Nguyễn Phúc Tần

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hiền Vương
Hiền Vương (chi tiết...)
Chúa Nguyễn
Trị vì 1648 - 1687
Tiền nhiệm Nguyễn Phúc Lan
Kế nhiệm Nguyễn Phúc Trăn
Thông tin chung
Thê thiếp Châu Thị Viên
Tống Thị Đôi
Hậu duệ
Tên húy Nguyễn Phúc Tần
Tước vị
Thụy hiệu Tuyên Uy Kiến Vũ Anh Minh Trang Thánh Đức Thần Công Hiếu Triết hoàng đế
Ngắn: Hiếu Triết hoàng đế
Miếu hiệu Thái Tông
Gia tộc Họ Nguyễn
Thân phụ Nguyễn Phúc Lan
Thân mẫu Đoàn Thị Ngọc
Sinh 1620
Mất 1687

Hiền vương Nguyễn Phúc Tần (chữ Hán: 賢王 阮福瀕, 1620 - 1687) là vị chúa Nguyễn thứ 4 trong lịch sử Việt Nam, ở ngôi từ năm 1648 đến 1687. Ông là người gốc Gia Miêu, huyện Tống Sơn, Thanh Hoá, Việt Nam.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyễn Phúc Tần là con thứ của Thượng vương Nguyễn Phúc Lan (1635 - 1648) và Vương phi Đoàn Thị Ngọc, con gái thứ ba của Thạch quận công Đoàn Công Nhạc, người huyện Diên Phúc, tỉnh Quảng Nam. Bà là người minh mẫn, thông sáng. Năm 15, khi Nguyễn Phúc Lan cùng cha đi chơi Quảng Nam thì gặp bà đi hái dâu ở bãi sông, nhìn trăng mà hát. Thế tử Phúc Lan đem lòng yêu mến và đưa bà vào hầu mình.

Tướng chống Trịnh[sửa | sửa mã nguồn]

Lúc đầu, Nguyễn Phúc Tần được phong làm Thái phó Dũng Lễ Hầu. Ông là một võ tướng có tài. Năm Quý Mùi (1643) ông đốc suất các chiến thuyền vây đánh 3 chiếc tàu của quân Hà Lan tại cảng Eo làm 1 tàu chìm, hai chiếc kia bỏ chạy và một chiếc bị va vào đá ngầm chìm. Chúa Nguyễn Phúc Lan rất vui mừng và khen:

Trước kia tiên quân ta từng đánh phá giặc biển, nay con ta cũng lại như thế, ta không lo gì nữa.

Năm Mậu Tý (1648) quân Trịnh xâm lấn, Nguyễn Phúc Tần được phong làm Tiết chế chủ quân. Ông cho Nguyễn Hữu Tấn đem hơn 100 thớt voi, ban đêm xông đánh úp dinh địch. Quân Trịnh sợ hãi, bỏ chạy toán loạn. Quân của Nguyễn Phúc Tần đuổi tới sông Gianh rồi mới rút về

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Mậu Tý (1648), khi Nguyễn Phúc Lan đột ngột qua đời, Nguyễn Phúc Tần mời chú là Nguyễn Phúc Trung lên gánh vác việc nước, xong ông này từ chối. Nguyễn Phúc Tần lên ngôi ở tuổi 29, thường được gọi là Hiền vương. Quần thần tôn ông làm “Tiết chế Thuỷ bộ Chư dinh kiêm Tổng Nội ngoại Bình chương Quân quốc Trọng sự Thái bảo Dũng Quận công”.

Chiến tranh với chúa Trịnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chúa rất trọng dụng hai tướng giỏi là Nguyễn Hữu DậtNguyễn Hữu Tiến, nhờ vậy quân Nguyễn nhiều lần vượt qua được sông Gianh tiến ra Đàng Ngoài. Năm 1656, sau hai năm tiến quân ra Bắc, quân Nguyễn đã chiếm được 7 huyện của Nghệ An. Sau đợt tấn công đó, quân Nguyễn còn chiếm đóng đất Nghệ An 5 năm. Sau đó bên Trịnh vốn có ưu thế hơn về quân đông tướng nhiều, các tướng Nguyễn dù giỏi nhưng quân Nguyễn đánh xa nhà lâu ngày không đủ lực lượng tiếp ứng, không thể chống đỡ hết lớp này tới lớp khác viện binh của quân Trịnh. Thêm vào đó, Nguyễn Phúc Tần lại tin yêu Nguyễn Hữu Dật hơn Nguyễn Hữu Tiến nên các tướng sinh ra ganh ghét bất hoà. Năm 1660, quân Nguyễn cuối cùng bại trận, bị đẩy lùi khỏi Nghệ An và Bắc Bố Chính, rút về bờ nam sông Gianh. Từ đó, Trịnh - Nguyễn cầm cự nhau trong nhiều năm và tới năm 1672 thì đình chiến.

Những năm sau đó, tướng Nguyễn Hữu Tiến mất năm 1666, tướng Nguyễn Hữu Dật mất năm 1681 đã làm phía chúa Nguyễn bị tổn thất lớn và nhân dân Đàng Trong cũng rất thương tiếc.

Đối nội[sửa | sửa mã nguồn]

Hiền vương là người chăm lo chính sự, xa rời nữ sắc, biết trọng nhân tài.

