Cái Bè

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Huyện Cái Bè
Huyện
Sông Cái Bè 2.jpg
Sông Cái Bè, đoạn chảy qua thị trấn Cái Bè
Địa lý
Tọa độ: 10°24′21″B 105°56′1″Đ / 10,40583°B 105,93361°Đ / 10.40583; 105.93361Tọa độ: 10°24′21″B 105°56′1″Đ / 10,40583°B 105,93361°Đ / 10.40583; 105.93361
Diện tích 416,14 km2
Dân số (2009)  
 Tổng cộng 276.887 người[1]
Dân tộc Kinh,...
Hành chính
Quốc gia  Việt Nam
Vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Tỉnh Tiền Giang
Huyện lỵ Thị trấn Cái Bè
Phân chia hành chính 1 Thị trấn và 24 xã
Mã hành chính 819
Website Huyện Cái Bè

Cái Bè là một huyện nằm phía tây tỉnh Tiền Giang (trước đó là tỉnh Mỹ Tho). Huyện Cái Bè được biết đến với chợ nổi Cái Bè đặc trưng cho văn hoá sông nước Miền Tây. Cái Bè là bờ phía Bắc của cây cầu Mỹ Thuận, là cửa ngõ đi thành phố Vĩnh Long và toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thời Pháp thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

Cái Bè trước kia vốn là lỵ sở của dinh Long Hồ. Chợ Cái Bè lập năm 1732, lúc đó gọi là chợ Long Hồ, nay là thị trấn Cái Bè.

Ngày 8 tháng 9 năm 1870, thực dân Pháp thành lập Hạt Thanh tra Cái Bè, do đổi tên từ hạt Thanh tra Cai Lậy gồm địa bàn hạt Thanh tra Cai Lậy cũ, thêm 2 tổng Phong Hòa, Phong Phú tách từ hạt Thanh tra Cần Lố giải thể. Lúc bấy giờ, các hạt Thanh tra đều lấy tên gọi theo địa điểm đóng trụ sở, đồng thời và vì lý do an ninh nên thực dân Pháp dời trụ sở hạt Thanh tra này tới chợ Cái Bè nên lại đổi tên gọi là hạt Thanh tra Cái Bè. Ngày 5 tháng 6 năm 1871, Hạt thanh tra Cái Bè giải thể, nhập địa bàn vào hạt Thanh tra Mỹ Tho.

Ngày 12 tháng 03 năm 1912, thực dân Pháp cho lập quận Cái Bè thuộc tỉnh Mỹ Tho trên cơ sở tách đất từ quận Cai Lậy cùng tỉnh. Quận Cái Bè gồm có 3 tổng: Phong Hòa (11 làng), Phong Phú (9 làng), Lợi Thuận (16 làng).

Năm 1902, các tổng Phong Hòa, Phong Phú và Lợi Thuận có các làng trực thuộc như sau[2]:

  • Tổng Phong Hòa gồm 11 làng: Mỹ Đức Đông, Mỹ Đức Tây, Mỹ Thiện, Hậu Mỹ, Mỹ Hội, An Cư, Hậu Thành, Hòa Khánh, An Bình Đông, Phú Hòa, An Hiệp;
  • Tổng Phong Phú gồm 9 làng: An Thái Đông, An Thái Trung, Mỹ Lương, Hòa Lộc, Mỹ Hưng, Mỹ Thuận, An Hữu, Thanh Hưng, Mỹ Lợi;
  • Tổng Lợi Thuận gồm 16 làng: Hội Sơn, Xuân Sơn, Tân Đức, Hiệp Hòa, Phú Sơn, An Mỹ, Lợi An, Lợi Thành, Giai Mỹ, Giai Phú, Bình Phú, Phú Hưng, Phú Nhuận, Phú Thuận Đông, Mỹ Thạnh, Mỹ Phú Đông.

