Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng
Giám mục giáo phận Bắc Ninh (1964-1994)
Tổng Giám mục chính tòa Hà Nội (1994-2003)
Giáo hội Công giáo Rôma
Giáo tỉnh Hà Nội
Tổng giáo phận Hà Nội
Bổ nhiệm Giáo hoàng Phaolô VI
Hết nhiệm 2003
Tiền nhiệm Giuse Maria Trịnh Văn Căn
Thụ phong 6 tháng 6, 1949
Tấn phong 15 tháng 8, 1963
Thăng hồng y 26 tháng 11, 1994
Các chức khác Hồng y đẳng linh mục Nhà thờ Santa Maria Regina Pacis in Ostia mare
Thông tin cá nhân
Sinh 20 tháng 5, 1919
Yên Mô, Phát Diệm
Mất 22 tháng 2, 2009 (89 tuổi)
Hà Nội
Nơi an táng Nhà thờ chính tòa Hà Nội
Quốc tịch Việt Nam, Rôma
Coat of arms of Paul Joseph Pham Dinh Tung.svg

Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng (19192009) là một hồng y Công giáo người Việt thứ ba sau hồng y Giuse Maria Trịnh Như KhuêGiuse Maria Trịnh Văn Căn.

Cuộc đời đạo nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 20 tháng 5 năm 1919 trong một gia đình Công giáo tại thôn Cầu Mễ, xã Yên Thắng, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình, thuộc giáo xứ Quảng Nạp, Giáo phận Phát Diệm.[1]. Song thân của ông là cụ Phêrô Phạm Văn Hiến và cụ Anna Nguyễn Thị Bống.

Năm 1925, ông bắt đầu đi học tiểu học tại trường làng. Năm 1927, ông được cha nuôi là Linh mục Phêrô Phạm Bá Trực đưa lên học tại giáo xứ Kẻ Sét, Hà Nội.

Năm 1929 ông được gia nhập Trường Tập Hà Nội. Năm 1931, ông thi đậu bằng sơ học yếu lược và được tuyển vào Tiểu Chủng viện Hoàng Nguyên, Hà Đông. Sau khi tốt nghiệp Tiểu Chủng viện năm 1939, ông được cử đi phục vụ tại giáo xứ Xuy Xá, thuộc huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Đông.

Năm 1940, ông theo học tại Đại Chủng viện Liễu Giai, Hà Nội. Năm 1942, ông được phân về phục vụ tại giáo xứ Khoan Vĩ, thuộc huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, là nơi Linh mục Phêrô Phạm Bá Trực đang làm linh mục chánh xứ. Đến năm 1943, ông lại tiếp tục trở về Đại chủng viện tiếp tục tu học.

Năm 1945, Cách mạng tháng 8 nổ ra, ông nghỉ học do đại chủng viện Liễu Giai tạm ngưng hoạt động. Tháng 9 năm 1946, Đại Chủng viện Liễu Giai tái mở cửa, ông lại trở về Chủng viện học tập. Tuy nhiên, chỉ 3 tháng sau, ngày 19 tháng 12 năm 1946, chiến tranh bùng nổ, Đại Chủng viện bị quân Pháp trưng dụng, một lần nữa phải ngưng hoạt động.

Mãi đến năm 1948, ông tiếp tục học để hoàn tất chương trình thần học tại Học viện Dòng Chúa Cứu Thế tại Thái Hà, Hà Nội[1]. Một năm sau, Đại Chủng viện Hà Nội mới được thành lập lại ở số 40 Nhà Chung, ông chuyển về học tại đây.

Ngày 6 tháng 6 năm 1949, ông được thụ phong chức Linh mục tại Nhà thờ chính tòa Hà Nội và được cử về làm Tuyên úy Cô nhi viện Têrêsa tại Quần Ngựa, do linh mục người Pháp là Paul Seitz[2] làm giám đốc.

Năm 1950, ông được bổ nhiệm làm phó xứ Hàm Long, Hà Nội. Ngày 18 tháng 4 năm đó, ông được cử làm Chánh xứ thay cho tân Giám mục Giuse Maria Trịnh Như Khuê lên nhậm chức Giám mục Tông tòa Giáo phận Hà Nội.

Năm 1953, ông thành lập nhà tế bần Bạch Mai nhằm cứu giúp các nạn nhân chiến tranh nghèo khổ từ các vùng nông thôn trôi dạt về Hà Nội

Năm 1955, ông được bổ nhiệm làm giám đốc Tiểu Chủng viện Thánh Gioan Hà Nội – một tiểu chủng viện liên giáo phận với khoảng hơn 200 chủng sinh thuộc hầu hết các giáo phận ở Miền Bắc lúc bấy giờ.[1]

Năm 1960, vì muốn bảo vệ sự độc lập của giáo hội Công giáo trong lãnh vực đào tạo giáo sĩ, ông đã cùng các đấng hữu trách quyết định cho các chủng sinh về lại các giáo phận của mình, chấp nhận giải tán tiểu chủng viện.

