Nguyễn Phúc Tần

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hiền Vương
Hiền Vương (chi tiết...)
Chúa Nguyễn
Trị vì 1648 - 1687
Tiền nhiệm Nguyễn Phúc Lan
Kế nhiệm Nguyễn Phúc Thái
Thông tin chung
Thê thiếp Châu Thị Viên
Tống Thị Đôi
Hậu duệ
Tên húy Nguyễn Phúc Tần
Tước vị
Thụy hiệu Tuyên Uy Kiến Vũ Anh Minh Trang Thánh Đức Thần Công Hiếu Triết hoàng đế
Ngắn: Hiếu Triết hoàng đế
Miếu hiệu Thái Tông
Gia tộc Họ Nguyễn
Thân phụ Nguyễn Phúc Lan
Thân mẫu Đoàn Thị Ngọc
Sinh 18/07/1620[1]
Mất 30/041687[1]

Hiền vương Nguyễn Phúc Tần (chữ Hán: 賢王 阮福瀕, 1620 - 1687) là vị chúa Nguyễn thứ 4 trong của chính quyền Đàng Trong trong lịch sử Việt Nam (ở ngôi từ năm 1648 đến 1687), nối ngôi Chúa Nguyễn Phúc Lan.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyễn Phúc Tần là con trai thứ hai của Chúa Nguyễn Phúc Lan và Vương phi Đoàn Thị Ngọc (Con gái thứ ba của Thạch quận công Đoàn Công Nhạc, người huyện Diên Phúc, tỉnh Quảng Nam).

Tướng chống Trịnh[sửa | sửa mã nguồn]

Lúc đầu, Nguyễn Phúc Tần được phong làm Thái phó Dũng Lễ Hầu. Ông là một võ tướng có tài.

Tháng 6 năm 1643, theo đề nghị của chúa Trịnh, ba tàu chiến của Công ty Đông Ấn Hà Lan là Wojdenes (De Wijdeness), Waterhond và Vos tiến vào cửa Thuận An đánh chúa Nguyễn. Ngày 7/7/1643, Thế tử Nguyễn Phúc Tần đốc suất 50 chiến thuyền đột kích bất ngờ vào đội thuyền của Công ty Đông Ấn Hà Lan. Tàu đô đốc Wijdenes, là chiếc nặng nhất và chậm nhất trong số 3 tàu đó, bị bốn thuyền chèo tay đuổi kịp, đánh gãy mất bánh lái, đánh đổ cột buồm và bám vào hai bên mạn tàu; viên thuyền trưởng Pieter Baek không hy vọng chạy thoát được nữa, cho châm lửa vào kho thuốc súng và tự đốt cháy tàu, Pieter Baek và nhiều thủy thủ đã bị chết. Hai chiếc tàu kia, theo lời của Jean Gobyn, phải rất chật vật mới tìm được một chỗ trú ở đảo Ngọc (Ile de Perles)[2][3][4].

Chúa Nguyễn Phúc Lan rất vui mừng và khen:

Trước kia tiên quân ta từng đánh phá giặc biển, nay con ta cũng lại như thế, ta không lo gì nữa.

Tháng 2 âm lịch năm 1648, Trịnh Tráng sai Tiến Quận Công Lê Văn Hiểu khởi binh nam tiến lần thứ tư, dẫn bộ binh tiến lên đóng ở đất Nam Bố Chính, còn thủy quân đánh cửa Nhật Lệ. Nguyễn Phúc Tần được phong làm Tiết chế chủ quân và cùng vua cha ra Quảng Bình tiếp ứng, chia thủy quân phục sẵn ở sông Cẩm La, sai Nguyễn Hữu Tiến mang 100 con voi đánh úp quân Trịnh lúc nửa đêm, quân bộ tiếp sau vào đánh phá. Quân Trịnh thua lớn, bị thủy quân Nguyễn chặn đánh chạy đến tận sông Lam mới thôi.

Tháng 3 năm 1648, Thế tử Nguyễn Phúc Tần định cho quân vượt sông Gianh đánh ra Bắc Bố Chính thì nghe tin Chúa Thượng ngã bệnh chết trên thuyền trên đường về Thuận Hóa nên phải lui binh.

Điều hành Đàng Trong[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Mậu Tý (1648), khi Nguyễn Phúc Lan đột ngột qua đời, Nguyễn Phúc Tần mời chú là Nguyễn Phúc Trung lên gánh vác việc nước, xong ông này từ chối. Nguyễn Phúc Tần lên ngôi ở tuổi 29, thường được gọi là Hiền vương. Quần thần tôn ông làm "Tiết chế Thuỷ bộ Chư dinh kiêm Tổng Nội ngoại Bình chương Quân quốc Trọng sự Thái bảo Dũng Quận công".

