Giáo phận Hưng Hóa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Giáo phận Hưng Hóa
Dioecesis Hunghoaensis
Địa giới Lào Cai, Lai Châu, Ðiện Biên,
Hòa Bình, Phú Thọ, Yên Bái,
Hà Giang, Tuyên Quang,
một phần Hà Nội
Giám mục Giám mục chính tòa.png Gioan Maria Vũ Tất
Giám mục phụ tá Giám mục phụ tá.png Alfonso Nguyễn Hữu Long
Nhà thờ chính tòa Thánh nữ Têrêsa Hài Đồng
Tòa giám mục 70 Lê Lợi, thị xã Sơn Tây,
Hà Nội.
Trực thuộc Giáo tỉnh Hà Nội
Linh mục đoàn 75
Số giáo xứ 94
Số giáo dân 235.000
Website hunghoa.titocovn.com và giaophanhunghoa.org

Giáo phận Hưng Hóa (tiếng Latin: Dioecesis Hunghoaensis) là một giáo phận Công giáo Rôma tại Việt Nam. Giáo phận nằm trên vùng Tây Bắc, Bắc Việt Nam, tương ứng địa bàn 10 tỉnh thành, đó là: Lào Cai, Lai Châu, Ðiện Biên, Hòa Bình, Hà Tây, Phú Thọ, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang và một phần của Hà Nội. Tổng diện tích 54.352 km2 [1]. Đến năm 2013, giáo phận có khoảng 235.000 giáo dân (3,1% dân số), 75 linh mục và 94 giáo xứ[2][3]. Đây là khu vực có nhiều dân tộc sinh sống, bao gồm Kinh (85%), Mèo (H'Mông), Mường, Tày, Nùng, Thái, Dao, Sán Chay, Khờ Mú, Hà Nhì, Lào, La Chí, Phù Lá, Sán Chỉ, và Bố Y...[1].

Giám mục chính tòa cai quản giáo phận này từ năm 2011Gioan Maria Vũ Tất.

Lược sử[sửa | sửa mã nguồn]

Việc truyền giáo ở Bắc Hà được nhấn mạnh với các hoạt động truyền giáo của linh mục Alexandre de Rhodes (Ðắc Lộ) (giai đoạn 1627-1630), sau đó là linh mục Gaspar d'Amaral (giai đoạn 1631-1638). Các nhà truyền giáo dòng Tên về sau đã tiếp nối công cuộc truyền giáo xung quanh thành Thăng Long và đã đạt được nhiều kết quả. Họ bắt đầu tìm hướng lên các vùng thượng đạo.

Vào năm 1647, một giáo sĩ người Ý là Filippo De Marini, thuộc Dòng Tên, đã cùng với một số phụ tá đến Đại Đồng, gần phủ Yên Bình, tỉnh Tuyên Quang để truyền giáo. Tuy nhiên, chưa đến 1 tháng sau, giáo sĩ Marini và các phụ tá của mình phải đi khỏi vùng này vì không chịu nổi sơn lam chướng khí, người nào cũng bị bệnh[4].

Việt truyền giáo tại vùng này tạm dừng một thời gian vì thiếu nhân sự. Năm 1659, Tòa Thánh thành lập hai giáo phận ở Việt Nam, vùng Hưng Hóa (Xứ Ðoài) thuộc Giáo phận Ðàng Ngoài, do Giám mục Francois Pallu coi sóc. Nhiều giáo sĩ dòng Tên khác được cử lên đây để kế tục việc truyền giáo của Marini và đã có những đóng góp nhất định trong hoạt động xã hội, văn hóa, mà đặc biệt là linh mục Gustave Hue (tên Việt: Hương). Ông là tác giả cuốn Tự điển tam ngữ Việt-Hán-Pháp. Lúc đã 67 tuổi, ông bắt đầu học tiếng Mường để phục vụ cho nhu cầu truyền giáo. Ông còn cho in sách song ngữ Việt-Mường để dạy giáo lý, văn hóa, dạy cho trẻ em Mường đọc và viết được tiếng Mường. Điều này đã ảnh hưởng rất lớn cho việc bảo tồn văn hóa Mường sau này[5]. Việc truyền giáo có kết quả tốt đến nỗi năm 1659, một nhà truyền giáo là Bentô Thiện đã gửi thư cho linh mục Marini có viết: "Santei xứ (Sơn Tây xứ) đựac mườiy (được mười) nhà thánh".[6]