Đặc biệt, tên làng Mỹ Thuận (thuộc tổng Phong Phú) đã được dùng để chỉ tên bắc (phà) Mỹ Thuận bắc qua sông Tiền nối hai tỉnh Mỹ Tho và Vĩnh Long mà ngày nay đã được thay thế bằng cây cầu Mỹ Thuận. Tuy nhiên, thực dân Pháp đã giải thể làng Mỹ Thuận và sáp nhập vào làng lân cận cho nên kể từ đó không còn tên làng xã Mỹ Thuận.

Ngày 01 tháng 01 năm 1928, tổng Lợi Thuận được giao về quận Cai Lậy.

Thực dân Pháp chủ trương tiết kiệm ngân sách nên từ năm 1905 đến năm 1933 đã có nhiều lần sáp nhập các đơn vị hành chánh cơ sở (làng), do vậy, vào năm 1945, nếu so sánh với giai đoạn trước thì tổng số làng trong tỉnh Mỹ Tho nói chung và quận Cái Bè nói riêng đã giảm.

Sau nhiều lần sáp nhập và thành lập các làng mới, đến năm 1933 quận Cái Bè có các làng trực thuộc với các tên gọi mới như sau[3][4][5]:

  • Tổng Phong Hòa gồm 8 làng: Hội Cư (hợp nhất An Cư và Mỹ Hội), Đông Hòa Hiệp (hợp nhất An Bình Đông, Phú Hòa và An Hiệp), Mỹ Đức Đông, Mỹ Đức Tây, Mỹ Thiện, Hậu Mỹ, Hậu Thành, Hòa Khánh;
  • Tổng Phong Phú gồm 8 làng: An Thái Đông, An Thái Trung, Mỹ Lương, Hòa Lộc, Hưng Thuận (hợp nhất Mỹ Hưng và Mỹ Thuận), An Hữu, Thanh Hưng, Mỹ Lợi.

Riêng tổng Lợi Thuận đã giao cho quận Cai Lậy quản lý từ năm 1928. Tổng Lợi Thuận gồm 8 làng: Hội Sơn, Xuân Sơn, Hiệp Đức (hợp nhất Tân Đức và Hiệp Hòa), Phú An (hợp nhất Phú Sơn và An Mỹ), Mỹ Thành (hợp nhất 4 làng Lợi An, Lợi Thành, Giai Mỹ và Giai Phú), Bình Phú, Phú Nhuận Đông (hợp nhất Phú Hưng, Phú Nhuận và Phú Thuận Đông), Thạnh Phú (hợp nhất Mỹ Thạnh và Mỹ Phú Đông).

Giai đoạn 1956-1975[sửa | sửa mã nguồn]

Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Đến thời Việt Nam Cộng Hoà, vào đầu năm 1956, địa giới hành chánh của quận Cái Bè có một số thay đổi do tách phần lớn diện tích xã Mỹ Lợi và một phần xã Mỹ Đức Tây để nhập vào địa bàn tỉnh Phong Thạnh mới được thành lập (đến cuối năm 1956 đổi tên thành tỉnh Kiến Phong, ngày nay là tỉnh Đồng Tháp). Sau khi nhập vào tỉnh Kiến Phong, vùng đất này ban đầu được chia thành xã Mỹ An và xã Thanh Mỹ, trong đó xã Mỹ An được chọn là nơi đặt quận lỵ quận Mỹ An của tỉnh Kiến Phong, khi quận này được thành lập vào năm 1957.

Sau năm 1956, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đặt quận Cái Bè thuộc tỉnh Định Tường. Đồng thời, các làng gọi là xã.

Năm 1961, quận Cái Bè đổi tên là quận Sùng Hiếu, thuộc tỉnh Định Tường, tổng Phong Phú được giao về cho quận Giáo Đức mới thành lập, đổi lại, quận Cái Bè nhận tổng Lợi Thuận tách từ quận Khiêm Ích, tức quận Cai Lậy trước đó. Ngày 10 tháng 11 năm 1964, quận lấy lại tên cũ là Cái Bè. Sau năm 1965 các tổng giải thể.