Quân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Lực lượng thủy binh nước ta thời Chúa Nguyễn Phúc Tần có tới 22740 quân[5], bao gồm:

  • Cơ Trung hầu 10 thuyền, 300 người.
  • Nội bộ 60 đội thuyền, hơn 3.280 người.
  • 2 cơ Tả trung và Hữu trung, mỗi cơ 14 thuyền, đều hơn 700 người.
  • Nội thủy 58 thuyền, 6.410 người.
  • Cơ Tả trung kiên 12 thuyền, 600 người.
  • Cơ Hữu trung kiên 10 thuyền, 500 người.
  • 2 cơ Tả trung bộ và Hữu trung bộ, mỗi cơ 10 thuyền, đều 450 người.
  • Cơ Tiền trung bộ 12 đội, mỗi đội 5 thuyền, cộng 2700 người.
  • 4 cơ Tả dực, Hữu dực, Tiền dực, Hậu dực, mỗi cơ 5 thuyền, cộng hơn 1100 người.
  • 4 đội Tiền thủy, Hậu thủy, Tả thủy, Hữu thủy, mỗi đội 5 thuyền, đều hơn 500 người.
  • 8 cơ Tả nội bộ, Hữu nội bộ, Tiền nội bộ, Hậu nội bộ, Tả súng, Hữu súng, Tiền súng, Hậu súng, mỗi cơ 6 thuyền, cộng 2100 người.
  • Dinh tả bộ 10 thuyền, cộng hơn 450 người.
  • 4 đội Tiền bính, Hậu bính, Tả bính, Hữu bính, mỗi đội 4 thuyền, đều hơn 200 người.
  • Cơ Tả thủy 5 thuyền, hơn 200 người.

Thi cử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1674, Chúa Nguyễn mở khoa thi gọi là thi chính đồ và thi hoa văn. Thi chính đồ chia ra làm ba kỳ: Kỳ đệ nhất thi tứ lục, kỳ đệ nhị thi thơ phú, kỳ đệ tam thi văn sách. Thi hoa văn thì cũng phải ba ngày, mỗi ngày chỉ phải làm có một bài thơ mà thôi. Ai đậu thì được bổ vào làm việc ở Tam ti.

Quan tri phủ tri huyện làm sơ khảo, quan cai bạ, ký lục, vệ úy làm giám khảo. Những quyển đậu, thì chia ra làm ba hạng: Hạng thứ nhất gọi là giám sinh, được bổ ra làm tri phủ, tri huyện; hạng thứ nhì gọi là sinh đồ được bổ làm huấn đạo; hạng thứ ba cũng gọi là sinh đồ được bổ làm lễ sinh, hoặc làm nhiêu học.

Vụ Thị Thừa[sửa | sửa mã nguồn]

Có người con gái là con hát, quê Nghệ An nhan sắc xinh đẹp tên là Thị Thừa được lấy vào cung phục vụ chúa. Chúa Hiền Phúc Tần, nhân đọc sách Quốc ngữ, đọc tới chuyện vua Ngô Phù Sai mất nước vì nàng Tây Thi liền tỉnh ngộ (việc mình yêu Thị Thừa là sai), lập tức sai Thị Thừa mang ngự bào cho chưởng dinh Nguyễn Phúc Kiều, giấu bức thư trong dải áo, ngầm sai Kiều dìm nước để giết Thị Thừa đi[6][7].

Chiến tranh với quân Trịnh[sửa | sửa mã nguồn]

Đại chiến lần thứ năm 1655 – 1660: Giằng co ở Nghệ An[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc chiến lần thứ năm là cuộc chiến dài nhất, lớn nhất trong cuộc xung đột Trịnh-Nguyễn và là lần duy nhất quân Nguyễn chủ động đánh ra Bắc.

Quân Nguyễn chiếm 7 huyện Nghệ An[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 4 năm 1655, Chúa Hiền sai Thuận Nghĩa Hầu Nguyễn Hữu Tiến, Chiêu Vũ Hầu Nguyễn Hữu Dật mang quân vượt sông Gianh đánh Bắc Bố Chính. Tướng Trịnh là Phạm Tất Toàn đầu hàng. Tiến và Dật thừa thắng tiến lên đánh Hoành Sơn, thua chạy, rồi thừa thắng đánh luôn Hà Trung. Lê Văn Hiểu chống không nổi, cùng Đức lui về giữ An Trường (thành Nghệ An bây giờ).

Chúa Trịnh Tráng thấy các tướng thua luôn liền triệu các tướng cũ về, Lê Văn Hiểu bị thương, nửa đường chết, còn Đức bị giáng chức.

Chúa Trịnh sai Trịnh Trượng làm Thống Lĩnh mang quân giành lại đất Nghệ An. Quân Trịnh tiến quân bộ vào huyện Kỳ Hoa, chia quân thủy tiến đến cửa Kỳ La. Nguyễn Hữu Tiến rút về nam sông Gianh. Trịnh Trượng thấy địch vô cớ rút, biết có mưu nhử nên không đuổi, đóng lại Lạc Xuyên, chia 500 quân ra giữ đồn Hà Trung.