Năm 1673, Xứ Ðoài đã là một trong 7 giáo xứ đầu tiên được thành lập ở Ðàng Ngoài. Năm 1679, Tòa Thánh phân chia Giáo phận Ðàng Ngoài thành Ðông và Tây. Từ đó, Xứ Ðoài (Hưng Hóa) đã nhanh chóng trở thành một vùng trung tâm của Giáo phận Tây Đàng Ngoài. Chỉ trong vòng 5 năm, số lượng tín đồ đã tăng từ 2.000 (năm 1707) tăng lên 15.462 (năm 1712).

Năm 1846, Giáo phận Tây Ðàng Ngoài một lần nữa được chia thành giáo phận Nam và Tây. Xứ Ðoài (Hưng Hóa) vẫn thuộc giáo phận Tây. Ngày 15 tháng 4 năm 1895, Giáo hoàng Lêô XIII đã cho tách 3 tỉnh Sơn Tây, Hưng HóaTuyên Quang thuộc giáo phận Tây, để thành lập giáo phận mới lấy tên gọi là Giáo phận Tông tòa Thượng du Bắc Kỳ (Tonkin Supérieur), còn gọi là Giáo phận Ðoài, phong cho Giám mục Paul Raymond Lộc làm Giám mục tiên khởi. Khi thành lập, Giáo phận Ðoài (Hưng Hóa) có 16.950 tín đồ, 24 linh mục (12 thừa sai), 53 tu sĩ, 28 tiểu chủng sinh, 11 giáo xứ, 96 giáo họ [1]. Đến năm 1924, Giáo phận Tông tòa Ðoài được Tòa Thánh đổi tên thành Giáo phận Tông tòa Hưng Hóa.

Ban đầu, tòa Giám mục và nhà thờ chính tòa được đặt ở Phú Thọ. Ngày 2 tháng 5 năm 1950, trường thử (tiểu chủng viện) bị thiêu hủy toàn bộ do chiến tranh, nhà thờ chính tòa Phú Thọ bị lính Pháp chiếm đóng. Vì vậy, ngày 2 tháng 11 năm 1950, tòa Giám mục phải dời về thị xã Sơn Tây cách Hưng Hóa 27 km. Vị trí này tồn tại cho đến ngày nay.[7].

Ngày 24 tháng 11 năm 1960, Tòa Thánh thiết lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam, đồng thời nâng Giáo phận Tông tòa Hưng Hóa lên hàng Giáo phận chính tòa và đặt Giám mục Phêrô Maria Nguyễn Huy Quang làm Giám mục Chính tòa đầu tiên, thuộc Giáo tỉnh Hà Nội [1].

Theo số liệu thống kê ngày 31 tháng 12 năm 2007, giáo phận có 217.030 giáo dân (chiếm 3,15% dân số), 60 linh mục, 133 nữ tu và 33 đại chủng sinh[8].