Kể từ đó cho đến năm 1975, quận Cái Bè thuộc tỉnh Định Tường do chính quyền Việt Nam Cộng hòa sắp xếp hành chính có 11 xã trực thuộc quận gồm: Đông Hòa Hiệp, Hậu Mỹ, Hậu Thành, Hiệp Đức, Hòa Khánh, Hội Cư, Hội Sơn, Mỹ Thành, Mỹ Thiện, Phú An, Xuân Sơn. Quận lỵ đặt tại xã Đông Hòa Hiệp.

Quận Giáo Đức của chính quyền Việt Nam Cộng hòa có 10 xã trực thuộc: An Hữu, Hưng Thuận, Thanh Hưng, An Thái Trung, Hòa Lộc, An Thái Đông, Mỹ Đức Đông, Mỹ Đức Tây, Mỹ Lợi, Mỹ Lương. Quận lỵ đặt tại xã An Hữu.

Ngày 12 tháng 7 năm 1974, chính quyền Việt Nam Cộng hòa lập quận mới có tên là quận Hậu Mỹ thuộc tỉnh Định Tường, quận lỵ tại xã Hậu Mỹ, do tách một phần đất của các quận Cái Bè (các xã Hậu Mỹ, Mỹ Thiện, Mỹ Thành), quận Giáo Đức (xã Mỹ Đức Tây), quận Cai Lậy (xã Thạnh Phú) cùng thuộc tỉnh Định Tường, quận Kiến Bình (tỉnh Kiến Tường) và của quận Mỹ An (tỉnh Kiến Phong). Các đơn vị hành chính của quận Hậu Mỹ chưa sắp xếp xong thì chính quyền Việt Nam Cộng hòa sụp đổ vào ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Chính quyền Cách mạng[sửa | sửa mã nguồn]

Về phía chính quyền Cách mạng, địa giới hành chính của huyện Cái Bè thuộc tỉnh Mỹ Tho trong giai đoạn 1956-1975 vẫn được duy trì ổn định, không thay đổi như trước năm 1956. Trong đó các xã Hội Sơn, Mỹ Thành, Phú An, Xuân Sơn, Hiệp Đức vẫn do huyện Cai Lậy quản lý. Đổi lại huyện Cái Bè quản lý thêm các xã An Hữu, Hưng Thuận, Thanh Hưng, An Thái Trung, Hòa Lộc, An Thái Đông, Mỹ Đức Đông, Mỹ Đức Tây, Mỹ Lợi, Mỹ Lương vốn thuộc quận Giáo Đức do chính quyền Việt Nam Cộng hòa lập nên.

Bên cạnh đó, chính quyền Cách mạng cũng chia xã Hậu Mỹ thành hai xã là xã Hậu Mỹ Bắc và xã Hậu Mỹ Nam; hợp nhất xã Hòa Lộc và xã Hưng Thuận thành xã Hòa Hưng; tách đất xã Mỹ Đức Tây để thành lập thêm xã Mỹ Trung cùng thuộc huyện Cái Bè.

Sau ngày 30 tháng 04 năm 1975, chính quyền quân quản Cộng hòa miền Nam Việt Nam ban đầu vẫn đặt huyện Cái Bè thuộc tỉnh Mỹ Tho như trước cho đến đầu năm 1976. Huyện lỵ là thị trấn Cái Bè, được thành lập do tách đất từ xã Đông Hòa Hiệp.

Từ năm 1976 đến nay[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 3 năm 1976, Cái Bè là huyện của tỉnh Tiền Giang cho đến ngày nay, với huyện lỵ là thị trấn Cái Bè.

Ngày 12 tháng 4 năm 1979, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 152-CP[6] về việc chia một số xã thuộc huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang như sau:

  • Chia xã Hậu Mỹ Nam thành hai xã lấy tên là xã Hậu Mỹ Phú và xã Hậu Mỹ Trinh.
  • Chia xã Hậu Mỹ Bắc thành hai xã lấy tên là xã Hậu Mỹ Bắc A và Hậu Mỹ Bắc B.
  • Chia xã Mỹ Thiện thành hai xã lấy tên là xã Thiện Tri và xã Thiện Trung.
  • Chia xã Thanh Hưng thành hai xã lấy tên là xã Tân Thạnh và xã Tân Hưng.
  • Chia xã Mỹ Lợi thành hai xã lấy tên là xã Mỹ Lợi A và xã Mỹ Lợi B.