Nguyễn Hữu Tiến thấy quân họ Trịnh không đuổi, bèn đem quân đến đánh quân Trịnh ở Lạc Xuyên; còn Nguyễn Hữu Dật thì đem thủy binh ra đánh cửa Kỳ La, đuổi chiến thuyền của họ Trịnh về cửa Châu Nhai.

Quân Trịnh hai cánh đều thua, quân thủy bỏ Kỳ La về Châu Nhai, quân bộ bỏ Lạc Xuyên về giữ An Trường.

Thế là 7 huyện Nghệ An ở phía nam sông LamKỳ Hoa, Thạch Hà, Thiên Lộc, Nghi Xuân, La Sơn, Hương Sơn, Thanh Chương về tay chúa Nguyễn.

Trịnh Toàn cầm quân[sửa | sửa mã nguồn]

Tin thất trận đến Thăng Long, Chúa Trịnh Tráng giáng Trịnh Trượng xuống làm đô đốc, sai con là Trịnh Tạc vào Nghệ An làm Thống lĩnh để chống giữ. Hữu Tiến thấy viện binh Trịnh bèn lui về giữ Hà Trung. Gặp lúc họ Mạc phía bắc quấy rối, Trịnh Tạc phải rút về bắc, để Đào Quang Nhiêu ở lại đóng ở An Trường (thành Nghệ An bây giờ), Vũ Văn Thiêm lãnh thủy quân đóng ở Khu Độc (thuộc huyện Nghi Xuân); Thân Văn QuangMẫn Văn Liên đóng ở làng Tiếp Vũ (thuộc huyện Thiên Lộc).

Năm 1656, Hữu Tiến đánh đồn Tiếp Vũ, Quang và Liên bỏ chạy. Hữu Tiến đem quân đến đóng ở sông Tam Chế. Còn Hữu Dật tiến binh đến núi Hồng Lĩnh, gặp quân họ Trịnh đánh đuổi đến đất Mẫn Tường, rồi lại gặp thủy binh của Vũ Văn Thiêm, đánh phá một trận, Văn Thiêm thua chạy. Quân họ Nguyễn thừa thắng tiến lên đến làng Minh Lương và lành Bình Lạng gặp quân của Đào Quang Nhiêu, hai bên đánh nhau một trận rất dữ. Đào Quang Nhiêu thua chạy về An Tràng, dâng biểu tạ tội với chúa Trịnh và xin viện binh.

Trịnh Tráng bèn cử con út là Trịnh Toàn vào cứu viện. Toàn đốc quân tiến đến Thạch Hà, sai Đào Quang Nhiêu và Dương Hồ tiến lên đóng ở làng Đại Nạilàng Hương Bộc; Văn Thiêm đem thủy quân tiến lên cửa Châu Nhai (cửa khẩu sông Lam); Lê Sĩ Hậu, Bùi Sĩ Lương đem thủy quân đến đóng ở Nam Giới.

Nguyễn Hữu Tiến thấy quân họ Trịnh cử động như vậy, bèn sai bọn Dương Trí, Tống Phúc Khang cùng với Nguyễn Hữu Dật đem thủy bộ quân đến đánh quân Trịnh ở Nam giới, lấy được hơn 30 chiếc thuyền, rồi tràn xuống sông Lam Giang đánh Vũ Văn Thiêm ở Châu Nhai, Vũ Văn Thiêm phải bỏ thuyền mà chạy.

Dật sang bờ sông Lam hợp binh với Kiều kéo đến Đại Nại. Trịnh Toàn thấy các đạo thủy binh của mình đã thua, bèn rút về đóng ở bến Hoạt, bỗng nghe tin toán quân của Đào Quang Nhiêu bị quân bộ của Hữu Tiến vây ở Hương bộc, lập tức đem quân đến cứu, hai bên đánh nhau ở làng Đại Nại, giết chết được Cửa Kiều, quân Nguyễn thua to.

Quân Nguyễn chạy về Hà Trung. Toàn và Nhiêu đem quân đuổi đến Tam Lộng lại bị Tiến và Dật đánh bại, phải rút về An Tràng.

Sách Việt Nam sử lược mô tả trận này hai bên có thắng có thua, sách Đại Việt Sử ký Toàn thư của Lê - Trịnh mô tả trận này quân Trịnh thắng lớn, ngược lại sách Đại Nam thực lục tiền biên của nhà Nguyễn soạn sau này lại mô tả trận này quân Nguyễn thắng. Các nhà nghiên cứu thống nhất với Việt Nam sử lược rằng hai bên có thắng có thua: sau trận thắng đầu quân Trịnh bị thua, nếu không đang đà thắng lợi phải tiến lên chứ không thể lui về giữ An Tràng.

