mỹ Thùy.

Lược thuật theo Đại Nam chính biên liệt truyện (Sơ tập, Quyển 2):

Trước đây, thấy vua (Gia Long) ở ngôi mà tuổi đã cao, các quan liền xin lập ngôi trừ vị[5] trong số đó, có người đề nghị thẳng là nên lập Hoàng tôn Đán [6] nhưng vua không nghe.[7]

Sau, Gia Long lập Nguyễn Phúc Đảm (tức vua Minh Mạng), em cùng cha khác mẹ với Hoàng tử Cảnh, làm người nối ngôi. Đại Nam chính biên liệt truyện kể tiếp:

Năm Minh Mạng thứ năm (1824), có người bí mật tố cáo rằng Mỹ Đường thông dâm với mẹ ruột là Tống thị. Tống thị vì thế bị (Lê Văn Duyệt) dìm nước cho chết, còn Mỹ Đường thì phải giao trả hết ấn tín và dây thao, đồng thời bị giáng xuống làm thứ dân, con trai con gái chỉ được biên chép phụ ở phía sau sổ tôn thất.
Năm Minh Mạng thứ bảy (1826), Mỹ Thùy lại bị quân lính ở đạo Dực Chẩn kiện, sắp bị đưa cho đình thần nghị tội thì Mỹ Thùy bị bệnh mà mất, lúc ấy chưa có con cái gì.Vua cho lấy con trưởng của Mỹ Đường là Lệ Chung, tập phong làm Ứng Hòa Hầu để lo việc phụng thờ Anh Duệ Hoàng thái tử (tức Hoàng tử Cảnh)... Đến năm thứ tám (1827), đổi phong (Lệ Chung) làm Thái Bình Hầu...

Năm Minh Mạng thứ mười bảy (1836), vì sợ con cái của Lệ Chung nhờ cha mà hưởng phúc ấm, nên triều thần lại tiếp tục nghị tội, buộc con trai con gái của Lệ Chung là Lệ Ngân, Thị Văn, Thị Dao đều phải giáng làm thứ nhân. Mãi đến năm Tự Đức thứ hai (1848), khi Mỹ Đường bị bệnh mất, dòng dõi của Hoàng tử Cảnh mới tạm yên ở phận dân thường.

Sách Việt sử giai thoại có lời bàn:

Thời ấy, có hai tội thuộc hàng đại ác không thể tha, ấy là bất trung và thất đức. Bất trung thì con trai trưởng của Hoàng tử Cảnh chẳng có biểu hiện gì, vậy thì Minh Mạng muốn được yên vị trên ngai, ắt phải khép Mỹ Đường vào tột thất đức là thông dâm với mẹ. Ôi, giá mà Mỹ Đường chẳng phải cháu đích tôn của Gia Long thì đời ông sẽ yêm thấm biết ngần nào... [4]

Kỳ Ngoại Hầu Cường Để là cháu năm đời của Hoàng tử Cảnh.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Tống Thị lan là con gái thứ ba của Thái bảo Quốc công Tống Phúc Khuông. Bà cùng cha chạy vào Gia Định năm 1774, khi Phú Xuân bị quân Trịnh đánh chiếm. Bà sinh năm 1762, cùng tuổi với chồng (Gia Long). Bà sinh tổng cộng ba người trai là Nguyễn phúc Cảnh, Nguyễn Phúc Hy, Nguyễn Phúc Noãn; nhưng đều mất sớm.
  2. ^ Ghi theo sử nhà NguyễnQuốc triều chính biên toát yếu (Nxb Văn học, 2008, tr. 28). Có sách ghi khác.
  3. ^ Theo website [1][2].
  4. ^ a ă Theo Nguyễn Khắc Thuần, Việt sử giai thoại (Tập 8), Nxb Giáo dục, 1998, tr 11-12.
  5. ^ Tức là ngôi dành cho người sẽ lên làm vua sau này.
  6. ^ Phe ủng hộ Hoàng tôn Đán kế vị có Nguyễn Văn ThànhLê Văn Duyệt.
  7. ^ Tác giả A. Schreiner viết: khi quyết định người kế vị, Gia Long đã chọn người con của một thứ phi mà không phải là người cháu dòng đích. Có lẽ Gia Long sợ rằng tư tưởng của Bá-đa-lộc (người đã từng dạy dỗ Hoàng tử Cảnh) cũng sẽ ảnh hưởng đến những đứa con của hoàng tử. (Abre’ge’de l’histoire d’ Annam. Saigon, 1906).

Liên kết bên ngoài[sửa | sửa mã nguồn]