Có người con gái quê Nghệ An rất xinh đẹp tên là Thị Thừa được lấy vào cung phục vụ chúa. Nguyễn Phúc Tần, nhân đọc sách Quốc ngữ, tới chuyện vua Ngô Phù Sai mất nước vì nàng Tây Thi liền tỉnh ngộ sai Thị Thừa mang ngự bào cho chưởng dinh Nguyễn Phúc Kiều, giấu thư trong dải áo ngầm sai Kiều bỏ độc giết Thị Thừa để trừ hậu họa.

Năm Kỉ Mùi (1679), chúa Nguyễn cho phép Dương Ngạn Địch, một tướng cũ của triều Minh cùng với Trần Thượng Xuyên đem gia thuộc 3000 người và 50 chiến thuyền vào khai phá vùng Gia Định, Mỹ Tho, lập nên các phố xá đông đúc ở vùng đất mới, giao lưu thương mại với thuyền buôn của nhà Mãn Thanh, Tây phương, Nhật Bản.

Chúa Hiền là một vị chúa có tài, đức độ, vì thế trong thời gian ông này trị vì, nhiều vùng đất mới được mở mang, các kênh Trung Đan, Mai Xá được khơi đào, bờ cõi vô sự, thóc lùa được mùa, bớt lao dịch thuế má, nhân dân ngợi khen là thời thái bình.

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 19 tháng 3 năm Đinh mão (30 tháng 4, 1687), Hiền vương Nguyễn Phúc Tần không được khỏe, cho triệu con thứ là Hoàng Ân Hầu Nguyễn Phúc Trăn đến bảo rằng:

Ta bình sinh ra vào gian hiểm giữ nhà, giữ nước. Con nối ngôi phải sửa thêm nhân chính cho yên bờ cõi. Các quan văn võ đều do ta cất dùng để mưu mọi bề, đừng để bọn tiểu nhân len vào.

Sau đó, Nguyễn Phúc Tần triệu các quan đại thần tới và bảo rằng:

Ta với các khanh một chí hướng với nhau mà công việc mưa đồ chưa trọn. Nay con ta tuổi còn nhỏ, mong nhờ các khanh giúp đỡ cho công việc của tổ tông rõ ràng. Đừng quên lời ấy.

Nói rồi, ông qua đời, thọ 68 tuổi. Nhà Nguyễn sau truy tôn ông là Thái Tông Hiếu Triết hoàng đế.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Vợ:
    • Châu Thị Viên (1625 - 1684), bà vào hầu Hiền vương trong thời kỳ tiểm để, được phong làn Chánh phu nhân. Khi mất, được phong tặng là Tán Quốc Chinh Phu Nhân, táng ở làng An Ninh (Hương Thủy, Thừa Thiên). Vua Gia Long truy tôn : Từ Mẫn Chiêu Thánh Cung Tĩnh Trang Thận Hiếu Triết Hoàng Hậu. Tên lăng là Vĩnh Hưng. Bà được phối thờ với Hiền vương ở Thái Miếu, án thứ hai bên tả. Bà sinh được 2 trai và 1 gái: Nguyễn Phúc Diễn (tước Phúc Quốc Công), Nguyễn Phúc Thuần (tức Quốc Uy Công), Nguyễn Phúc Ngọc Tào.
    • Tống Thị Đôi, con ông Thíếu phó Quận công Tốn Phúc Khang, mẹ bà họ Phạm, quê ở huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Bà tính hiền hậu, lúc mới vào cung với thứ bậc là , sau ngày càng được ân sủng được phong làm Thứ phi. Khi mất, táng tại làng Đình Môn (Hương Trà, Thừa Thiên). Vua Gia Long truy tôn : Từ Tiên Huệ Thánh Trinh Thuận Tĩnh Nhân Hiếu Triết Hoàng Hậu, đặt tên lăng là Quang Hưng. Bà được phối thờ với Hiền vương ở Thái Miếu, án thứ hai bên tả. Bà sinh ra Chúa Nghĩa Nguyễn Phúc Thái và Cương Quận Công Nguyễn Phúc Trân.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]


Tiền nhiệm:
Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan
Hiền Vương
1648-1687
Kế nhiệm:
Chúa Nghĩa Nguyễn Phúc Trăn

{{Navbox |name = Chúa Nguyễn |title = Chúa Nguyễn |state = collapsed |titlestyle = background:#F0E68C; |groupstyle = background:#F0E68C; |liststyle = text-align:center;

|list1 = Nguyễn Hoàng  · Nguyễn Phúc Nguyên  · Nguyễn Phúc Lan  · Nguyễn Phúc Tần  · Nguyễn Phúc Thái  · Nguyễn Phúc Chu  · [[Nguyễn Phúc Chú\\\Nguyễn Phúc Thụ  · Nguyễn Phúc Khoát  · Nguyễn Phúc Thuần  ·


Vua Việt Nam  · Hùng Vương · An Dương Vương · Trưng Vương  · Bắc thuộc  · Nhà Tiền Lý  · Tự chủ  · Nhà Ngô  · Nhà Đinh  · Nhà Tiền Lê  · Nhà Lý  · Nhà Trần  · Nhà Hồ  · Nhà Hậu Lê  · Nhà Mạc  · Chúa Trịnh  · Chúa Nguyễn  · Nhà Tây Sơn  · Nhà Nguyễn }}