Trịnh Tráng bệnh nặng, thế tử Trịnh Tạc cầm quyền điều hành. Thấy Trịnh Toàn rất có uy tín với quân sĩ, Trịnh Tạc lo lắng. Tạc sai con là Trịnh Căn mang quân vào Nghệ An, tiếng là tăng viện nhưng để kìm chế Trịnh Toàn. Tháng 4 năm 1657, Trịnh Tráng chết, Tây Định vương Trịnh Tạc lên thay. Biết anh em chúa Trịnh bất hòa, chúa Nguyễn sai người đến dụ nhưng Toàn cự tuyệt. Chúa Trịnh cử Trịnh Căn thay Toàn làm Thống lĩnh, triệu Toàn về kinh. Thủ hạ của Toàn một số người sang với Trịnh Căn, một số hàng Nguyễn. Toàn về kinh, chúa Trịnh lấy cớ trách Toàn không chịu tang cha rồi giam vào ngục và giết đi.

Trịnh Căn lãnh binh[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 6 năm 1657, Trịnh Căn chia quân sai Hoàng Thể Giao, Lê Thì Hiến và Trịnh Thế Công vượt sông Lam đánh tướng Nguyễn là Tống Hữu Đại ở huyện Thanh Chương. Do có người tiết lộ, Hữu Tiến biết trước phòng bị nên quân Trịnh bị thua rút về bờ bắc sông Lam.

Hai bên tạm hưu chiến cầm cự ở sông Lam, chỉ giao tranh những trận nhỏ. Tháng 6 năm 1658, tù trưởng Lang Công Chấn ở Quỳnh Lưu theo Nguyễn, mang quân đánh Trịnh, bị quân Trịnh đánh bại bắt được giải về Thăng Long. Tháng 7, quân Nguyễn vượt sông Lam thắng được Nguyễn Hữu Tá ở huyện Hưng Nguyên nhưng bị Lê Thì Hiến đánh bại phải rút về. Tháng 12, quân Trịnh đánh huyện Hương Sơn, thắng quân Nguyễn. Tháng 8 năm 1660, quân Trịnh lại đánh Nghi Xuân bị bại trận.

Chiến tranh hậu phương[sửa | sửa mã nguồn]

Trong khi tại mặt trận các trận đánh lẻ tẻ diễn ra lẻ tẻ thì phía trong mỗi bên đều lo củng cố hậu phương. Hữu Dật nhân lúc ngưng chiến tung gián điệp ra bắc dụ Phạm Hữu Lễ trấn thủ Sơn Tây, Văn Dũ trấn thủ Hải Dương làm phản Trịnh, lại hẹn họ Vũ ở Tuyên Quang và họ Mạc ở Cao Bằng[8] cùng nổi dậy. Tuy nhiên do lực lượng các cánh này đều yếu, nhất là hai cánh Vũ, Mạc đều có ý đồ riêng. Tất cả có ý chờ quân Nguyễn vượt sông Lam, Bắc tiến thật gấp mới ra mặt. Trong khi đó, quân Nguyễn cũng không hùng hậu, đi đánh xa lâu ngày đã mệt, cũng có ý chờ miền Bắc có biến mới dám đánh lớn. Hai bên dùng dằng chờ nhau. Chúa Trịnh biết Hữu Lễ thông đồng với Nguyễn bèn dụ và giết chết. Ngoài biên cương, Trịnh Căn cũng cầm quân rất nghiêm, xử tử tướng Hoàng Nghĩa Chấn vì đố kỵ không tiếp ứng cho Đào Quang Nhiêu, sau đó lại giết Nguyễn Đức Dương vì bán trộm lương cho quân Nguyễn. Bên kia, Hữu Dật cũng giết hàng tướng Phạm Tất Toàn vì có ý về Bắc.

Các tướng Nguyễn nảy sinh mâu thuẫn. Hữu Tiến và thuộc tướng ghét Hữu Dật vì Dật được chúa Nguyễn tin yêu hơn. Trịnh Căn nhân đó sai người mang vàng đến dụ nhưng Dật không nghe, báo hết cho chúa Nguyễn biết.

Trịnh Căn thu hồi đất cũ[sửa | sửa mã nguồn]

Đến tháng sáu năm 1657, Trịnh Căn chia quân làm 3 đạo, sai Lê Hiến làm tướng trung quân, sai Hoàng Nghĩa Giao làm tướng tả quân, sai Trịnh Thế Công làm tướng hữu quân, sang sông Lam Giang rồi tiến lên đánh tướng nhà Nguyễn là Tống Hữu Đại ở làng Nam Hoa (thuộc huyện Thanh Chương). Nhưng vì có người báo trước, Nguyễn Hữu Tiến đã phòng bị cả, đến khi quân Trịnh đến, thì mắc kế phải thua, may nhờ có quân Trịnh Căn tiếp ứng, cho nên mới rút về được.