Tổ chức điều hành giáo phận[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cai quản giáo phận: Giám mục Gioan Maria Vũ Tất
  • Giám mục phụ tá: Alfonso Nguyễn Hữu Long
  • Tổng Đại diện: Linh mục Phêrô Phùng Văn Tôn
  • Đại diện Giám mục tại tỉnh Phú Thọ: Linh mục Antôn Nguyễn Gia Nhang

Các Ủy ban[9]:

  • Ủy ban Bác ái Xã hội
  • Ủy ban Giáo dân
  • Ủy ban Giáo lý Đức tin
  • Ủy ban Giáo sĩ và Chủng sinh
  • Ủy ban Loan báo Tin Mừng
  • Ủy ban Phụng tự
  • Ủy ban Thánh nhạc và Nghệ thuật Thánh
  • Ủy ban Tu sĩ
  • Ủy ban Văn hoá
  • Phụ trách thông tin

Giáo phận có 7 giáo hạt, 94 giáo xứ trong đó [10]:

Các danh địa trong giáo phận[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà thờ Chánh tòa và Tòa Giám mục[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà thờ xứ Sơn Lộc (Tông), thuộc phường Trung Sơn Trầm, thị xã Sơn Tây, Hà Nội, là nhà thờ Chính tòa của giáo phận. Nhà thờ có kiến trúc tương đối rộng lớn, kiên cố nhất giáo phận [11].

Địa chỉ tòa Giám mục Hưng Hóa tại số 5 đường Lê Lợi, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội [12].

Thánh địa hành hương[sửa | sửa mã nguồn]

  • Pháp trường Năm Mẫu, Gò Sói, Ðền Thánh Tử Ðạo: đều nằm chung quanh thị xã Sơn Tây[11]. Đài "Kính Đấng Tây Nam Tử vì đạo Thiên Chúa", xây dựng vào năm 1940 ngay trên bãi Năm Mẫu là nơi xưa kia triều đình chém đầu các vị thánh tử đạo Hưng Hóa, gồm linh mục Schoeffler (tên Việt: Đông) bị chém ngày 1 tháng 5 năm 1859, linh mục Cornay (tên Việt: Tân) bị chém ngày 20 tháng 9 năm 1837, Thầy giảng Phêrô Vũ Văn Truật (người Kẻ Thiệc, Sơn Tây) bị chém ngày 18 tháng 12 năm 1938...[7].
  • Ðền thánh Ðoàn Văn Vân: được xây cất trong khuôn viên nhà xứ Nỗ Lực, xã Thụy Vân, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
  • Ðền Thánh Phêrô Vũ Văn Truật: được xây cất tại khuôn viên nhà xứ Hà Thạch, xã Hà Thạch, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.

Các nhà thờ và tu viện lớn[sửa | sửa mã nguồn]

STT Tên Thời gian quản nhiệm Ghi chú
1 † Paul-Marie Ramond Lộc Giám mục phụ tá.png 1895-1938 Giáo phận Thượng du Bắc Kỳ
Giáo phận Hưng Hóa
2 † Gustave-Georges-Arsène Vandaele Vạn Giám mục phụ tá.png 1936-1943 Giáo phận Hưng Hóa
3 † Jean-Maria Mazé Kim Giám mục phụ tá.png 1945-1960
4 † Phêrô Maria Nguyễn Huy Quang Giám mục phụ tá.png 1960
Giám mục chính tòa.png 1960-1985
5 † Giuse Phan Thế Hinh Giám mục phụ tá.png 1976-1985
Giám mục chính tòa.png 1985-1989
6 † Giuse Nguyễn Phụng Hiểu Giám mục chính tòa.png 1990-1992
* Trống tòa 1992-2003
7 Antôn Vũ Huy Chương Giám mục chính tòa.png 2003-2011
8 Gioan Maria Vũ Tất Giám mục phụ tá.png 2010-2011
Giám mục chính tòa.png 2011-nay
9 Alfonso Nguyễn Hữu Long Giám mục phụ tá.png 2013-nay

Ghi chú:

Nhân vật Công giáo nổi bật[sửa | sửa mã nguồn]

  • Linh mục Schoeffler (tên Việt: Đông)
  • Linh mục Cornay (tên Việt: Tân)
  • Thầy giảng Phêrô Vũ Văn Truật
  • Thầy giảng Phêrô Ðoàn Văn Vân

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]