Năm 1963, ông sáng lập tu hội Đức Mẹ Hiệp nhất. Cũng năm này ông được Tòa Thánh bổ nhiệm làm Giám mục chính tòa Giáo phận Bắc Ninh vào ngày 5 tháng 4 năm 1963 và được tấn phong Giám mục tại Nhà thờ chính tòa Hà Nội ngày 15 tháng 8 năm 1963, do Giám mục Giuse Maria Trịnh Như Khuê làm chủ phong. Khẩu hiệu Giám mục của ông là "Tôi tin vào tình yêu Thiên Chúa".

Ngày 5 tháng 7 năm 1990, ông được Tòa Thánh bổ nhiệm làm giám quản Tông tòa Giáo phận Hà Nội, kiêm chức Giám đốc Đại Chủng viện Hà Nội. Đến ngày 13 tháng 4 năm 1994, ông chính thức được Tòa Thánh bổ nhiệm làm Tổng Giám mục Hà Nội[1]. Đến ngày 26 tháng 11 năm 1994, ông được Giáo hoàng Gioan Phaolô II phong làm Hồng y linh mục nhà thờ Santa Maria "Regina Pacis" in Ostia mare[3] và trở thành vị Hồng y người Việt thứ ba được vinh thăng. Năm 1995, với tư cách là giáo sĩ cao cấp nhất tại Việt Nam, ông được bầu làm chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam và giữ chức vụ này trong 6 năm.

Ông đã ra sức tái thiết Đại Chủng viện Hà Nội, tìm cách đối thoại với chính quyền để Giáo hội được độc lập và tự chủ hơn trong việc tuyển chọn chủng sinh, đưa các linh mục thụ phong bí mật trước đây được công nhận công khai, xúc tiến mối liên hệ giữa Toà Thánh và chính quyền Việt Nam[1]. Năm 1996, ông sáng lập tu hội Anh em Nhà Chúa, nay là Tu đoàn truyền tin Hà Nội[3]. Ngày 13 tháng 8 năm 1998, ông làm đại sứ cho giáo hoàng tại Đại hội Thánh Mẫu La Vang[3]. Cùng trong năm này, ông được cử kiêm chức Giám quản Tông tòa Giáo phận Lạng Sơn và Cao Bằng trong 1 năm.

Ngày 15 tháng 6 năm 1999, ông mất quyền tham gia Mật nghị Hồng y do đã quá tuổi quy định[3].

Năm 2003, ông được Toà Thánh chấp thuận cho nghỉ hưu ở tuổi 84 tại tòa Giám mục Hà Nội. Ngày 7 tháng 5 trao quyền cai quản Tổng giáo phận Hà Nội cho tổng Giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt.[3]

Ngày 25 tháng 1 năm 2008 đã diễn ra lễ mừng thọ 90 tuổi, 60 năm linh mục và 40 năm Giám mục cho hồng y Phạm Đình Tụng tại nhà thờ lớn Hà Nội dưới sự chủ trì của hồng y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn.[4] Sau thánh lễ này đã xảy ra những tranh chấp liên quan đến khu đất 42 Nhà Chung.[5]

Ông qua đời vào ngày 22 tháng 2 năm 2009, thọ 90 tuổi.[6]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c “ĐHY Phạm Đình Tụng - Chứng nhân lịch sử của thời đại chúng ta”. Cộng đồng công giáo Việt Nam ở Nauy. Truy cập 24 tháng 8.  Đã bỏ qua tham số không rõ |accessyear= (trợ giúp)
  2. ^ Về sau được thăng Giám mục.
  3. ^ a ă â b c “ĐHY Phạm Đình Tụng”. Giáo hội công giáo. Truy cập 24 tháng 8.  Đã bỏ qua tham số không rõ |accessyear= (trợ giúp)
  4. ^ “Thánh lễ mừng ĐHY Phạm Đình Tụng”. Báo biên phòng. Truy cập 24 tháng 8.  Đã bỏ qua tham số không rõ |accessyear= (trợ giúp)
  5. ^ “Chấm dứt hành vi vi phạm pl”. Thư viện pháp luận. Truy cập 24 tháng 8.  Đã bỏ qua tham số không rõ |accessyear= (trợ giúp)
  6. ^ “Hồng y Phạm Đình Tụng qua đời”. BBC Tiếng Việt. 22 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2009. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Cảnh báo: Từ khóa xếp mặc định “Pham Dinh Tung, Paul Joseph” ghi đè từ khóa trước, “Phạm Đình Tụng”.