Từ đó quân hai bên cứ giữ nhau ở sông Gianh, thỉnh thoảng đánh nhau một trận, như tháng 12 năm 1658, đánh ở làng Tuần Lễ (huyện Hương Sơn), quân họ Nguyễn phải lùi; đến tháng 8 năm 1660 đánh ở Nghi Xuân, quân họ Trịnh thua bỏ thuyền mà chạy; qua tháng 9 năm ấy đang khi quân họ Nguyễn còn đóng ở làng Hoa Viên (tức là làng Xuân Viên bây giờ), Trịnh Căn định sang lấy núi Lận Sơn để giữ trận thế, bèn sai Hoàng Nghĩa Giao và Phan Kiêm Toàn đem binh sang sông Gianh ở làng Âm Công, và sai Lê Hiến (Lê Thì Hiến) đi xuống phía Hội Thống rồi sang sông, chờ đến nửa đem thì hai đạo cùng tiến cả. Cánh quân của Giao đến Lận Sơn bị Nguyễn Hữu Dật vây ngặt, mấy thuộc tướng tử trận. Trịnh Căn đứng thị chiến trên núi Quyết Dũng thấy vậy liền mang quân bộ đến cứu Giao, lại điều quân thủy tiến lên áp sát quân Nguyễn mà bắn, đánh tan Dật, Dật thua chạy về Khu Độc. Cánh quân của Thì Hiến và Mẫn Văn Liên đụng độ Nguyễn Hữu Tiến ở Tả Ao, tuy Liên bị tử trận nhưng quân Trịnh phá được lũy, đánh bại được Hữu Tiến. Tiến phải rút về Nghi Xuân.

Lúc ấy đại quân của Nguyễn Hữu Tiến đóng ở Nghi Xuân, còn Nguyễn Hữu Dật thì đóng ở Khu Đốc. Chúa Phúc Tần mang quân tiếp ứng, đóng ở làng Phù Lộ (nay là làng Phù An, Bình Chính, Quảng Bình). Hữu Dật muốn khoe công với chúa bèn lẻn về ra mắt Chúa Hiền, thuật chuyện các chiến công vừa lập ngoài mặt trận. Chúa Hiền liền ban cho Dật thanh bảo kiếm bằng vàng và sai quay lại đánh tiếp. Tiến nghe tin đó càng ghét Dật. Nhân lúc quân mới hàng ở Nghệ An bỏ trốn nhiều, tướng sĩ Nguyễn đều ngã lòng, Tiến bèn hẹn chư tướng bàn rút lui, chỉ có Dật không nghe.

Chúa Trịnh tăng viện cho Trịnh Căn. Tháng 11 năm 1660, biết bên Nguyễn các tướng bất hòa, quân lại bỏ trốn, Trịnh Căn sai Lê Thì Hiến và Lê Sĩ Triệt đi men bờ bể đến làng Cương Gián, bọn Hoàng Nghĩa Giao đến làng Lũng Trâu và làng Mãn Trưởng, rồi tiến lên đánh ở làng An Điền và ở làng Phù Lưu, phá tan quân Nguyễn.

Được tin ấy Nguyễn Hữu Tiến quyết ý đem quân về, nhưng bề ngoài giả tảng truyền lệnh cho các tướng rằng đến tối 28 thì các đạo đều phải tiến sang đánh An Tràng, Nguyễn Hữu Dật đem binh đi hậu tiếp. Đoạn rồi, dặn riêng các tướng đến nữa đêm rút quân về Nam Bố Chính, không cho Nguyễn Hữu Dật biết. Nguyễn Hữu Dật sắm sửa đâu vào đấy, chờ mãi không có tin tức gì, đến khi cho người đi thám về nói mới biết quân mình đã rút về Nam rồi. Lúc ấy quân họ Trịnh đã sang sông đến đánh đồn Khu Độc. Hữu Dật mới dùng kế nghi binh để cho quân Trịnh không dám tiến lên, rồi đem binh chạy về, đến Hoành sơn mới gặp quân của Nguyễn Hữu Tiến. Bấy giờ quân Trịnh Căn vừa đuổi đến, hai bên giao tranh ác liệt và cùng chết hại rất lớn.

Hai bên bèn hưu chiến, Trịnh Căn lui về giữ Kỳ Hoa, Hữu Tiến giữ Nhật Lệ, Hữu Dật giữ Đông Cao. Trịnh Căn sai Đào Quang Nhiêu trấn thủ Nghệ An kiêm Bắc Bố Chính, còn mình rút về Thăng Long.

Cuộc chiến thứ sáu 1661-1662[sửa | sửa mã nguồn]

Sau 1 năm nghỉ binh, nhân vừa thắng quân Nguyễn, tháng 10 năm 1661, Trịnh Tạc mang vua Lê Thần Tông cử đại binh vào Nam, cử Trịnh Căn làm thống lĩnh, Đào Quang Nhiêu làm Tổng suất, Lê Hiếu và Hoàng Nghĩa Giao làm Đốc suất, Lê Sĩ Triệt và Trịnh Tế làm Đốc thị, đem binh sang sông Gianh rồi đến đóng ở làng Phúc Tự.