Ngày 23 tháng 11 năm 1990, theo quyết định số 521/TCCP của Ban Tổ chức-Cán bộ của Chính phủ, xã Mỹ Tân thuộc huyện Cái Bè được thành lập trên cơ sở tách diện tích và nhân khẩu của xã Mỹ Trung, Mỹ Lợi B, Mỹ Đức Tây và nông trường Ngô Văn Nhạc.

Ngày 09 tháng 12 năm 2003, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 154/2003/NĐ-CP[7] về việc thành lập phường, xã thuộc thành phố Mỹ Tho, thị xã Gò Công và huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang. Theo đó, chia xã Hội Cư thuộc huyện Cái Bè thành xã An Cư và xã Mỹ Hội.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách các đơn vị hành chính trực thuộc huyện Cái Bè.
Tên Diện tích, km² Dân số
Thị Trấn
Thị trấn Cái Bè 4.14 14.794
Toàn huyện có 24 Xã:
Hòa Hưng 16,02 14.572
An Hữu 13,92 16.981
Tân Thanh 12,98 9.741
An Thái Trung 19,56 13.962
Mỹ Lương 14,06 11.948
Tân Hưng 14,75 11.987
An Thái Đông 7,34 8.812
Đông Hòa Hiệp 13,05 13.500
Mỹ Đức Tây 19,86 14.307
Thiện Trí 13,29 9.450
Hòa Khánh 23,96 18.007
Tên Diện tích, km² Dân số
Mỹ Lợi A 17,64 9.644
Hậu Thành 11,76 13.444
An Cư 11,43 13.733
Mỹ Hội 13,77 7.442
Thiện Trung 20,15 8.481
Mỹ Lợi B 18,84 6.617
Mỹ Tân 17,69 4.438
Hậu Mỹ Phú 11,08 7.290
Hậu Mỹ Trinh 31,53 9.634
Mỹ Trung 24,75 7.845
Hậu Mỹ Bắc A 27,38 13.225
Hậu Mỹ Bắc B 19,73 8.833
Mỹ Đức Đông, 12,62 9.102
Thị trấn Cái Bè

Thị trấn Cái Bè, Tiền Giang.jpg


Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Kinh tế chủ yếu của huyện là nông nghiệp với nghề chính là trồng lúa và cây ăn trái. Trong hai vụ sản xuất đông xuân và hè thu năm 2009[8], huyện Cái Bè đạt sản lượng lương thực gần 218.000 tấn lúa, bình quân năng suất đạt 59,6 tạ/ha. Vụ hè thu năm 2010, nông dân huyện Cái Bè đã lên liếp hơn 600 ha đất ruộng để trồng màu, chủ yếu là dưa hấu, dưa leo, khổ qua...

Cái Bè là huyện xếp hàng đầu về tiềm lực kinh tế vườn của tỉnh Tiền Giang. Năm 2006, huyện Cái Bè có 16.522 ha vườn cây ăn trái, tăng hơn 1.000 ha so với năm 2005[9], trong đó có 79% vườn chuyên canh các loại cây ăn trái có giá trị kinh tế cao.

Ngành công nghiệp của huyện cũng có những tín hiệu khả quan. Năm 2004, huyện đã triển khai xây dựng cụm công nghiệp An Thạnh để tập trung các nhà máy về một nơi sản xuất với quy mô lớn. Trong 6 tháng đầu năm 2009, giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp của huyện đạt hơn 126 tỷ đồng[9].

Ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]


Các đơn vị hành chính cấp huyện của tỉnh Tiền Giang-Việt Nam
Thành phố (1): Thành phố Mỹ Tho
Thị xã (2): Gò Công | Cai Lậy
Huyện (8): Cái Bè | Cai Lậy | Châu Thành | Chợ Gạo | Gò Công Đông | Gò Công Tây | Tân Phước | Tân Phú Đông