Nguyễn Hữu Dật trấn thủ Nam Bố Chính đóng ở làng Phúc Lộc chia quân đắp lũy thế thủ, quân Trịnh đánh mấy tháng không hạ được. Tháng 3 năm 1662, quân viễn chinh mệt mỏi, lương hết, chúa Trịnh Tạc bèn rút quân về bắc. Hữu Dật đuổi theo đến sông Gianh rồi rút về.

Cuộc chiến thứ bảy 1672[sửa | sửa mã nguồn]

Vua Thần Tông rồi Huyền Tông mất, vua Gia Tông lên ngôi. Sau khi dứt được họ MạcCao Bằng (1667), năm 1672, chúa Trịnh Tạc lại đem mấy vạn quân và rước vua Gia Tông đến đất Bắc Bố Chính để đánh họ Nguyễn, sai Trịnh Căn làm thủy quân Nguyên Soái, Lê Hiến làm bộ quân Thống suất.

Bên Chúa Nguyễn năm 1666 Nguyễn Hữu Tiến qua đời. Chúa Nguyễn cử em là Hiệp làm nguyên soái cùng Nguyễn Hữu Dật và Nguyễn Mỹ Đức ra giữ các nơi hiểm yếu để ngự địch, tự Chúa Hiền đem đại binh ra tiếp ứng.

Quân Trịnh dồn dập đánh lũy Trấn Ninh mấy lần suýt hạ được nhưng Hữu Dật cố sức chống đỡ. Quân Trịnh đánh mãi không thắng phải rút về Bắc Bố Chính, lại tiết tháng chạp trời mưa rét, Trịnh Căn lại bị ốm nên Trịnh Tạc rút đại quân về kinh, cử Lê Hiến ở lại trấn thủ Nghệ An, Lê Sĩ Triệt làm Đô Đốc đóng ở Hà Trung để giữ các nơi yếu lộ.

Từ đó Năm Bắc thôi việc chiến tranh, mãi đến khi Tây Sơn khởi binh, thì họ Trịnh mới nhân dịp vào đánh lấy đất Thuận Hóa.

Đối ngoại[sửa | sửa mã nguồn]

Chăm Pa[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1653, vua nước Chăm Pa là Bà Thấm sang quấy nhiễu ở đất Phú Yên, chúa Hiền liền sai quan cai cơ là Hùng Lộc sang đánh. Bà Thấm phải dâng thư xin hàng. Chúa Nguyễn để từ sông Phan Lang trở vào cho vua Chăm, còn từ sông Phan Lang trở ra lấy làm Thái Ninh phủ, sau đổi làm phủ Diên Khánh (tức là Khánh Hòa bây giờ), đặt dinh Thái Khang để Hùng Lộc làm thái thú.

Chân Lạp[sửa | sửa mã nguồn]

Tình hình Chân Lạp bấy giờ cực kỳ rối ren, chú cháu anh em tranh quyền đoạt vị, tàn sát lẫn nhau. Năm 1658, 2 con còn sống sót của Preah Outey là Ang Sur và Ang Tan dấy binh chống lại vua Chân Lạp Ramathipadi I (Nặc Ông Chân) nhưng thất bại. 2 người này tìm kiếm lời khuyên của Thái hậu Ngọc Vạn, Ang Sur và Ang Tan đã cầu cứu chúa Phúc Tần.

Chúa Phúc Tần liền sai Phó tướng dinh Trấn Biên (Phú Yên) là Nguyễn Phước Yến dẫn 3000 quân đến thành Hưng Phước (bấy giờ là Mỗi Xuy, tức Bà Rịa), phá được thành rồi tiến vào bắt Nặc Ông Chân bỏ vào lồng sắt đem về giam ở Quảng Bình. Năm sau (1659), Nặc Ông Chân đã được phóng thích vì chúa Nguyễn muốn ông ta gây ảnh hưởng lên người kế nhiệm, nhưng ông ta đã chết trên đường trở về vương quốc.

Nhờ sự giúp đỡ của người Việt mà Ang Sur giành được ngôi vua xưng là Barom Reachea V, đổi lại ông thần phục Đàng Trong và thực hiện triều cống định kỳ. Vì sự phụ thuộc quá lớn vào chúa Nguyễn Đàng Trong, dẫn tới hệ quả người Việt tràn đến sinh sống và kiểm soát những vùng đất thuộc Chân Lạp.

Tháng 12 năm 1672, vua Batom Reachea V bị một người vừa là rể, vừa là cháu, là Chey Chetta III (con trai của Ang Non Padumaraja I) giết chết.

Ang Tan (Nặc Ông Tân) (chú của Chey Chetta III) chạy sang cầu cứu chúa Nguyễn. Nhưng ngay sau đó tháng 5 năm 1973, Chey Chetta III cũng bị giết trên giường ngủ bởi người Mã Lai thuộc phe của Nặc Ông Chân Ramathipadi I.

Ang Chea (Nặc Ông Đài), con trai đầu của vua Barom Reachea V lên ngôi sau đó. Năm 1674, Nặc Ông Đài đã đi cầu viện Ayutthaya (Thái Lan) để đánh Nặc ông Nộn. Nặc ông Nộn bỏ chạy sang cầu cứu ở dinh Thái Khang (nay là Khánh Hòa). Đồng thời, Ông Đài cho đắp thành lũy ở địa đầu Mỗi Xuy, nhờ Xiêm cứu viện để chống lại chúa Nguyễn.

Chúa Hiền bèn sai Cai cơ đạo Nha Trang là Nguyễn Dương Lâm cùng với Nguyễn Đình Phái làm tham mưu đem binh chia ra hai đạo sang đánh Nặc ông Đài. Tháng 4 năm 1674, phá được 3 lũy: Sài Côn (đất trấn Phiên An), Gò Vách và rồi tiến quân lên vây thành Nam Vang. Nặc ông Đài phải bỏ thành chạy vào rừng, bị thuộc hạ giết chết. Nặc Ông Thu ra hàng. Nặc ông Thu là chính dòng con trưởng cho nên lại lập làm chính quốc vương đóng ở Long Úc (thành Vũng Luông), để Nặc Ông Nộn làm đệ nhị quốc vương, đóng ở thành Sài Gòn, bắt hằng năm phải triều cống[9].

Lại còn gia phong cho Dương Lâm hầu làm Trấn thủ dinh Thái Khang (Khánh Hòa) lo việc phòng ngự ngoài biên.

Năm 1679, có quan nhà Minh là tổng binh trấn thủ đất Long Môn (Quảng Tây) Dương Ngạn Địch, phó tướng Hoàng Tiến, tổng binh châu Cao, châu Lôi, và châu Liêm (thuộc Quảng Đông) là Trần Thượng Xuyên, phó tướng Trần An Bình, không chịu làm tôi nhà Thanh, đem 3000 quân cùng 50 chiếc thuyền xin được vào Kinh bằng hai cửa Tư Dung và Đà Nẵng (nay là cửa Hàn thuộc Quảng Nam). Dâng sớ xin được làm dân mọn xứ Việt.

Chúa Hiền thấy họ cùng quẫn mà chạy sang, lại tỏ bày lòng trung thực, vả lại xứ Đông Phố (một tên khác của đất Gia Định xưa) của nước Cao Miên, đất đai màu mỡ có đến ngàn dặm, triều đình chưa rỗi để lo liệu, chi bằng tận dụng sức lực của họ, giao cho họ khai hoang đất đai để ở. Nghĩ vậy, triều đình tổ chức khao đãi ân cần, chuẩn y cho giữ nguyên chức hàm, phong cho quan tước rồi lệnh cho tới Nông Nại (Đồng Nai) khai hóa đất đai. Mặt khác, triều đình còn hạ chỉ dụ cho Quốc vương Cao Miên (Thủy Chân Lạp) biết việc ấy để không xảy ra chuyện ngoài ý muốn[9].

Bọn tướng Long Môn họ Dương đem binh thuyền tiến vào cửa Xoài Rạp (nay gọi là Lôi Lạp (Soi Rạp)) và cửa Đại cửa Tiểu (thuộc trấn Định Tường) dừng trú tại xứ Mỹ Tho (là trấn lỵ của Định Tường). Bọn tướng các xứ Cao, Lôi, Liêm họ Trần thì đem binh thuyền tiến vào cửa Cần Giờ rồi đồn trú tại xứ Bàn Lân thuộc Đồng Nai (là lỵ sở trấn Biên Hòa), đất Lộc Đã (tức là đất Đồng Nai thuộc Biên Hòa).

Họ lo mở mang đất đai, lập thành phố chợ, giao thông buôn bán. Tàu thuyền người Hoa, người phương Tây, người Nhật, người Chà Và (người gốc Java), tụ tập tấp nập, phong hóa Trung Quốc dần dần lan ra thấm đượm cả vùng Đông Phố[9].

Các sự kiện khác[sửa | sửa mã nguồn]

  • Năm 1686, có người Pháp tên là Verret được phép mở cửa hàng ở cù lao Côn Lôn.
  • Năm 1644, chúa Hiền ở bắt giết những người đi giảng đạo ở Đà Nẵng.

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 19 tháng 3 năm Đinh mão (30 tháng 4, 1687), Hiền vương Nguyễn Phúc Tần không được khỏe, cho triệu con thứ là Hoàng Ân Hầu Nguyễn Phúc Thái đến bảo rằng:

Ta bình sinh ra vào gian hiểm giữ nhà, giữ nước. Con nối ngôi phải sửa thêm nhân chính cho yên bờ cõi. Các quan văn võ đều do ta cất dùng để mưu mọi bề, đừng để bọn tiểu nhân len vào.

Sau đó, Nguyễn Phúc Tần triệu các quan đại thần tới và bảo rằng:

Ta với các khanh một chí hướng với nhau mà công việc mưa đồ chưa trọn. Nay con ta tuổi còn nhỏ, mong nhờ các khanh giúp đỡ cho công việc của tổ tông rõ ràng. Đừng quên lời ấy.

Nói rồi, ông qua đời, thọ 68 tuổi. Lăng mộ tại làng Hải Cát, Huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên.

Nguyễn Phúc Thái lên kế nghiệp, tức Nghĩa Vương.

Nhà Nguyễn sau này đã truy phong ông miếu hiệu là Thái Tông. Thụy hiệu là Tuyên Uy Kiến Vũ Anh Minh Trang Thánh Đức Thần Công Hiếu Triết hoàng đế.

Gia quyến[sửa | sửa mã nguồn]

Hiền vương Nguyễn Phúc Tần có 6 công từ và 3 công nữ[1].

Vợ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Châu Thị Viên (1625 - 1684), bà vào hầu Hiền vương trong thời kỳ tiểm để, được phong làn Chánh phu nhân. Khi mất, được phong tặng là Tán Quốc Chinh Phu Nhân, táng ở làng An Ninh (Hương Thủy, Thừa Thiên). Vua Gia Long truy tôn: Từ Mẫn Chiêu Thánh Cung Tĩnh Trang Thận Hiếu Triết Hoàng Hậu. Tên lăng là Vĩnh Hưng. Bà được phối thờ với Hiền vương ở Thái Miếu, án thứ hai bên tả. Bà sinh được 2 trai và 1 gái: Nguyễn Phúc Diễn (tước Phúc Quốc Công), Nguyễn Phúc Thuần (tức Quốc Uy Công), Nguyễn Phúc Ngọc Tào.
  • Tống Thị Đôi, con ông Thíếu phó Quận công Tốn Phúc Khang, mẹ bà họ Phạm, quê ở huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Bà tính hiền hậu, lúc mới vào cung với thứ bậc là , sau ngày càng được ân sủng được phong làm Thứ phi. Khi mất, táng tại làng Đình Môn (Hương Trà, Thừa Thiên). Vua Gia Long truy tôn: Từ Tiên Huệ Thánh Trinh Thuận Tĩnh Nhân Hiếu Triết Hoàng Hậu, đặt tên lăng là Quang Hưng. Bà được phối thờ với Hiền vương ở Thái Miếu, án thứ hai bên tả. Bà sinh ra Chúa Nghĩa Nguyễn Phúc Thái và Cương Quận Công Nguyễn Phúc Trân.

Công tử[sửa | sửa mã nguồn]

  • 1. Nguyễn Phúc Diễn
  • 2. Nguyễn Phúc Thái
  • 3. Nguyễn Phúc Trân
  • 4. Nguyễn Phúc Thuần
  • 5. Nguyễn Phúc Niên
  • 6. Nguyễn Phúc Nhiều

Công nữ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nguyễn Phúc Ngọc Tào
  • Khuyết danh
  • Khuyết danh

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Chúa Hiền là một vị chúa có tài, đức độ, vì thế trong thời gian ông này trị vì, nhiều vùng đất mới được mở mang, các kênh Trung Đan, Mai Xá được khơi đào, bờ cõi vô sự, thóc lùa được mùa, bớt lao dịch thuế má, nhân dân ngợi khen là thời thái bình.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]


Tiền nhiệm:
Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan
Hiền Vương
1648-1687
Kế nhiệm:
Chúa Nghĩa Nguyễn Phúc Thái
  1. ^ a ă â Gia tộc Nguyễn Phước 2006
  2. ^ Theo sách Những người châu Âu ở nước An Nam, Charles B. Maybon
  3. ^ Theo sách Đại Nam thực lục
  4. ^ http://www.thanhnien.com.vn/pages/20110804/hai-chien-tu-lich-su-den-hien-dai-tau-to-sung-lon-van-thua.aspx
  5. ^ Đại Nam thực lục tiền biên
  6. ^ Sách Đại Nam thực lục Tiền biên, quyển 4 nói Kiều bị dìm chết)
  7. ^ Sách Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn nói Thị Thừa bị đánh thuốc độc chết
  8. ^ Bà nội Chúa Phúc Tần vốn là con gái Khiêm vương Mạc Kính Điển, khi nhà Mạc thất thế, cùng chú là Mạc Cảnh Huống đi theo họ Nguyễn. Do đó giữa hai họ Mạc và Nguyễn có thân tình
  9. ^ a ă â Gia Định Thành Thông Chí. Quyển 3: Cương vực chí- Trịnh Hoài Đức.